Nhạc sỹ Đỗ Kim Bảng

Khi nói về những bản nhạc lấy cảm hứng từ mưa, chúng ta không thể không nhắc đến “Mưa đêm ngoại ô” của nhạc sỹ Đỗ Kim Bảng. Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu đôi nét về người nhạc sỹ dễ tính này, qua một bài viết của cố ký giả – nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & đời sống”.

Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Đỗ Kim Bảng và những sự tình cờ

(Nguồn: bài viết của tác giả Trường Kỳ đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2014-09-01)

Bây giờ thì những buổi chiều Chủ Nhật cũng như Thứ Bảy hoặc bất cứ buổi chiều nào khác trong tuần đối với nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả của nhạc phẩm nổi tiếng “Bước Chân Chiều Chủ Nhật”, cũng chẳng khác gì nhau.

Hoàng Lan & Trịnh Công Sơn: Em đến bên đời

Rất nhiều trong số khoảng 500 ca khúc của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn được nhà nhạc sỹ viết từ rung cảm thật của con tim. Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu một giai thoại ít được biết đến về hai bản ‘Hoa vàng mấy độ’ và ‘Như một lời chia tay’, qua một bài viết của cố nhạc sỹ – ký giả Trường Kỳ.

Bản ‘Hoa vàng mấy độ’. Ảnh: thugiang.wordpress.com

Hoàng Lan: Đóa “hoa vàng một thuở” của Trịnh Công Sơn

(Nguồn: bài viết của tác giả Trường Kỳ đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2013-11-10)

Hầu như mọi người đều biết, không ít những bản tình ca của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thường được anh sáng tác từ những cảm xúc dành riêng cho một đối tượng trong đời sống tình cảm đầy lãng mạn của mình. Trong số đó, “Hoa Vàng Mấy Độ” và “Như Một Lần Chia Tay”, cho đến nay vẫn được nhiều người yêu thích nhạc Trịnh tìm hiểu về xuất xứ.

Hơn 3 năm sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, những thắc mắc về hai nhạc phẩm trên đã được giải đáp rõ ràng khi CD “Hoa Vàng Một Thuở” được chính thức ra mắt tại Toronto cách đây vài tháng. Người trình bày hai nhạc phẩm này (cùng một số nhạc phẩm của những tác giả khác) cũng là người thực hiện CD “Hoa Vàng Một Thuở” mang tên Hoàng Lan. Cô chính là nguồn cảm hứng để Trịnh Công Sơn viết thành hai ca khúc tình cảm bất hủ đó.

Hoàng Lan

Phạm Thị Hoàng Lan sinh tại Sài Gòn và là con út trong một gia đình gồm 6 người con, trong số có một người mất sớm.

Tiếng hát Chế Linh

Được mệnh danh là một trong “tứ trụ nhạc vàng” (cùng với Duy Khánh, Hùng Cường và Nhật Trường), Chế Linh, với chất giọng thật lạ và phong cách biểu diễn tự nhiên, đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong dòng nhạc Việt. Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu tiếng hát của người ca sỹ gốc người Chàm, qua một bài của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & đời sống” .

Chế Linh: Một thời “hiện tượng”

(Nguồn: bài viết của tác giả Trường Kỳ đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2013-10-28)

Chế Linh, người ca sĩ từng có một thời được coi như một hiện tượng trong dòng nhạc Boléro mà theo ngôn ngữ bình dân mộc mạc gọi là nhạc sến. Nhạc Sến ở đây phải được hiểu một cách đứng đắn là dòng nhạc mang tính cách phổ thông, được phổ biến rất lớn rộng trong quần chúng, khi thì mặn nồng nàn tình cảm với những cuộc tình đôi lứa, khi thì đậm đà tình tự quê hương với những tâm bình bình dị chân chất, như tâm hồn của những người dân Việt binh thường. Đó là thời điểm những năm 60-70, khi nền tân nhạc Việt Nam đang trong thời kỳ bộc phát mạnh mẽ.

Công Thành & Lynn: một cặp nghệ sỹ đa tài

Trong sinh hoạt nhạc trẻ trước 1975 và nhất là tại hải ngoại sau này, Công Thành đã để lại những dấu ấn khó phai mờ về khả năng ca hát cũng như MC và tổ chức biểu diễn. Dòng Nhạc Xưa xin đăng một bài viết của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & Đời sống” để giới thiệu đôi song ca và cũng là cặp vợ chồng nổi tiếng: Công Thành và Lynn.

Công Thành: Khởi nguồn từ nhạc rock…

(Nguồn: bài viết của tác giả Trường Kỳ đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2013-11-16)

Có một dạo vai trò MC đã lấn át vai trò chính của anh là một ca sĩ. Đó là trường hợp của Công Thành, một nam ca sĩ có một quá trình hoạt động rất lâu dài, bắt nguồn từ những năm đầu của thập niên 60, khi nhạc Rock gây một ảnh hưởng rất lớn mạnh nơi giới trẻ. Ngoài một quá trình gần gũi với ca nhạc, với lãnh vực “show business”, Công Thành còn là một tiếng hát đa dạng trong phần trình bày những nhạc phẩm Pháp, Anh và Việt Nam rất vững vàng.

