Giai thoại về ‘Bến Xuân’: đi tìm bóng hồng trong sáng tác bất hủ

Dòng Nhạc Xưa đã có một bài viết về bản “Bến Xuân” bất hủ của Văn Cao. Thế nhưng xung quanh bản nhạc này có rất nhiều giai thoại. Để các thế hệ trẻ có thêm tư liệu, chúng tôi xin mạn phép giới thiệu một bài viết hình ảnh người con gái đã gây cảm hứng cho nhà nhạc sỹ của chúng ta.

Hé lộ bóng hồng trong bài hát Bến Xuân của nhạc sĩ Văn Cao

(Nguồn: bài viết của tác giả Đào Bích đăng trên DanTri.com.vn ngày 2016-05-20)

Nàng là một cô gái đẹp của đất Hải Phòng xưa, vì trót yêu những sáng tác mà cảm mến luôn chàng trai hiền lành nhút nhát, nhạc sĩ Văn Cao.

Họa sĩ Văn Thảo là người nắm giữ nhiều tài liệu nhất về nhạc sĩ Văn Cao.

Mối tình nhiều trắc ẩn

Bến xuân: hoài niệm cả đời cho một lần gặp gỡ

Nhân dịp xuân về, Dòng Nhạc Xưa trân trọng xin mời người yêu nhạc nghe lại bản “Bến Xuân” bất hủ.

Đầu thập niên 1940, nhờ các hoạt động văn nghệ với nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng, một tình cảm đẹp đã nảy sinh giữa nhà nhạc sỹ trẻ tuổi Văn Cao và đóa hoa hương sắc Hoàng Oanh của vùng đất Cảng. Có một lần (mà chúng tôi đoán là mùa xuân), nàng Hoàng Oanh ghé thăm Văn Cao và lần gặp gỡ ấy đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng nhà nhạc sỹ. Đó cũng chính là cảm hứng để Văn Cao sáng tác nhạc phẩm bất hủ: Bến Xuân.

Về sau, tiểu thư Hoàng Oanh lập gia đình với một người bạn thân của Văn Cao là Hoàng Quý, tác giả của bản “Cô  láng giềng” và là người sáng lập ra nhóm Đồng Vọng. Dòng đời thay đổi, chiến tranh Việt – Pháp nổ ra và Văn Cao đi theo kháng chiến. Sau đó, Văn Cao viết thêm một lời khác cho “Bến xuân” lấy tựa đề là “Đàn chim Việt”.

Thế nhưng, với Dòng Nhạc Xưa chúng tôi, “Bến xuân” vẫn mãi là “bến xuân” đầy huyền thoại, ghi lại một kỷ niệm khó phai mờ trong cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao!

Bến Xuân (Văn Cao). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

EM ĐẾN TÔI MỘT LẦN
(Nguồn: trích bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên đăng trên Thanh Niên 14/04/2012)

Không ai có thể phủ nhận sự tài hoa của nhạc sĩ Văn Cao – cây đại thụ của nền tân nhạc. 16 tuổi đã có sáng tác đầu tay (Buồn tàn thu, năm 1939) và các tình khúc tiếp theo của ông được sánh vào hàng “siêu phẩm”: Suối mơ, Thiên thai, Cung đàn xưa, Bến xuân, Thu cô liêu, Trương Chi…

Thiên Thai (Văn Cao): tuyệt tác của tân nhạc Việt Nam

Nhạc sỹ Văn Cao sáng tác không nhiều nhưng những nhạc phẩm của ông hầu hết đều là tuyệt tác và vượt lên trên hết theo thiển ý của Dòng Nhạc Xưa là bản “Thiên Thai”. Nhân dịp xuân về, xin giới thiệu đến người yêu nhạc xưa tác phẩm bất hủ này qua một bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv.

 

Thiên Thai (Văn Cao). Ảnh: AmNhacMienNam.blogsspot.com

Thiên Thai – ca khúc thần tiên của nhạc sĩ Văn Cao

(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv ngày 2015-11-27)

Ly rượu & âm nhạc: “Bạn uống rượu lòng ta không thể chán” (Nguyễn Trọng Tạo)

Nhân nhắc đến nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo qua bản “Làng quan họ quê tôi”, [dongnhacxua.com] xin phép đăng lại một bài mạn đàm của nhạc sỹ về “ly rượu trong đời sống âm nhạc”.

Ly rượu mừng (Phạm Đình Chương). Ảnh: sachxua.net
Ly rượu mừng (Phạm Đình Chương). Ảnh: sachxua.net

ly-ruou-mung--1--pham-dinh-chuong--sachxua.net--dongnhacxua.com ly-ruou-mung--2--pham-dinh-chuong--sachxua.net--dongnhacxua.com

“BẠN UỐNG RƯỢU LÒNG TA KHÔNG THỂ CHÁN”
(Nguồn: bài viết của nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo đăng trên cand.com.vn ngày 2016-02-11)

Lâu lắm rồi, tôi lại được nghe bài hát “Ly rượu mừng” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương vừa được phát hành vào dịp Tết năm nay. “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi… Nhấp chén đầy vơi, chúc người người vui…”. Bài hát phơi phới sức xuân này khiến tôi nhớ dịp Tết lâu rồi, ngồi uống rượu với nhạc sĩ Văn Cao, ông đã nhắc tới, và khen Phạm Đình Chương: Chỉ một ca khúc thôi mà Chương không quên một thành phần nào trong xã hội, từ “anh nông phu”, “người thương gia”, “người mẹ hiền”, “đôi uyên ương”, “anh binh sĩ”… cho đến “người nghệ sĩ”… tất cả đều được chúc mừng trong chén rượu đầu xuân.

