Bài ca không quên (Phạm Minh Tuấn)

Cũng viết về đề tài chiến tranh, người lính, quê hương, thân phận,… nhưng hầu hết những sáng tác của nhạc sỹ Phạm Minh Tuấn đều mang hơi thở yêu thương, hòa bình và khát vọng cho một Việt Nam thống nhất. Chúng ta không thấy (hoặc rất hiếm) những lời ca ngợi sáo rỗng hay khoét sâu vào lòng thù hận. Ông sáng tác từ trước 1975 nhưng những ca khúc ông viết sau này mới thật sự là những tác phẩm để đời, mang đậm dấu ấn Phạm Minh Tuấn. Hôm nay Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bản “Bài ca không quên”, bài hát ông sáng tác vào những năm 1981-1982 cho bộ phim điện ảnh cùng tên.

Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn nơi vườn rau nhà mình. Ảnh: cand.com.vn

Lời bài hát ‘Bài ca không quên’

(Nguồn: tkaraoke.com)

Đừng Nói Xa Nhau (Châu Kỳ – Hồ Đình Phương)

Ở trang trong của tờ nhạc “Con đường xưa em đi” xuất bản trước 1975, tác giả và nhà xuất bản đã giới thiệu bản tiếp tối “Con đường 2” tức nhạc phẩm “Đừng nói xa nhau” cũng của Châu Kỳ & Hồ Đình Phương. Hôm nay tiếp tục dòng nhạc Châu Kỳ – Hồ Đình Phương, Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu “Đừng nói xa nhau” qua tiếng hát của cặp song ca Chế Linh – Thanh Tuyền với bản ghi âm trước 1975. Quan sát ngày xuất bản thì bản này ra mắt công chúng năm 1970, tức một năm sau “Con đường xưa em đi”.

Đừng nói xa nhau (Châu Kỳ – Hồ Đình Phương). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

.

​Đi tìm đôi mắt người Sơn Tây

Dòng Nhạc Xưa đã có một bài viết về bản “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhạc sỹ Phạm Đình Chương lấy ý thơ từ hai bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” và “Đôi bờ” của thi sỹ Quang Dũng. Thế nhưng chúng tôi vẫn cứ tự hỏi cơ duyên nào mà Quang Dũng trong thời kháng chiến có thể cho ra những áng thơ trác tuyệt như vậy. Nhân đọc được một bài viết có giá trị của tác giả Quốc Việt đăng trên Tuổi Trẻ Xuân 2017, Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu cho người yêu thơ nhạc xa gần.

 

Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương – Quang Dũng). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương – Quang Dũng). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

​Đi tìm đôi mắt người Sơn Tây

(Nguồn: bài viết của tác giả  Quốc Việt đăng trên tuoitre.vn ngày 2017-01-30)

Từ “Nhà tôi” (Yên Thao) đến “Chuyện giàn thiên lý” (Anh Bằng)

Từ bài thơ “Nhà tôi” của thi sỹ Yên Thao sáng tác năm 1949 cho đến bản nhạc “Chuyện giàn thiên lý” do nhạc sỹ Anh Bằng phổ nhạc độ đầu thập niên 1990 là một khoảng thời gian dài gần nửa thế kỷ với bao biến động của thời cuộc. Trên tinh thần lưu lại tư liệu, [dongnhacxua.com] xin trích dẫn thêm vài thông tin cho quý vị xa gần tham khảo.

Nhà thơ Yên Thao. Ảnh: nhà văn Triệu Xuân.
Nhà thơ Yên Thao. Ảnh: nhà văn Triệu Xuân.

Nhạc sỹ Hoàng Trọng: Những bản nhạc phim

Nhạc sỹ Hoàng Trọng (1922 – 1998) là một trong những nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của nền tân nhạc Việt Nam. Đã có quá nhiều bài viết về “vua tango” Hoàng Trọng. Hôm nay [dongnhacxua.com] chỉ xin đế cập đến những sáng tác cho phim ảnh của nhà nhạc sỹ.

Nhạc sỹ Hoàng Trọng & Ban nhạc Tiếng Tơ Đồng. Ảnh: CoThomMagazine.com

Nhạc sỹ Hoàng Trọng & Ban nhạc Tiếng Tơ Đồng. Ảnh: CoThomMagazine.com

Chiều Qua Tuy Hòa (Nguyễn Đức Quang)

Trong một bài viết về bản “Anh còn nợ em” mà nhạc sỹ Anh Bằng đã phổ theo ý thơ của nhà thơ Phạm Thành Tài, [dongnhacxua.com] có nhắc đến địa danh Tuy Hòa. Có nhiều bạn bè xa gần liên hệ với chúng tôi để tìm hiểu thêm vì thật sự với họ hai tiếng “Tuy Hòa” hãy còn xa lạ. Hôm nay, để cho người yêu nhạc xưa biết rõ thêm về thành phố Tuy Hòa (nay thuộc tỉnh Phú Yên), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bản “Chiều qua Tuy Hòa” của cố nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang. Theo tờ nhạc mà chúng tôi sưu tầm được, nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang sáng tác bản này tại Nha Trang năm 1968. Nha Trang là thành phố nằm ở phía nam, cách Tuy Hòa chừng 100 km. Có lẽ bước chân du ca của Nguyễn Đức Quang khi đi qua Tuy Hòa đã chứng kiến quá nhiều cảnh đau thương của Mậu Thân 1968 nên ông đã cảm tác sáng tác bản này khi vừa đến Nha Trang.