Ngoài ra, anh còn là ca sĩ Việt Nam duy nhất đã có dịp trình diễn với những ban nhạc ngoại quốc tại khắp các thành phố lớn ở Úc Châu cũng như tại hầu hết những quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Chính do những chi tiết đặc biệt như vậy nên thiết tưởng việc dành cho Công Thành một bài viết đề cập đến những hoạt động của anh là một điều cần thiết.

Anh Ngọc: Giọng ca của một bậc tiền bối

Sinh năm 1925, có thể nói không ngoa rằng ca sỹ Anh Ngọc là giọng ca lão thành nhất tính đến thời điểm hiện tại của nền tân nhạc Việt Nam. Dòng Nhạc Xưa xin mượn một bài viết của cố ký giả – nhạc sỹ Trường Kỳ để trân trọng giới thiệu Anh Ngọc – tiếng hát vượt thời gian.

Anh Ngọc: Một đời để sống và một thời để hát

(Nguồn: bài viết đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2013-10-28)

Trường Kỳ

Với số tuổi gần 80, người ta có thể coi ông như người nam ca sĩ cuối cùng trong thành phần những ca sĩ đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam còn xuất hiện trên sân khấu những ngày gần đây. Có người còn gọi đùa ông là “The Last Samurai”, người hiệp sĩ cuối cùng trong số những hiệp sĩ tiền phong của trên nửa thế kỷ tân nhạc mà vũ khí là giọng hát từng chinh phục cảm tình của khán thính giả Việt Nam trong hai thập niên 50 và 60.

Trong lần tiếp xúc gần đây với người viết, Anh Ngọc cho biết ông có ý định giã từ sân khấu đã lâu, từ khi bước vào lớp tuổi 70. Nhưng mãi cho đến đầu năm 2004 vừa qua, ông mới thực hiện được ý định đó, sau khi xuất hiện trong hai chương trình nhạc thính phòng mang mục đích từ thiện tại San Jose và Orange County ở California mà ông “nghĩ là đó là những buổi trình diễn cuối cùng trong cuộc đời ca hát của tôi” mặc dù bạn hữu cũng như đồng nghiệp của ông cho rằng ông vẫn có thể hát được để trân trọng mời ông xuất hiện.

Tùng Giang (1940-2009): Một Nghệ Sỹ Đa tài

Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu vài thông tin sưu tầm được để chúng ta thấy ngoài Tùng Giang nhạc sỹ, ông còn là một tay trống có hạng, ca sỹ nhạc trẻ, nhà tổ chức và sản xuất âm nhạc.

Tùng Giang và Bạn Hữu: “Họp Mặt Hoàng Hôn”

(Nguồn: bài viết của nhạc sỹ Nam Lộc đăng trên trungtamasia.com ngày 2009-05-22)

Kỳ Phát đang trao tấm plaque cho Tùng Giang. Bên cạnh là Nam Lộc, Giáng Ngọc, Derek Phạm và Cung Mi. Ảnh: TrungTamAsia.com

Đôi nét về Billy Shane

Trong những bài viết về ban nhạc Strawberry Four, Dòng Nhạc Xưa đã đôi lần nhắc đến một cái tên rất “Tây” là Billy Shane. Thế nhưng ông là ai và đã có những ảnh hưởng gì đến dòng nhạc trẻ của Việt Nam? Xin mời quý vị yêu nhạc tìm hiểu đôi nét về ca sỹ rất đặc biệt này qua một bài viết của ký giả, nhạc sỹ Trường Kỳ đăng trong mục “Nghệ sỹ & đời sống” trên đài VOA.

Ban nhạc The Strawberry Four. Từ trái qua: Đức Huy, Tùng Giang (mất 2009), Tuấn Ngọc, Billy Shane (mất 1994). Ảnh: ThanhNien.vn

Billy Shane: Những điều còn nhớ được…

(Nguồn: bài viết của tác giả Trường Kỳ đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2013-11-23)

Đan Thọ (1924): Chiều Tím

Đan Thọ | Trường Kỳ | Nghệ sỹ & Đời sống || 19/03/2013 | [dongnhacxua.com] || [facebook] [googleplus]

Đan Thọ (trái) và Trường Kỳ

Nhắc đến Đan Thọ chắc hẳn chúng ta nhớ ngay đến tác phẩm bất hủ Chiều Tím. [dongnhacxua.com] xin trân trọng gởi đến quý vị yêu nhạc xưa bài viết của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong một chương trình “Nghệ sỹ & Đời sống” phát trên đài VOA Hoa Kỳ. 