Văn Cao – 20 năm không xa

Mới đó mà đã 20 năm ngày chúng ta chia tay cây đại thụ của nền nhạc Việt: nhạc sỹ Văn Cao. Trong dòng cảm xúc đó,  [dongnhacxua.com] xin giới thiệu một bài viết của nhà báo – nhạc sỹ Thụy Kha.

VĂN CAO – 20 NĂM KHÔNG XA 
(Nguồn: bài viết của nhà báo – nhạc sỹ Thụy Kha đăng trên báo Người Lao Động ngày 09.07.2015)

Kể từ ngày ông vĩnh viễn ra đi, mỗi khi nghe Quốc ca là cảm thấy ông vẫn ở đâu đây trong đời sống thường nhật của chúng ta

Đến bây giờ, tôi vẫn có cảm giác Văn Cao chưa hề xa. Ông vẫn ở đâu đây trong đời sống thường nhật của chúng ta. Đấy là mỗi sớm đầu tuần, nghe hát Quốc ca ở một nhiệm sở nào đó, dù ở Lạng Sơn hay ở Mũi Cà Mau. Đấy là những trận đấu bóng đá, trước giờ khai cuộc, Quốc ca Việt Nam lại vang lên. Đấy là khi các vận động viên Việt Nam đoạt huy chương vàng, ngay trong kỳ SEA Games mới đây. Cảm thấy bài Quốc ca Việt Nam căng đầy trong cơ thể “kình ngư” Ánh Viên khi cô khoác Quốc kỳ Việt Nam đứng trên bục cao nhất. Và quốc thiều Tổ quốc ngân nga…

Nhớ mãi nụ cười nhẹ nhõm

Vẫn như còn nguyên cái ngày cuối cùng khi tôi đưa nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo đến thăm ông ở Bệnh viện Hữu Nghị – Hà Nội. Ông ngồi đấy, tóc trắng, râu trắng, tường trắng, nụ cười trắng và hoa sen trắng chưa nở. Ông thầm thì bên tai: “Đang còn một thằng “Giôn đen” nhưng nóng quá. Tuần sau sang mùa mưa. Sẽ uống…”. Nhưng không bao giờ còn cái ngày đầu tuần mới, uống chai mới nữa. Ngày thứ hai đầu tuần 10-7-1995 đã trở thành ngày ghi khắc mãi vào từng con tim người Việt Nam. Ngày Văn Cao chuyển cõi.

Ngày cuối cùng của tác giả bên Văn Cao (3-7-1995) Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Ngày cuối cùng của tác giả bên Văn Cao (3-7-1995) Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Trước đó 10 năm, một ngày cuối đông buốt giá năm 1985, tôi cùng Văn Cao thắp hương trước linh cữu Xuân Diệu, cũng đúng ở nơi ấy. Mười năm sau, cũng nơi ấy, căn gác hai 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội), nơi một thời cố vấn Vĩnh Thụy trải qua những ngày tháng độc lập đầu tiên của đất nước và nghe Quốc ca Việt Nam vang lên, cũng là nơi đưa tiễn tác giả bản Quốc ca hùng thiêng này về cõi xa xăm.

Từ trái sang phải: Bà Văn Cao - Nhà phê bình Ngô Thảo - Nhà thơ Thu Bồn - Văn Cao - Nguyễn Thụy Kha - Nhạc sĩ Nghiêm Bá Hồng - trên căn gác 60 Hàng Bông Ảnh: Hà Tường
Từ trái sang phải: Bà Văn Cao – Nhà phê bình Ngô Thảo – Nhà thơ Thu Bồn – Văn Cao – Nguyễn Thụy Kha – Nhạc sĩ Nghiêm Bá Hồng – trên căn gác 60 Hàng Bông Ảnh: Hà Tường

Tôi mãi mãi biết ơn giải thưởng thơ Báo Văn Nghệ năm 1982. Nhờ nó, nhờ bài thơ “Những giọt mưa đồng hành” đoạt giải B, Văn Cao đã ngỏ ý thông qua Đặng Đình Hưng muốn gặp tôi. Đấy là một hạnh ngộ mà cả đời tôi chẳng bao giờ trả hết. Ra Hà Nội làm nghề văn học và âm nhạc từ năm 1978, tôi đâu dám bén mảng tới chiếu rượu của ông. Tôi chỉ là một thằng bé con đang chập chững vào nghề. Nhờ gặp ông, được ông nhận làm học trò, cho làm bạn vong niên cùng uống rượu. Hạnh ngộ ấy đã cho tôi có cái tên hôm nay.