Chiều qua Tuy Hòa (Nguyễn Đức Quang). Ảnh: CoThomMagazine.com
Chiều qua Tuy Hòa (Nguyễn Đức Quang). Ảnh: CoThomMagazine.com

Năm Cụm Núi Quê Hương (Minh Kỳ – Tường Linh)

Tiếp tục dòng nhạc về các vùng miền quê hương, [dongnhacxua.com] xin giới thiệu hình ảnh năm cụm núi Ngũ Hành Sơn ở xứ Quảng Nam – Đà Nẵng qua bản nhạc “Năm cụm núi quê hương” của Minh Kỳ, theo ý thơ của nhà thơ Tường Linh.

Từ trên đỉnh Thủy Sơn, nhìn thấy một phần phong cảnh Ngũ Hành Sơn. Ảnh: wikipedia
Từ trên đỉnh Thủy Sơn, nhìn thấy một phần phong cảnh Ngũ Hành Sơn. Ảnh: wikipedia

“LƯỚT QUA” THƠ TƯỜNG LINH
(Nguồn: BaoQuangNam.com.vn)

Không hiểu sao, mỗi khi nghĩ về thơ Tường Linh, tôi thường nhớ bài thơ “Nhớ hai miền Huế – Quảng” trong mấy câu thơ: Quê hương tôi bên ni đèo Hải/ Nhấp nhô bóng thuyền Cửa Đại/ Già nua nếp phố Hội An…/ Đêm Đà Nẵng vọng về cơn sóng biển/ Bún Chợ Chùa thương nước mắm Nam Ô. Và. lại nhớ. Khổ thơ cuối của bài “Ngọn đèn”: Còn nguyên vẹn những đêm dài thao thức/ tựa bao lơn, anh ngắm chấm đèn xưa/ đóm sáng nhỏ hay mắt sầu rưng rức/ không gian buồn như có rắc tơ mưa. Cả hai bài thơ đều được viết vào năm 1958, khi mà quê nhà Quảng Nam đã trở thành niềm thương dằng dặc của nỗi “không về”.

Một Người Đi (Mai Châu)

Sân ga và con tàu từ rất lâu đã đi vào dòng nhạc xưa như là những hình ảnh mang tính biểu trưng cho sự chia ly. Trong số những nhạc phẩm ấy, cá nhân [dongnhacxua.com] đặc biệt yêu thích bản “Một người đi”. Sau này khi có thời gian tìm hiểu thêm, chúng tôi mới đó là sáng tác của nhạc sỹ Mai Châu, cũng chính là phu quân của ca sỹ Hoàng Oanh nổi tiếng. Nhân dịp này xin gởi lời chúc sức khỏe và an lành đến gia đình cô Hoàng Oanh – nhạc sỹ Mai Châu và gởi đến người yêu nhạc bài hát này.

Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy (Trầm Tử Thiêng)

Trưa nay, 20.03.2016, cầu Ghềnh ở thành phố Biên Hòa bị sập. Nhiều người bị rơi xuống sông, hàng trăm hành khách đường sắt bị điêu đứng. [dongnhacxua.com] xin gởi lời chia buồn đến các gia đình nạn nhân và mong những tổn thất nếu có sẽ được hạn chế tối đa.

Nhân sự kiện này, chúng tôi chợt nhớ đến biến cố Mậu Thân 1968. Khi đó, cầu Trường Tiền ở Huế (có lẽ cũng được Pháp xây dựng cùng thời với cầu Ghềnh) cũng bị gãy. Cũng bao nhiêu người dân vô tội bị chết, bao gia đình tan nát, điêu linh. Thời chiến cũng như thời bình, dù cố tình hay vô tình, thì người dân vô tội vẫn phải gánh chịu hậu quả không lường. Một lần nữa, [dongnhacxua.com] cầu mong mọi điều tốt lành nhất cho các nạn nhân và mong những người có thẩm quyền hành động vì lợi ích của người dân, của dân tộc để nước Việt mình không phải hứng chịu những thảm họa mà cố nhạc sỹ Trầm Tử Thiêng phải đau buồn thốt lên trong nhạc phẩm “Chuyện một chiếc cầu đã gãy”