Chắc chắn nhạc sĩ Đan Thọ đã lặng người đi khi nhìn thấy cây đàn vĩ cầm thân yêu được vớt lên từ căn nhà gồm 3 phòng ngủ ngập nước của ông tại New Orleans do trận bão Katrina gây nên khi vợ chồng ông được người trưởng nam là Đan Thành chở về nơi hai ông bà cư ngụ khi từ nam California về đây vào năm 1997.

Hình ảnh của một ngày trong tháng 9 năm 2005 đó thật khó phai mờ trong ký ức già nua của người nhạc sĩ đã có một quá trình họat động âm nhạc từ trên 60 năm nay. Cây kèn tenor sax hiệu Selmer mạ vàng của ông đã không được tìm thấy, nên ông đành phải ngậm ngùi bỏ lại nơi xứ sở của nhạc Jazz, là thể lọai nhạc mà ông và vài ba người bạn cùng thời đã được coi như những người tiên phong trình diễn tại vũ trường Đại Nam của Sài Gòn vào đầu thập niên 60.

Khi quay trở lại Houston là nơi hai vợ chồng ông cư ngụ hiện nay, sau khi căn nhà ở New Orleans bị tàn phá bởi trận bão Katrina, nhạc sĩ Đan Thọ đã nhờ cậy nhiều chuyên viên sửa đàn phục hồi cho ông cây vĩ cầm từng gắn bó với cả cuộc đời âm nhạc của mình.

Nhưng chuyên viên tài giỏi nhất cũng chỉ sửa sang được lại bề ngoài cây đàn từng sống với ông những giây phút thăng trầm trong thế giới âm nhạc.  Trong khi đó âm thanh của nó chẳng còn được réo rắt như xưa, cũng như tiếng nói của chủ nhân nó bây giờ cũng đã giảm đi nhiều năng lực khi tuổi đời đã tới con số 84.

Cây vĩ cầm quí giá của một đời nghệ sĩ đó giờ đây đang được trưng bầy ở một nơi trang trọng nhất trong cái apartment xinh xắn và gọn gàng có 2 phòng ngủ của cặp vợ chồng già, quấn quít bên nhau từ 63 năm nay. Mỗi lần nhìn cây vĩ cầm quen thuộc, Đan Thọ cảm thấy như cả một dĩ vãng ngày nào hiện về rõ mồn một với ông…

THỜI NIÊN THIẾU

Nhạc sĩ Đan Thọ tên thật là Đan Đình Thọ, sinh năm 1924 tại Nam Định, là nơi ông mới trở về thăm mồ mả tổ tiên và họ hàng ngoài Bắc, vào tháng 4 năm 2008.  Đây là lần thứ hai ông trở về quê hương sau lần đầu tiên vào năm 2006 để thăm gia đình và người em ruột của ông là nhạc sĩ Đan Phú, năm nay cũng đã ngoài 80, từng có thời kỳ cùng với ông cộng tác với phòng trà Bồng Lai ở Sài Gòn trong thập niên 60.

Cũng tại nơi ông sinh trưởng, trong những năm từ 1936 đến 1942, Đan Thọ theo học chữ và học nhạc tại trường Saint Thomas D’Aquin do các sư huynh thành lập, trong số có sư huynh Maurice là người hướng dẫn ông về vĩ cầm.  Ngoài ra, ông còn biết xử dụng nhiều nhạc khí khác như Hạ uy cầm và Tây ban cầm.

ĐẾN VỚI ÂM NHẠC

Qua năm 1942, ông bắt đầu theo học về hòa âm và sáng tác với các giáo sư Tạ Phước và Vũ Đình Dự cho đến năm 1945, là năm ông bắt đầu đàn violin cho phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng, cũng ở Nam Định.  Và cùng năm đó ông lập gia đình với một thiếu nữ Hà Nội mới 16 tuổi,  là người vợ đoan trang và đảm đang của ông cho tới bây giờ, qua sự giới thiệu của chính người em họ của bà mà ông quen biết trước.

Thoạt tiên, gia đình bên vợ  không bằng lòng  vì “sợ ông ấy đánh đàn rồi ông ấy hư, quen  nhiều gái“, như chính lời bà Đan Thọ kể. Nhưng sau trên 63 năm chung sống, tư cách và cuộc sống mực thước của ông đã phá vỡ được tất cả những e ngại ban đầu đối với một người nghệ sĩ, suốt đời tận tụy với âm nhạc nhưng luôn luôn giữ được vai trò người chồng và người cha gương mẫu trong gia đình…

Khi đưa ra nhận xét về người bố của mình, trưởng nam nhạc sĩ Đan Thọ là Đan Thành –một kiến trúc sư, hiện cư ngụ ở Tampa, Florida– cho biết, như mọi người cha Việt Nam thuộc thế hệ ông, nhạc sĩ Đan Thọ luôn giữ một khỏang cách rõ ràng giữa cha và con.  Vì theo nền hóa và phong tục Việt Nam thời đó vẫn còn khắc nghiệt và nghiêm minh. Nên việc trò chuyện thân mật giữa cha và con là điều hãy còn hiếm hoi.