Từ sau lần đầu được ngồi uống rượu với ông và Đặng Đình Hưng, tôi và ông hình như không lúc nào rời nhau. Cho cả đến bây giờ. Dù đã 20 năm xa. Còn nhớ mãi nụ cười nhẹ nhõm của ông khi trở lại vị trí ủy viên chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam mùa thu 1983. Đấy là một mùa thu thăng hoa, báo hiệu một điều gì sẽ đổi thay của đất nước. Nhớ nhất là cái đêm ông cùng Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, Thu Bồn uống rượu ở căn gác 60 Hàng Bông nhà tôi và sau đó là cuộc tổ chức long trọng 60 năm ngày sinh của ông tại Hội Nhạc sĩ Việt Nam do Tổng Thư ký Huy Du chủ trì. Huy Du nói với tôi: “Nhờ ông anh viết “Thiên Thai” mà mình mê nên mới có sáng tác đầu tay “Sóng nước Ngọc Tuyền”. Ơ kìa! Mênh mông chèo khua nước Ngọc Tuyền mà”. Hôm đó, cả Trịnh Công Sơn và Trần Long Ẩn đều hát say sưa những sáng tác của các anh mừng thọ Văn Cao.

Từ đấy, ông và tôi cùng bạn bè có những tháng ngày lãng du tuyệt vời. Cuối năm 1983, về Nhà máy Toa xe Hải Phòng. Chuyến ấy, ông viết “Hành khúc công nhân toa xe”: “Một vùng trời vang sóng vỗ biển Đông/ một vùng trời luôn thắp sáng ngàn sao/ vùng rộn ràng trong tiếng búa nhà máy/ dù giặc thù bom đánh phá đêm ngày…”. Mùa thu 1984, trở lại trung du vùng núi Thắm. Lần đó, ông viết “Tình ca trung du” – ca khúc cuối cùng của nghiệp âm nhạc: “Một cánh tay sông Hồng/ một cánh tay sông Lô/ hai cánh tay như ôm trung du …”.

Một bản lĩnh thơ

Cuối xuân 1985, vào Quy Nhơn. Đấy là dịp ông viết bài thơ về Quy Nhơn 3: “Từ trời xanh – rơi – vài giọt tháp Chàm…”. Cũng đợt ấy, Văn Cao đã đi đến nơi xa nhất trong cuộc đời mình – TP Cần Thơ. Sau chuyến đi, lần đầu tiên, thơ Văn Cao được in trở lại trên Báo Văn Nghệ. Đó là chùm ba bài thơ “Quy Nhơn” sau 29 năm không in thơ ông trên tuần báo này, mà chỉ xuất hiện với những hình minh họa ký chữ Văn. Giữa những chuyến đi cùng tôi ngày đó, Văn Cao có chuyến đi riêng vào Huế và Đà Nẵng với lời mời của nhà văn Phan Tứ, khi ấy là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng. Cũng là một lần trở lại để có “Về Huế xưa”, “Đêm phá Tam Giang”… những bài thơ cực ngắn, cực hay: “Lưới là cái cuối cùng/ Hất tôi xuống biển”.

Năm 1986, hình như linh cảm điều đổi thay đất nước đã tới gần, Văn Cao cùng tôi lần mò những bài thơ của ông làm trong các cuốn sổ tay đã hoen màu thời gian từ năm 1956 đến lúc đó để tập hợp thành một tập thơ. Ông đặt tên là “Lá”. Năm ấy, hầu như ngày nào tôi cũng ngồi làm biên tập cùng ông. Và tất nhiên là cùng uống rượu. Tập thơ hòm hòm thì cũng là thời điểm Đại hội Đảng phất cao ngọn cờ đổi mới. Ông yêu cầu tôi viết lời giới thiệu. Và bài “Văn Cao một bản lĩnh thơ” đã được tôi hoàn thành để giao bản thảo cho Nhà Xuất bản Tác Phẩm Mới. Năm 1988, cùng với việc diễn ra “Đêm nhạc Văn Cao”, từ đầu năm là tập thơ “Lá” được ấn hành tuy không in lời giới thiệu của tôi. Nhưng bù lại, Nhà Xuất bản Trẻ lại ấn hành tập thơ – nhạc – họa của ông mang tên “Thiên Thai”.

Đấy là những năm tháng thăng hoa trong sự phục sinh của Văn Cao. Ông lại tiếp tục có những chuyến giao lưu ở TP HCM, ở các tỉnh miền Nam. Buồn nhất là chuyến lên Tây Nguyên theo ước nguyện của ông nhưng không thành. Tiền vé máy bay của anh em Tây Nguyên mời biến thành cái tủ mới ở nhà ông.

Tháng 3-1995, chuẩn bị Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam, tôi phát hiện ban chấp hành cũ mang Trại sáng tác Quảng Bá ra liên doanh với nước ngoài xây khách sạn. Tôi đem chuyện buồn này kể với ông. Ông trầm giọng nói: “Sao lại bậy bạ thế. Phải lên tiếng nhé. Đừng sợ. Sẽ có những người ủng hộ chân lý”. Nghe lời ông, tôi đăng đàn giành lại mảnh đất thiêng liêng này và được đại hội ủng hộ. Sau đại hội, tôi đến báo cáo kết quả. Ông cười mãn nguyện: “Đã đến lúc không phải sợ gì nữa”. Bữa đó, ông “lì xì” tôi một chai Macallan.