Ảnh: vietstamp.net
Ảnh: vietstamp.net

CẦU TRƯỜNG TIỀN
(Nguồn: wikipedia)

Cầu Trường Tiền còn được gọi là Cầu Tràng Tiền [1], là chiếc cầu dài 402,60 m, gồm 6 nhịp dầm thép hình vành lược, khẩu độ mỗi nhịp 67 m. Khổ cầu 6 m [2], được thiết kế theo kiến trúc Gô tích, bắc qua sông Hương. Đầu cầu phía bắc thuộc phường Phú Hòa, đầu cầu phía nam thuộc phường Phú Hội; ở ngay giữa thành phố Huế thuộc Việt Nam.

Cầu Trường Tiền bên nhành phượng vĩ, sáng mùa hè 2007. Ảnh: wikipedia
Cầu Trường Tiền bên nhành phượng vĩ, sáng mùa hè 2007. Ảnh: wikipedia

Căn cứ bài thơ “Thuận Hóa thành tức sự” của nhà thơ Thái Thuận [3], thi sĩ Quách Tấn đã cho rằng dưới thời vua Lê Thánh Tôn, sông Hương đã có cầu. Chiếc cầu đó, được làm bằng song mây bó chặt lại với nhau và nối liền nhau, nên có tên là cầu Mây. Vì cầu có hình cái mống úp lên sông, nên còn có tên là cầu Mống [4]. Trải bao năm tháng, không biết khi nào, cầu Mống được làm lại bằng gỗ, mặt cầu lát bằng ván gỗ lim.

Năm Thành Thái thứ 9 (1897), chiếc cầu trên được nhà cầm quyền Pháp (khi ấy Khâm sứ Trung Kỳ là Levécque) giao cho hãng Eiffel (Pháp) thiết kế (do Gustave Eiffel thiết kế) và khởi công xây dựng lại bằng sắt, đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành và được mang tên vị vua này [5]. Tổng cộng tiền xây cầu Thành Thái tiêu tốn hết khoảng 400 triệu đồng bạc Đông Dương, là một số tiền lớn vào thời đó [6]. Tổng chiều dài cây cầu lúc bấy giờ là 401,10 m, rộng 6,20 m, gồm 6 nhịp dầm thép hình vành lược (hay hình bán nguyệt); và hình dáng đó về cơ bản được giữ nguyên cho tới ngày nay.

Năm Giáp Thìn (1904), bão lớn làm cầu hư hỏng nặng. Hai năm sau, tức năm Thành Thái thứ 18 (1906)[7], chiếc cầu mới được tu sửa lại, và mặt cầu được đúc bằng bê tông cốt thép.
Năm 1907, khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, thì chính quyền thực dân Pháp cho đổi tên là cầu Clémenceau, theo tên của Georges Clemenceau, một Thủ tướng Pháp thời Thế chiến thứ nhất.

Năm 1937, dưới triều vua Bảo Đại, cầu Trường Tiền được trùng tu, cải tạo lớn. Cầu được mở rộng hành lang hai bên cho xe đạp và người đi bộ. Ở hành lang tại vị trí trụ cầu giữa 2 vài có các bao lơn (ban công) phình rộng ra – là nơi nghỉ chân, ngắm cảnh hay tránh nhau.

Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng.

Năm 1946, trong chiến tranh Việt – Pháp, cầu bị Việt Minh đặt mìn, giật sập hai nhịp phía tả ngạn. Hai năm sau cầu được tu sửa tạm để qua lại.

Năm 1953, cầu được sửa chữa hoàn chỉnh như cũ.

Trong Sự kiện Tết Mậu Thân, trụ 3 và nhịp 4 bị phá hủy [8], khi quân Mặt trận Giải phóng miền Nam cho giật sập để cắt đường phản công của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sau đó, một chiếc cầu phao được dựng tạm lên bên cạnh để nối đôi bờ; rồi cầu được tu sửa tạm thời.

Cầu nổi do đội công binh Quân đội Hoa Kỳ bắc qua sông Hương sau khi cầu Trường Tiền bị giật sập. Ảnh: wikipedia
Cầu nổi do đội công binh Quân đội Hoa Kỳ bắc qua sông Hương sau khi cầu Trường Tiền bị giật sập. Ảnh: wikipedia

Sau khi kết thúc chiến tranh (1975) cầu được đổi tên thành “Tràng Tiền”.

Mãi tới năm 1991 cầu Tràng Tiền mới được khôi phục, trùng tu lần nữa. Ở lần trùng tu này do Công ty Cầu 1 Thăng Long đảm nhiệm, kéo dài trong 5 năm (1991-1995), có nhiều thay đổi quan trọng, đó là việc dỡ bỏ các ban công ở hành lang hai bên tại vị trí các trụ cầu, lòng cầu (cả đường chính và phụ) bị hẹp lại do phải nẹp thêm hai ống lan can, màu sơn ghi xám thay cho màu nguyên bản từ xưa của cầu là màu nhũ bạc,…[9].