Mặc dù là một nghệ sĩ, nhưng nhạc sĩ Đan Thọ không khuyến khích các con của ông, gồm 1 trai và 3 gái, theo con đường âm nhạc. Tất cả đều được ông dạy dỗ rất nghiêm khắc. Và ông đã từng dùng đến roi vọt đối với trưởng nam của mình, mặc dù anh đã học ở bậc trung học.

Đối với những người trong giới, Đan Thọ còn được coi là một người nghệ sĩ mẫu mực mặc dù từng lăn lộn hàng chục năm trong một môi trường có nhiều quyến rũ, nhất là đối với những người có nhiều tình cảm như ông.

Năm 1954, Đan Thọ gia nhập ban quân nhạc Đệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với các nhạc sĩ Nguyễn Túc, Nhật Bằng, Văn Phụng, Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Cầu, Nguyễn Hiền, vv… cho đến khi chia đôi Nam-Bắc vào năm 1954.

Trong thời gian phục vụ trong nhành quân nhạc, ông đã được quân nhạc trưởng Schmetzler  hướng dẫn về kèn.  Sau đó ông cùng ban quân nhạc di cư vào Nha Trang trong cùng năm 1954. Đến khi vào Sài Gòn năm 1956, Đan Thọ lại tiếp tục theo học kèn với nhạc sĩ Phi Luật Tân  Mano Umali.

Với hai nhạc khí sở trường là violin và kèn tenor sax, nhạc sĩ Đan Thọ từ khi vào Sài Gòn đã liên tục cộng tác với nhiều chương trình nhạc trên Đài Phát Thanh Tiếng Nói Quân Đội, trên đài Truyền Hình VN và tại các vũ trường cùng phòng trà ở Sài Gòn.

Ông cũng đã từng là trưởng Ban Nhạc Nhẹ Đài Phát Thanh Quân Đội trong một khoảng thời gian dài từ năm 56 đến năm 65,  gồm các nhạc sĩ nổi danh như: Xuân Tiên, Xuân Lôi, Văn Ba, Nguyễn Ích và Canh Thân.

Ban nhạc của ông có thêm một đặc điểm là được một nhạc sĩ người Philippines tên Alano Badin soạn hòa âm cho những nhạc phẩm Việt Nam thu thanh, nhờ đó đã mang lại cho người nghe những âm thanh mới lạ. Một tuần có khoảng 5 bài được soạn hòa âm như vậy và Đan Thọ đã thu thanh cũng như lưu trữ tất cả bài vở để làm tài liệu và còn giữ được cho đến nay như một kỷ niệm quí.

Cũng với những nhạc phẩm đó, ông và ban nhạc đã từng mang  đi biểu diễn ở  Bangkok vào năm 56 và Manila năm 61, gặt hái được nhiều thành công đáng kể.

NHỮNG SÁNG TÁC

Về mặt sáng tác, Đan Thọ không có một gia tài đồ sộ, mà ông chỉ cho ra đời vọn vẹn không quá 10 nhạc phẩm.  Ông chủ trương không chú trọng nhiều đến số lượng mà đặt trọng tâm vào chất lượng của từng sáng tác của mình.

Tuy nhiên giá trị của những nhạc phẩm đó đã là những đóng góp giá trị vào thế đứng vững vàng của ông trong số những nghệ sĩ có công với âm nhạc Một điểm đặc biệt cần ghi nhận quá nửa sáng tác của mình, Đan Thọ đã phổ nhạc từ thơ và mang đến cho những thi phẩm đó những nét quyến rũ bằng âm thanh và giai điệu.

Nguồn cảm hứng đến với Đan Thọ kể từ khi ông rời nơi chôn nhau cắt rốn của mình ở miền Bắc để di cư vào Nha Trang với ban quân nhạc. Nỗi nhớ nhà và một tình quê hương canh cánh bên lòng khi phải rời bỏ quê cha đất tổ đã khiến ông dâng lên một cảm xúc dạt dào để cùng với người bạn cùng phục vụ trong ban quân nhạc là Nhật Bằng viết thành hai nhạc phẩm đầu tiên là “Bóng Quê Xưa” và “Vọng Cố Đô” tại Nha Trang.  Vẫn còn mang nặng tình quê hương, một thời gian ngắn sau, Đan Thọ lại cho ra đời nhạc phẩm “Tình Quê Hương”, phổ từ một bài thơ của Phan Lạc Tiếp.