Khi ấy, ông đã yếu nhiều. Chứng ung thư phổi bắt đầu có triệu chứng tăng trưởng. Nhưng ông vẫn uống rượu và hút thuốc lào như thường. Chẳng hiểu sao, sau đại hội Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông cho bà Bằng (vợ Văn Cao) đến gặp Tổng Thư ký Trọng Bằng. Ông đã sớm dọn dẹp cho mình một cách đi bằng những lời di nguyện. Ông đề nghị khi mất, Hội Nhạc sĩ Việt Nam chủ trì tang lễ. Còn điếu văn thì tôi viết, anh Trọng Bằng đọc.

Văn Cao là người trung chính nên dù bị ung thư nhưng ra đi nhẹ nhàng như một trích tiên. Mới thế mà đã 20 năm…

Hà Nội, ngày 9-7-2015.

Nguyễn Thụy Kha

[footer]

Văn Cao với ca khúc ‘Mùa Xuân Đầu Tiên’ (Văn Thao)

[dongnhacxua.com] đã có một bài viết về hai bản nhạc xuân đặc sắc có cùng tên ‘Mùa Xuân Đầu Tiên’ của Tuấn Khanh và Văn Cao, hai nhà nhạc sỹ ở hai bên chiến tuyến, sáng tác ở hai thời điểm khác nhau.  Hôm nay, nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015, chúng tôi xin gởi đến quý vị yêu nhạc xưa thêm vài chi tiết thú vị về nhạc phẩm “Mùa Xuân Đầu Tiên” của Văn Cao qua bài viết của Văn Thao, con trai của chính nhạc sỹ Văn Cao.

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao). Ảnh: http://baicadicungnamthang.net
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao). Ảnh: baicadicungnamthang.net

VĂN CAO VỚI CA KHÚC ‘MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN’
(Nguồn: tùy bút của Văn Thao đăng trên tapchisonghuong.com.vn ngày 03/07/2009)

VĂN THAO… Tôi tập tễnh bước một leo lên cầu thang ngôi nhà số 108 phố Yết Kiêu vào một ngày giáp tết năm 1976. Đã sang tiết xuân, trời nắng nhẹ mà vẫn lạnh. Tiếng đàn dương cầm vọng ra. Một điệu vans. Giai điệu của bản nhạc mượt mà, lấp lánh như những hạt nắng xao động trên vòm cây. Một giai điệu mà tôi chưa nghe bao giờ.

Nhạc sỹ Văn Cao.
Nhạc sỹ Văn Cao.

Văn Cao ngồi bên đàn. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím đàn ố vàng, loang lổ. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào, âm vang đầy ắp căn phòng. Tôi ngồi xuống đi văng, lặng nhìn đôi vai gầy guộc của ông phủ xuống cây đàn. Mái tóc bạc dài xõa phất phơ theo tiếng dương cầm thánh thót. Những vệt ánh sáng hắt qua ô cửa óng vàng chuyển động trên đôi bàn tay. Tiếng nhạc nhẹ dần, chậm chậm tan vào không gian, mênh mang. Đôi bàn tay gầy khẽ dâng lên khỏi bàn phím và bất động trong không trung. Lát sau, Văn Cao lặng lẽ đứng dậy, nhẹ nhàng rời khỏi cây đàn. Khuôn mặt ông bất động. Hình như tâm hồn ông vẫn còn bồng bềnh trôi theo những âm thanh của bản nhạc.

– Bố! Một chút ngơ ngác rồi sau đó ông mới nhận ra tôi.

– Thao đấy hả! Con về từ bao giờ đấy?

– Từ trên trung tâm chỉnh hình Ba Vì con đến thẳng đây.

– Vết thương của con thế nào? Đi chân giả có đau lắm không?

Tôi đứng dậy kéo ống quần lên cho ông nhìn thấy chiếc chân gỗ, rồi bình thản đi quanh phòng. Ông ngồi lặng nhìn theo tôi, đôi mắt ánh lên niềm vui. Từ trong khoé mắt, một giọt lệ lăn từ từ trên đôi gò má.

– Tốt! Tốt quá rồi!… Thôi ngồi xuống đi con.

Tôi ngồi xuống bên ông. Hai cha con nhìn nhau. Tôi định nói một điều gì đó mà không được. Cổ họng cứ tắc nghẹn. Mãi lúc sau mới thốt được nên lời:

– Lâu lắm con mới lại được nghe bố đánh đàn một cách say sưa như thế này. Giai điệu đẹp quá. Bài mới sáng tác của bố đấy à?

– Ừ! Bố sáng tác bài hát này mừng Mùa xuân đầu trên đất nước mình thống nhất.

– Vậy là bố lại sáng tác ca khúc?

Ông nhìn tôi giây lát. Hình như ông đã hiểu tôi định nói gì.