Từ Festival Huế năm 2002, cầu Tràng Tiền được lắp đặt một hệ thống chiếu sáng đổi màu hiện đại… và đến năm 2004 cầu lại 1 lần nữa được đổi tên là Trường Tiền

 [footer]

Đồi Thông Hai Mộ (Hồng Vân)

Trong một bài viết về bản “Người ấy” của nhạc sỹ Trần Quý, tức Hồng Vân, chúng tôi có nhắc đến sáng tác có lẽ là nổi tiếng nhất của ông: “Đồi thông hai mộ”. Hôm nay, để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin, chúng tôi xin giới thiệu bản nhạc này.
[dongnhacxua.com] không có nguồn tư liệu chính xác về thực hư của câu chuyện tình buồn “Đồi thông hai mộ” nhưng nếu đúng như truyền thuyết kể lại thì chúng tôi cầu mong linh hồn của hai nhân vật sẽ được an lạc nơi chốn vĩnh hằng “như lời xưa thề ước”!

Đồi thông hai mộ (Hồng Vân). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Đồi thông hai mộ (Hồng Vân). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

doi-thong-hai-mo--1--hong-van--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com doi-thong-hai-mo--2--hong-van--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

ĐÔI NÉT VỀ CÂU CHUYỆN “ĐỒI THÔNG HAI MỘ”
(Nguồn: wikipedia.org)

Cổng vào Đồi Thông Hai Mộ.
Cổng vào Đồi Thông Hai Mộ.

Thắng cảnh Đồi thông hai mộ thường được gắn với những câu chuyện ly kì, tuy nhiên có một câu chuyện được cho là trung thực nhất kể rằng: chàng tên Vũ Minh Tâm, nàng tên Lê Thị Thảo. Chàng quê ở Gò Công, Tiền Giang, sinh trong một gia đình đại điền chủ giàu có, là sinh viên Trường Võ bị Đà Lạt. Nàng:

        “… năm ấy khi tuổi vừa đôi chín
        Tâm hồn đang trắng trong
        Như chim non khi ăn còn chưa no
        Khi co còn chưa ấm”

Họ gặp nhau tâm đầu ý hợp, yêu nhau tha thiết và thề non hẹn biển. Tốt nghiệp, chàng về xin cha mẹ trầu cau cưới hỏi… nhưng bị gia đình phản đối kịch liệt vì gia đình nàng không “môn đăng hộ đối” và bắt đi cưới người con gái mà chàng không hề yêu. Chàng đã xin chuyển đến một vùng tuyến đầu lửa đạn để tìm quên… Và rồi, nàng nhận được tin báo tử của chàng từ chiến trường. Đau khổ tột cùng:

        “nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi
        trang điểm qua màu phấn
        Để phai úa đến tàn cả hương sắc
        tháng ngày luôn héo hon”

Sau đó, nàng tìm đến khu đồi thông bên bờ hồ Sương Mai (sau tình sử này được gọi là hồ Than Thở), nơi hai người xưa kia từng hò hẹn, tự vẫn chết vào ngày 15 tháng 3 năm 1956. Thuận theo nguyện vọng, gia đình đã chôn cất nàng ngay dưới khu đồi thông. Nhưng thật ra người ta đã nhầm khi báo tử, chàng không tử trận và đang trở về thăm nàng. Hay tin nàng chết, Tâm tìm đến mộ nàng vật vã khóc than, sau đó cũng tự tử chết theo để giữ trọn lời thề[6]. Trước khi chết, chàng để lại bức thư tuyệt mệnh với mong ước được yên nghỉ bên cạnh mộ nàng để hai người mãi mãi được gần nhau. Và:

        “… mộ chàng đã được ở cạnh nàng
        Như lời xưa thề ước
        Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc
        dưới mộ sâu đất khô
        Qua bao năm rêu xanh phủ che kín…”

Hai ngôi mộ trên đồi thông.
Hai ngôi mộ trên đồi thông.

Tuy nhiên, sau năm 1975, do tuổi cao sức yếu, không thể thường xuyên lên thăm mộ con, cha mẹ chàng đã cho bốc mộ anh đưa về quê. Dù hài cốt chàng đã được dời đi nhưng cảm thương mối tình của hai người, người thân của nàng vẫn để ngôi mộ đôi. Và sau này ngôi mộ được tôn tạo khang trang lại, trở thành điểm tham quan du lịch độc đáo như hiện nay.

Nhân dịp Festival hoa Đà Lạt 2012, Ban tổ chức đã cho trồng toàn hoa tím chung quanh khu mộ.

[footer]