CHIỀU TÍM

Một thời gian ngắn sau khi vào đến Sài Gòn năm 1956, Đan Thọ đã trở thành nổi tiếng ngay sau khi ông phổ nhạc thành ca khúc một thi phẩm của  Đinh Hùng mang tựa đề “Chiều Tím”.  Nhạc phẩm này cho đến nay đã được rất nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ ở hải ngọai cũng như trong nước trình bầy.  Và đó cũng là nhạc phẩm đã gắn liền với tên tuổi Đan Thọ với âm điệu du dương và tình tứ đã làm say mê bất cứ ai có dịp thưởng thức.

“Chiều Tím” cũng còn có thể được coi là một trong những nhạc phẩm đặc sắc của nền tân nhạc Việt Nam. Trước khi xẩy ra biến cố tháng 4 năm 75, Đan Thọ chỉ còn viết thêm 2 nhạc phẩm nữa ở trong nước là “Mimosa Thôi Nở”, phổ thơ Nhất Tuấn và  Xa Quê Hương, sọan chung với Xuân Tiên.

HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN

Trong lãnh vực vũ trường,  Đan Thọ là một trong những nhạc sĩ kỳ cựu nhất. Trước ngày đất nước chia đôi, ông đã từng với nhạc sĩ  Nguyễn Túc trình diễn tại nhiều phòng trà ở Hà Nội.  Vừa vào đến Sài Gòn, ông đã được mời cộng tác ngay với vũ trường “Grand Monde” tức “Đại Thế Giới”.  Năm 57 ông qua vũ trường Đại Nam cộng tác với ban nhạc gồm nhiều nhạc sĩ nổi tiếng.

Đến năm 62,  vì lệnh cấm khiêu vũ nên ban nhạc này đổi qua trình diễn nhạc Jazz với một thành phần gồm các nhạc sĩ nổi danh như: Văn Hạnh, Lê Văn Thiện và Huỳnh Anh. Đối với khán giả Việt Nam thời đó, trình diễn nhạc Jazz là một điều mới mẻ.  Do đó ban nhạc của vũ trường Đại Nam đã lôi cuốn được rất nhiều người đến thưởng thức.

Một thời gian sau ông về vũ trường “Croix Du Sud” , sau đó đổi tên là “Tự Do”.  Tại đây ông cộng tác với các nhạc sĩ Hoài Trung, Hoài Bắc cùng với  Lê Văn Thiện,  Huỳnh Anh, Nguyễn Văn Thanh, Văn Ba, vv…  Sau đó ông được giải ngũ vào năm 1969 để sang cộng tác với vũ trường Mỹ Phụng cho đến năm 72 và sau đó là phòng trà Bồng Lai.

Tại miền  Nam trước biến cố tháng 4 năm 75, trong rất nhiều năm, bóng dáng Đan Thọ với cây vĩ cầm hoặc với cây kèn saxo đã là một hình ảnh quen thuộc với những người lui tới các phòng trà và vũ trường về đêm.

Sinh hoạt hàng ngày trong thời gian cộng tác với đài quân đội của Đan Thọ song song với việc chơi nhạc tại các dancing đã chiếm gần như hết cả thời gian dành cho gia đình. Từ 8 giờ sáng cho đến trước 12 giờ trưa ông ở đài Quân Đội, sau đó chạy sang đài Sài Gòn thu thanh trực tiếp với nhiều ban nhạc, mỗi ban nửa tiếng.

Sau đó về nhà ăn cơm, rồi lại trở về đài quân đội cho đến 5 giờ 30, rồi lại chạy sang đài Sài Gòn chơi cho những ban Vũ Huyến, Mạnh Phát, Võ Đức Tuyết, Võ Đức Thu.  Sau đó trở về nhà ăn cơm vào khoảng 7, 8 giờ, nghỉ ngơi đến 9 giờ tối ông lại bắt đầu đi làm tại dancing Đại Nam cho đến 2 giờ sáng.

Qua đến những năm cuối thập niên 60, Đan Thọ trở thành một thành viên nồng cốt của ban nhạc The Shotguns do nhạc sĩ Ngọc Chánh thành lập để trình diễn tại vũ trường cũng như thu băng cho trung tâm thực hiện băng nhạc của nhạc sĩ này.  Sau này tại hải ngọai, Đan Thọ chỉ viết một ca khúc độc nhất mang tựa đề “Dương Cầm”, dựa trên ý thơ của người con rể là Mùi Quý Bồng.  Cảm hứng đã đến với ông khi nhìn cô cháu ngoại lướt những ngón tay nhỏ nhắn trên phím dương cầm.

Sau năm 75, Đan Thọ cộng tác vơi ban nhạc của  Đoàn Kịch Nói Kim Cương gồm trên 10 nhạc sĩ.  Trong đó, ngoài ông, còn có những nhạc sĩ Xuân Tiên, Lâm Thoại Nguyên, Ngọc Chánh,  Lê Văn Thiện, Phạm Văn Phúc, Đài Trang, Đặng Văn Hiền, vv… Ông từng cùng với Đoàn Kịch Nói Kim Cương ra Hà Nội trình diễn vào năm 1980 trong vòng một tháng với nhiều thành công tốt đẹp.