– Đúng thế.
Sau khi bài TIẾN VỀ HÀ NỘI ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa… Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng…

Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

… Bố vừa sáng tác xong nhạc cho phim “Chị Dậu” do bác Khoa đạo diễn. Cả bản nhạc giao hưởng thính phòng cho phim “anh bộ đội Cụ Hồ” của xưởng phim quân đội.

Dư luận rất tốt. Bố phải cảm ơn con. Chính nghị lực của con đã giúp bố vượt qua được nỗi đau lúc con gặp nạn. Bố đã tưởng mất con.

Tôi thấy cay cay khoé mắt. Cổ họng tắc nghẹn.

– Thôi mà bố. Chuyện đã qua rồi.

– Bố biết! Mọi chuyện đã qua. Nhìn thấy con hôm nay bố mới thật sự yên lòng. Bố phải cố hoàn thành bài hát trong một vài ngày tới…

Văn Cao là một người cộng sản chân chính. Mơ ước và khát vọng của ông rõ ràng, cao đẹp: “Ta mơ trần gian lúc san bằng hết biên thuỳ. Chỉ còn loài người, chỉ còn tình thương trùm lên thế giới”… (BÀI CA BIÊN GIỚI). Ông tin sẽ có ngày xã hội “cùng sống tập đoàn, toàn thế giới công khai cùng kiến thiết xã hội ngày mai…” (CÔNG NHÂN VIỆT NAM). Chính vì vậy mà bao khó khăn gian khổ, bao thăng trầm đổ xuống cuộc đời vẫn không làm ông nao núng. Ông tin những việc ông làm, con đường ông đã chọn. Và ông đã đúng! Cái thời khắc “giải phóng tiến tới thống nhất” đã đến…

Ngày 30 – 4 – 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất cả dân tộc reo vui. Văn Cao im lặng. Chỉ thấy đôi mắt ông sáng lên lấp lánh.

Có một cái gì đó đang chuyển động trong đầu. Một âm thanh mơ hồ, mỏng mảnh như làn khói thoảng qua. Một tiếng gà gáy mênh mang. Một tia nắng lấp lánh… Và một cánh én. Những âm thanh, những hình ảnh chập chờn trong đầu ông rồi lại tan biến.

Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.

Sau tết. Tôi lên, ông đã đưa cho tôi xem bài MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN. Tôi vừa xướng âm, vừa lẩm nhẩm hát một cách say sưa:

“Rồi đặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường, mùa vui nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên. Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông. Một tia nắng vui cho bao tâm hồn… Người mẹ nhìn đàn con nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy… Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao, trong xuân vui đầu tiên… Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người…

Lời ca thật dung dị với những hình ảnh gần gũi thân quen thấm đậm chất nhân văn. Giai điệu của bài hát đẹp, mượt mà và sâu lắng đã cuốn hút tôi. Càng hát tâm hồn ta càng thánh thiện hơn lên.

Cuối năm 1976 MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN được in trên báo sài Gòn giải phóng. Nhưng rồi số phận của nó cũng lại bị “người ta lãng quên”. Vào thời điểm đó, những bài hát mang tính Tụng ca ồn ào đang chiếm lĩnh diễn đàn.

Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.”

Mãi hai mươi năm sau, MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN mới được các “Nhà Đài nước ta” dàn dựng và phát sóng. Từ đó đến nay MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN ngày càng được đông đảo công chúng yêu thích.
MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN của Văn Cao đã khẳng định được giá trị đích thực của nó.

V.T
(179-180/01&02-04)

[footer]

Cô Láng Giềng (Hoàng Quý)

Trong một bài viết về nhạc phẩm “Bến Xuân”, chúng tôi có đề cập đến mối tình hay có thể chỉ là những rung động đầu đời của một chàng trai trẻ mới ngoài đôi mươi Văn Cao với người đẹp Hoàng Oanh. Hôm nay, để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin, [dongnhacxua.com] xin trân trọng giới thiệu bản “Cô Láng Giềng” của nhạc sỹ Hoàng Quý, người anh cả của nhóm Đồng Vọng và cũng là một người bạn thân của Văn Cao.

Bìa nhạc "Cô láng giềng" xuất bản trước 1975. Ảnh: trungtamasia.com
Bìa nhạc “Cô láng giềng” xuất bản trước 1975. Ảnh: trungtamasia.com

TỪ “BẾN XUÂN” ĐẾN “CÔ LÁNG GIỀNG”
(Nguồn: bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 14/04/2012)

Trong dòng nhạc tiền chiến, 2 ca khúc Bến xuân (của Văn Cao) và Cô láng giềng (của Hoàng Quý) chẳng có chút liên hệ. Tuy nhiên, hẳn ít ai biết đã có một “bóng hồng” chen vào giữa cuộc đời của họ.