Trong thời gian còn ở lại Việt Nam, ông đã cùng với ban nhạc này đi diễn ở nhiều nơi  như Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, vv… Cho đến năm 80 ông quyết định xin nghỉ. Có thể nói đúng hơn là nhạc sĩ Đan Thọ đã không còn tìm thấy được nguồn vui trong nghệ thuật sau khi ông ngưng cộng tác với đoàn Kim Cương vào năm 1980, để sau đó ông dành cả thì giờ của mình cho gia đình cùng với thú nuôi chim yến của ông và đã từng đoạt giải thưởng.

Tuy không còn đi lưu diễn nhưng Đan Thọ chưa có thể xa rời sân khấu. Mặc dù sống dưới những sự đổi thay của xã hội, nhưng thời gian này đối với ông có những kỷ niệm khó quên. Cùng với nhạc sĩ Cao Phi Long và một số nhạc sĩ khác như Trí, Hòa, vv…, ông được mời cộng tác với vũ trường Maxim’s ở trên lầu.

Tại địa điểm này Đan Thọ và các nhạc sĩ trong ban đã khiến khán giả thích thú với nghệ thuật trình bầy loại nhạc Zigane, trong số có rất nhiều khán giả người ngoại quốc thuộc các nước xã hội chủ nghĩa. Đêm cuối cùng trước khi ngưng cộng tác với Maxim’s  để ngày hôm sau rời khỏi Việt Nam, phái đoàn Hungary thường đến nghe ban nhạc của ông biểu diễn đã mang hoa lên tặng ông và hôm sau còn đến tận nhà ông tặng thêm, vì ban nhạc thường đàn bài “Danse Hongroise No 5”  của Brahms rất được người Hungary ưa thích.

CUỘC SỐNG NƠI HẢI NGOẠI

Sau khi rời Việt Nam qua đến Bangkok vào cuối tháng 2 năm 85, Đan Thọ cũng nhờ chơi nhạc mới được sang New Orleans, tiểu bang Louisiana vào khoảng đầu tháng 3 cùng năm.

Louisiana là nơi vợ chồng người con gái ông cư ngụ từ lâu trong khi đáng lẽ gia đình ông phải đi Washington D.C.  do một người em của vợ ông bảo lãnh. Đan Thọ lấy lý do sợ cái lạnh của vùng đông bắc Hoa Kỳ nên đã xin với phái đoàn phụ trách sắp xếp chuyến bay để qua sống tại New Orleans trước khi dời qua California một thời gian ngắn sau, trước khi quay trở lại sống ở New Orleans vào năm 1997.

Với hai nhạc phẩm “Red Eyes Are Smiling” và “Lòng Mẹ”, tiếng đàn vĩ cầm của Đan Thọ đã khiến cho những nhân viên Mỹ cũng như Việt của phái đoàn này cảm động để sau đó chiều theo lời đề nghị của ông.

Những năm tháng ở Orange County, nhạc sĩ Đan Thọ với số tuổi lúc đó đã ngoài 60, nhưng vẫn cùng với vợ xông xáo đi làm.  Trước đó, ông từng hy vọng sau khi ra đến hải ngoại sẽ tìm lại được hứng thú với những bạn bè cùng thời.  Nhưng với cuộc sống chạy theo kim đồng hồ ở một xã hội máy móc và do sự đòi hỏi của cuộc sống, cả hai ông bà cũng đã phải trải qua một giai đoạn vất vả với những công việc mưu sinh.

Ông làm việc trong công ty General Ribbon chuyên hãng sản xuất “ruy-băng” cho máy điện toán.  Vợ ông, sau khi thất bại trong việc khai thác một tiệm ăn, cũng đã vào làm cùng hãng với ông một thời gian trước khi cả hai ngưng nghỉ sau khi đã tỏ ra là những nhân viên siêng năng và cần mẫn. Riêng ông, cuối tuần vẫn chơi nhạc tại vũ trường Ritz của nhạc sĩ Ngọc Chánh.

Đến năm 95, Đan Thọ chính thức tuyên bố giải nghệ trong một đêm văn nghệ, tổ chức vào tối 30 tháng 6 tại vũ trường Ritz để đánh dấu quá trình hoạt động âm nhạc của ông.  Vì theo Đan Thọ, sự cống hiến cho âm nhạc của ông đã quá đủ.  Hơn nữa tuổi tác và sức khỏe của ông không còn cho phép ông đi theo con đường nghệ thuật.

Nhớ lại khoảng thời gian dài hoạt động không ngưng nghỉ của người chồng nghệ sĩ, bà Đan Thọ cũng đã phải khâm phục sức làm việc của ông.  Điều đó cũng đã chứng tỏ được sự thông cảm lớn lao của bà khi Đan Thọ dấn thân vào con đường phục vụ âm nhạc.

Đáng ghi nhận hơn cả là thời gian ông còn ở Sài Gòn: “Chưa bao giờ ông ấy có mặt ở nhà trước 2 giờ sáng… Từ sáng cho đến 2 giờ đêm, ông ấy ở đâu chứ không ở nhà”. Với một vẻ âu yếm, bà nói thêm “Ông ấy muốn làm gì ông ấy cứ việc làm, nhưng mà 2 giờ tôi cứ ngồi đợi cửa.  Không bao giờ tôi đi ngủ trước, mấy chục năm như vậy.  Thành ra ông ấy đâu có dám đi đâu vì biết tôi ngồi đợi cửa mà!”, như lời kể của bà Đan Thọ.

Một điều không ai ngờ là trong suốt quá trình hoạt động của Đan Thọ, hầu như  chưa hề ai thấy mặt vợ ông tại vũ trường cũng như tại các đài phát thanh ông cộng tác.  Hai vợ chồng nhạc sĩ Đan Thọ hiện đang hưởng những chuỗi ngày nhàn hạ, nương tựa nhau trong lúc xế chiều tại Houston với sự thường xuyên liên lạc hay gặp gỡ con cháu từ Tampa đến Houston.

Khá nhiều bạn bè nghệ sĩ cùng thời với ông đã nhắm mắt xuôi tay.  Riêng Đan Thọ còn đây trong những buổi chiều tím của cuộc đời. Chắc hẳn người  nhạc sĩ lão thành đang mỉm cười mãn nguyện với những gì ông đã cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam, trong vai trò một nhạc sĩ sáng tác và nhất là một nhạc sĩ trình diễn bên cạnh cây vĩ cầm, giờ đây đã im tiếng.  Còn chăng chỉ còn là vang vọng dư âm của những ngày xưa cũ…

Nguồn: Nghệ sỹ & Đời sống – Trường Kỳ – VOA

[footer]

Lê Tấn Quốc: Tiếng kèn từ vùng tăm tối

Lê Tấn Quốc | Nghệ Sỹ & Đời Sống | Trường Kỳ || 23/08/2012 | Sài Gòn | [dongnhacxua.com] || [facebook] [googleplus]

Nếu có dịp nghe những bản hòa tấu saxo của nhạc sỹ Lê Tấn Quốc giữa không gian thanh vắng của Sài Gòn về đêm thì quý vị mới thấy hết sự da diết và sâu lắng trong từng làn hơi của người nhạc sỹ khiếm thị này. [dongnhacxua.com] xin trân trọng gởi đến bạn yêu nhạc bài phỏng vấn của cố ký giả Trường Kỳ với nhạc sỹ Lê Tấn Quốc trong một chuyên mục “Nghê Sỹ & Đời Sống” cách đây ít lâu. Source: VOA

 Mời quí vị bấm vào đường dẫn để nghe toàn bộ bài viết.

Trong sinh họat về đêm ở Sài Gòn, trước cũng như sau năm 75, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều nguời biết tới. Một phần vì sự điêu luyện của anh qua các lọai kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề nể phục. Và cũng do đó mà cuộc hôn nhân giữa anh và nữ ca sĩ Họa Mi đi tới đổ vỡ. Câu chuyện gia đình giữa một nhạc sĩ kèn khiếm thị và nữ ca sĩ nổi tiếng này đã có một thời kỳ gây ồn ào dư luận. Câu chuyện được Lê Tấn Quốc trình bày rõ hơn qua bài viết này.

 Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.

  web_le_tan_quoc.jpg

 Nghệ sĩ Lê Tấn Quốc

Lê Tấn Quốc theo học nhạc với nhạc sĩ Sáu Già khi mới lên 11 tuổi. Thoạt đầu, Lê Tấn Quốc được chỉ dẫn về sáo, rồi sau mới chuyển qua saxophone soprano, rồi đến alto trước khi khởi sự đi làm với cây Tenor sax khi 15 tuổi cho một club Đại Hàn trên đường Duy Tân.  Cây kèn Tenor Sax đầu tiên trong đời anh do một người cậu cho mượn để mua lại từ nhạc sĩ Xuân Khuê.  Đó là một kỷ niệm anh không sao quên được sau 40  năm lăn lộn trong nghề. Thời gian mới vào nghề, nhờ được học hỏi thêm nơi những cây kèn đàn anh như  Xuân Tiên, Lâm Thoại Nguyên, vv… tài nghệ của Lê Tấn Quốc  càng ngày càng tỏ ra điêu luyện. Nơi cộng tác kế tiếp của anh là phòng trà Văn Hoa, do nhạc sĩ Bảo Thu khai thác. Song song với vai trò nhạc công tại các phòng trà, Lê Tấn Quốc theo học trung học tại trường Kiến Thiết cho đến khi có được mảnh bằng Tú Tài 2. Lê Tấn Quốc cho biết anh muốn theo học ngành Y thay vì học Văn Khoa. Nhưng lúc đó đôi mắt anh đã bắt đầu có dấu hiệu xấu… Lê Tấn Quốc buộc phải bỏ học dở dang.