"Cô láng giềng" trong tuyển tập nhạc tiền chiến. Ảnh: ThanhNien.com.vn
“Cô láng giềng” trong một tuyển tập nhạc sau 1975 . Ảnh: ThanhNien.com.vn

Em đến tôi một lần

Không ai có thể phủ nhận sự tài hoa của nhạc sĩ Văn Cao – cây đại thụ của nền tân nhạc. 16 tuổi đã có sáng tác đầu tay (Buồn tàn thu, năm 1939) và các tình khúc tiếp theo của ông được sánh vào hàng “siêu phẩm”: Suối mơ, Thiên thai, Cung đàn xưa,Bến xuân, Thu cô liêu, Trương Chi… Vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, những bài hát của Văn Cao đã lan tỏa từ bắc chí nam. Người có công đầu là Phạm Duy, lúc đó chưa sáng tác nhạc mà đi theo đoàn cải lương Đức Huy – Charlie Miều lưu diễn xuyên Việt, Phạm Duy chuyên hát “phụ diễn”, bài hát ruột là Buồn tàn thu. Tri âm đến nỗi Văn Cao đã đề tặng dưới cái tựa Buồn tàn thu trong bản nhạc: “Tương tiến Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn”. Còn những người hát nhạc Văn Cao ở phía bắc là ca sĩ Kim Tiêu (nam), Thương Huyền, Thái Thanh (nữ)… Văn Cao sinh năm 1923 tại Lạch Tray (Hải Phòng) nên tham gia vào nhóm Đồng Vọng của nhạc sĩ Hoàng Quý. Cũng chính ở thành phố biển này, Văn Cao đã gặp một giai nhân để rồi dòng nhạc tiền chiến có thêm một viên ngọc lấp lánh: ca khúc Bến xuân (đồng sáng tác với nhạc sĩ Phạm Duy).

Trong cuốn băng video Văn Cao – Giấc mơ đời người (đạo diễn Đinh Anh Dũng, Hãng phim Trẻ sản xuất năm 1995, tái bản năm 2009), trong phần giới thiệu ca khúc Đàn chim Việt (tức Bến xuân), nhạc sĩ Văn Cao tâm sự: “Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”… Người con gái ấy chính là Hoàng Oanh, nữ ca sĩ ở Hải Phòng (sau này trong miền Nam cũng có nữ ca sĩ Hoàng Oanh hiện ở hải ngoại, không phải Hoàng Oanh trong bài viết). Nhưng tại sao nhạc sĩ Văn Cao yêu mà không dám nói? Là bởi con tim của nhạc sĩ “chậm xao động” hơn hai ông bạn thân. Biết được cả Kim Tiêu lẫn Hoàng Quý đều đem lòng yêu thương Hoàng Oanh, chàng nhạc sĩ trẻ đành nín lặng, ôm mối tình đơn phương… Tuy thế, sau những lần gặp gỡ, qua ánh mắt, nụ cười nàng đã hiểu tấm chân tình của chàng. Rồi một hôm, Văn Cao đang ở Bến Ngự (Hải Phòng) thì nàng tìm đến. Không chỉ thăm suông mà nàng còn ngồi làm mẫu cho chàng vẽ (Văn Cao còn là một nhà thơ kiêm họa sĩ), rồi ân cần ngồi quạt cho chàng sáng tác nhạc… Có thể nói ca khúc Bến xuân không chỉ là một bài hát làm xuyến xao lòng người mà còn là một bức tranh hết sức sống động, một bài thơ với những ca từ đầy biểu cảm. Tóm lại cả ba năng khiếu (thơ, nhạc, họa) tài hoa của Văn Cao đều dồn vào Bến xuân: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến tôi một lần, bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân”. Hình ảnh thẹn thùng, khép nép của giai nhân trong nhạc của Văn Cao sao mà đáng yêu chi lạ: “Mắt em như dáng thuyền soi nước. Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân”. Hôm đó có lẽ nàng cũng có hát nữa nên mới “nghe réo rắt tiếng Oanh ca”. Bản nhạc được NXB Tinh Hoa ấn hành năm 1942 với lời ghi “nhạc: Văn Cao, lời: Văn Cao – Phạm Duy” (sau này nhạc sĩ Văn Cao đặt lời mới và đổi tựa thành Đàn chim Việt). Chẳng biết nhạc sĩ Phạm Duy “đóng góp” như thế nào trong phần lời nhưng ở đoạn cuối, rõ ràng là tâm trạng của Văn Cao: “Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác. Em vắng tôi một chiều. Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu. Từng đôi chim trong nắng khe khẽ ru u ù u ú. Lệ mùa rơi lá chan hòa” (dùng chữ “lệ mùa rơi lá” quá hay!). Cái cảnh chàng gột áo phong sương trở về bến cũ sao mà buồn đến nao lòng: “Người đi theo mưa gió xa muôn trùng. Lần bước phiêu du về chốn cũ. Tới đây mây núi đồi chập chùng. Liễu dương tơ tóc vàng trong nắng. Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xưa”.

Nàng đến thăm chàng một lần, rồi… thôi, chừng đó cũng đủ hiểu lòng nhau và đã quá lãng mạn. Sau này gia đình ca sĩ Kim Tiêu có dạm hỏi Hoàng Oanh nhưng hôn sự bất thành vì gia đình nhà gái thách cưới cao quá. Bản thân Kim Tiêu cũng gặp phải nhiều sóng gió và nghe nói chết trong nghèo đói ở thềm ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Rồi Hoàng Oanh lên xe hoa, trở thành vợ của nhạc sĩ Hoàng Quý. 

Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về

Nhạc sĩ Hoàng Quý sinh năm 1920 (lớn hơn Văn Cao 3 tuổi) và là thủ lĩnh nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng. Ông được biết tới như là một nhạc sĩ tiên phong sáng tác thể loại nhạc hùng, hát cộng đồng (tráng ca) với các ca khúc: Bên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Bóng cờ lau, Tiếng chim gọi đàn… Tuy nhiên, người ta nhớ đến Hoàng Quý nhiều nhất bởi ông là tác giả của ca khúcCô láng giềng bất hủ.

Thời điểm nhạc sĩ sáng tác Cô láng giềng cũng gần như cùng lúc với Văn Cao viết ca khúc Bến xuân (khoảng năm 1942, 1943). Lúc này Hoàng Quý phải rời Hải Phòng để lên Sơn Tây làm thư ký cho một trang trại nuôi bò. Chuyến đi khiến ông phải chia tay với người yêu (rất có thể là Hoàng Oanh). Ở Sơn Tây, Hoàng Quý luôn nhớ đến người yêu và mơ một ngày trở về. Đó là chất liệu để ông viết Cô láng giềng: “Hôm nay trời xuân bao tươi thắm. Dừng bước phiêu du về thăm nhà. Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi, tôi đã hình dung nét ai đang cười… Tôi mơ trời xuân đôi môi thắm. Đôi mắt nhung đen màu hạt huyền. Làn tóc mây cùng gió ngàn dâng sóng. Xao xuyến nỗi niềm yêu… Cô láng giềng ơi! Tuy cách xa phương trời tôi không hề. Quên bóng ai bên bờ đường quê. Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về…”.

Năm 2002, người viết có phỏng vấn nhạc sĩ Tô Vũ (em ruột nhạc sĩ Hoàng Quý), ông cho biết nhạc sĩ Hoàng Quý chỉ ở Sơn Tây 6 tháng rồi về quê. Trên đường về, ông có ghé Hà Nội thăm Tô Vũ (lúc đó còn dùng tên thật là Hoàng Phú) và đưa bản nhạc ra khoe với người em. Ông em (Tô Vũ) rất thích giai điệu của ca khúc này, liền xin phép đặt lời 2 cho bản nhạc. Đó là cảnh tượng và tâm trạng của chàng trai khi về tới đầu ngõ thì nghe tiếng pháo vu quy tiễn người yêu đi lấy chồng: “Trước ngõ vào sân vang tiếng pháo. Chân bước phân vân lòng ngập ngừng. Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao. Tôi biết người ta đón em tưng bừng… Đành lòng nay tôi bước chân ra đi. Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi. Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi. Đừng nói đến phân ly… Cô láng giềng ơi! Nay mối duyên thơ đành lỡ rồi. Chân bước xa xa dần miền quê. Ai biết cho bao giờ tôi về?”.

Hoàng Quý tham gia Việt Minh từ rất sớm và hoạt động tích cực trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Tiếc rằng tài hoa yểu mệnh, ông mất năm 1946 vì bệnh lao, khi mới 26 tuổi.

Người góa phụ trẻ Hoàng Oanh nửa đường gãy gánh không biết số phận sau này thế nào.

Hà Đình Nguyên

[footer]

Thiên Thai (Văn Cao): Tiếng Ca Trù Trên Sông Hương

Đây là bài viết của tác giả Trác Như gởi cho [dongnhacxua.com] và thể hiện ý riêng của tác giả về nhạc phẩm bất hủ ‘Thiên Thai’ của nhạc sỹ Văn Cao. Xin cảm ơn sự quý mến của Trác Như dành cho [dongnhacxua.com] và xin mạn phép đăng lại để bạn đọc gần xa có thêm thông tin thú vị.

thien-thai--0--van-cao--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com
Thiên Thai (Văn Cao). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

thien-thai--1--van-cao--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com thien-thai--2--van-cao--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

TIẾNG CA TRÙ TRÊN SÔNG HƯƠNG
(Nguồn: tác giả Trác Như gởi cho [dongnhacxua.com])

Năm 1940, một chàng trai Hải Phòng lưu lạc đến tận sông Hương ở Huế để rồi thai nghén một ý nhạc kéo dài cả mấy năm. Sông và núi ở Huế đã khiến Văn Cao mơ đến chốn tiên cảnh đã từng khiến hai chàng Lưu và Nguyễn quên cả lối về. Nguồn cảm hứng trên tưởng có lúc đã phôi pha  nhưng không ngờ lại trổi dậy khi người thanh niên 18 tuổi  trở về Hải Phòng và bất chợt nghe được điệu ca trù trên dòng sông Phi Liệt năm 1941. (1)
 
Ca khúc Thiên Thai chính thức được nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành ở Huế năm 1944 (2). Tuy sông Hương là nguồn sữa nuôi nấng giấc mộng bồng lai, nhạc sĩ đã chọn điển tích Trung Hoa làm bối cảnh cho bài hát, và sau cùng thì thanh âm phong phú và lả lơi của các ả đào đất Cảng đã giúp cảm xúc ông chín mùi để hoàn tất tác phẩm cổ điển này.
 