 Bệnh mắt của Lê Tấn Quốc được giới Y Khoa trong nước gọi là Viêm Võng Mạc Sắc Tố. Anhø chỉ còn thấy lờ mờ. Những năm sau này bệnh trở nặng hơn. “Làm việc trong  vũ trường tối hù, chỉ thấy nhá nhem bóng đèn. Hồi xưa thì còn thấy được như vậy. Nhưng bây giờ thì không. Hồi làm ở quán Thanh Niên suốt 13 năm, nhìn đèn xanh đỏ thì thấy mờ mờ mà không thấy khách ngồi.”

Cà phê Thanh Niên có chương trình ca nhạc hàng đêm cho đến cách đây hơn 2 năm. Gần đây anh được chủ nhân nhà hàng này mời về chơi trong một ban nhạc gồm 4 người trong chương trình nhạc hòa tấu vào mỗi đêm tại nhà hàng Maxim’s Nam An cho đến nay.

Lê Tấn Quốc còn cho biết thêm anh lập gia đình với Họa Mi năm 1976, qua năm 77 có con trai đầu  lòng anh vẫn có thể chạy xe gắn máy được. Lê Tấn Quốc quen Họa Mi vào năm 76 khi cả hai cùng là nghệ sĩ của đoàn văn nghệ Kim Cương. Quốc là thành viên của ban nhạc “The Shotguns” của đoàn, được tăng cường thêm 3 nhạc sĩ kỳ cựu là Xuân Tiên, Lâm Thoại Nguyên và Đặng Công Hiền. Trong khi Họa Mi là ca sĩ với Sơn Ca, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thanh Phong, Phương Đại, Thái Châu, Thanh Lan, vv…

web_le_tan_quoc2.jpg

Lê Tấn Quốc (trái) và Trường Kỳ

Lê Tấn Quốc làm với ban Kim Cương từ 75 đến 82, sau đó về Câu Lạc Bộ  của Hội Văn Nghệ Thành Phố cùng làm việc với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong thới gian bắt đầu có những tụ điểm ca nhạc. Sau đó về nhà hàng Maxim’s với 3 cha con Hoàng Liêm và Huỳnh Háo, Duy Hải và một số giáo sư nổi tiếng ở trường nhạc. Qua 85 anh về làm tại câu lạc bộ chợ Đũi (địa điểm của Trung Tâm Thương Nghiệp Quận 3) trong suốt 3 năm với Bảo Chấn và một số nhạc sĩ thành ban nhạc hòa tấu đầu tiên ở Sài Gòn dưới tên Thanh Xuân. Ban nhạc này từng nhiều lần đọat huy chương vàng về hòa tấu. Sau đó anh về cộng tác với vũ trường trên lầu Intershop tại thương xáø Crystal Palace.

Đến tháng giêng năm 88, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này…

Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứtù: “Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam: “Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.”

Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.

 Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.

 Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam.  Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được. Anh nói: “Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại cho chúng nó ăn học”.

 Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi. Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô  con gái út năm nay 24.

 Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp. Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt.

Ba năm sau khi trở về Việt Nam, Lê Tấn Quốc cũng tìm đựợc nguồn hạnh phúc mới khi lập gia đình vào năm 1993 và có thêm 2 con với người vợ sau. Còn Họa Mi cũng bước thêm bước nữa với người kia và họ có với nhau 1 đứa con.

 Năm 96, Họa Mi cùng người chồng mới tên Đặng Thái Khanh về thăm Việt Nam và ghé thăm anh. Sau đó, vợ chồng Lê Tấn Quốc và vợ chồng Họa Mi đã trở nên rất thân thiết: “Họa Mi về đây với ông kia. Ngày nào cũng lại ăn cơm chung.  Rồi còn cùng nhau đi Vũng Tàu, chỗ nọ chỗã kia… Bà này chở bà kia đi chợ, đi mua sắm khiến lối xóm ngạc nhiên quá chừng…”

 Bây giờ họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau.

 Đêm đêm Lê Tấn Quốc vẫn xách cây kèn Tenor Sax đi làm đều đặn trong một cuộc sống êm ấm và hạnh phúc. Anh mang những tiếng kèn đó làm những lời tâm sự của chính  mình. Tiếng kèn khi bổng, khi trầm. Khi réo rắt, khi nức nở, lúc nghẹn ngào thoát ra từ tâm tư anh, từ vùng tối mênh mông, sâu thẳm.

[footer]