Chưa hề được nghe giọng ca của Kim Tiêu, người nghệ sĩ đầu tiên trình bày bản này thuở chiến tranh chống Pháp, chỉ biết trong các thập niên 60 và 70, hai tiếng hát gắn bó với Thiên Thai nhất vẫn là Thái Thanh và Hà Thanh. Tiếng hát Thái Thanh là một cọ vẽ có khả năng diễn đạt đủ loại ánh sáng và gam màu khác nhau. Những chấn động trong cảm xúc mà Thái Thanh mang đến cho Thiên Thai rất tương xứng với sự đa dạng và tinh tế của nhạc phẩm này, như Phạm Duy đã từng phân tích: “Văn Cao đã chuyển nét nhạc một cách rất tài tình, dùng những nốt-bán-cung để di chuyển rất nhanh chóng câu hát đi từ một chủ âm mineure này qua chủ âm mineure khác, cho ta thấy được rất nhiều mầu sắc của khung cảnh thần tiên này”. (2)
 
Hà Thanh (trái) & Thái Thanh (phải). Ảnh: tác giả Trác Như.
Hà Thanh (trái) & Thái Thanh (phải). Ảnh: tác giả Trác Như.
Hà Thanh thì ngược lại: trầm lặng và nhẹ nhàng hơn. Hà Thanh cho thính giả cơ hội để có những suy diễn riêng tư. Khác với bức tranh lộng lẫy mà tiếng hát Thái Thanh tạo ra, phần trình bày của Hà Thanh dường như có thể dùng để minh họa cho quan điểm của Nguyễn Đình Toàn: “Cái thế giới thần thoại của cổ tích không phải chỉ được Văn Cao minh họa bằng những màu sắc tuyệt vời mà hình như ông còn tạo dựng bằng pha lê nữa. Mọi góc cạnh đều rắn, chắc. Màu sắc của nó còn có thể biến đổi tùy thuộc chủ quan của người thưởng ngoạn nữa.” (3) Cái đẹp của thiên thai trong trường hợp này là cái  đẹp của vô tướng và tại đây  hạnh phúc chính là sự vắng mặt của những ràng buộc và bi lụy. Một thế giới không nhơ không sạch, không có bắt đầu và cũng chẳng có kết đoạn.
 
Nếu như Thái Thanh là tiếng ca trù đã giúp Văn Cao cụ thể hóa Thiên Thai thì Hà Thanh, tiếng hát đã được nhà văn Mai Thảo gọi là  “tiếng hát trên trời cao” (4), là dòng Hương luôn hiện hữu để lặng lẽ nuôi sống cái cảm hứng thuở ban đầu của người nhạc sĩ này. Ca khúc Thiên Thai chính là kết quả của những tiếng ca trù trên dòng Hương Giang vậy.
 
Tuy đã hơn một lần ghé qua xứ Huế, tôi chưa từng đặt chân đến Hải Phòng, quê hương của Văn Cao, người đã từng gọi mình là “người sông Ngự”. Tuy vậy, tôi có cảm giác Hải Phòng là những gì đối ngược với Huế.  Một bên nồng cháy, một bên thơ thẩn. Một bên reo hò bên sóng biển, một bên ngồi nhìn dòng sông trôi lững lờ. Một bên đỏ rực phượng vỹ, một bên thầm thì những rặng thùy dương. Mỗi bên là một nửa của Thiên Thai, nuôi nấng cho nhau những giấc mộng của “ngày tháng chưa tàn qua một lần”.
 
(1)  “Văn Cao – Người đi dọc biển” – Nguyễn Thụy Kha
(2) Hồi Ký – Phạm Duy
(3) “Nhạc sĩ Văn Cao” – Nguyễn Đình Toàn
(4) “Em Đã Hoang Đường Từ Cổ Đại”- casihathanh.wordpress.com
 
Trác Như
6/2014

[footer]

Mùa xuân đầu tiên

Không khí xuân đã tràn về trên những góc phố Sài Gòn: hàng quán nhộn nhịp và nhiều màu sắc sặc sỡ hơn, người người tấp nập hoàn thành nốt những công việc còn dang dở, trẻ em thì được ba mẹ dẫn đi mua quần áo mới… Tất cả làm nên một không khí náo nức, đặc trưng của ngày Tết. Như hòa mình cùng đất trời [dongnhacxua.com] xin giới thiệu hai bản nhạc xuân đặc sắc có cùng tên “Mùa xuân đầu tiên”, một của nhạc sỹ Tuấn Khanh và một của Văn Cao.

Nhạc phẩm của Tuấn Khanh viết trước 1975 nên chất chứa nhiều niềm hy vọng về một ngày quê hương thôi tiếng súng, nền hòa bình thật sự đến với dân tộc Việt Nam chúng ta. Thế rồi ngày đó cũng đã đến và ngay vào những ngày đầu sau 30.04.1975, một bậc tiền bối khác là Văn Cao đã đặt bút biết viết tác phẩm được cho là cuối cùng của đời mình cũng chỉ để diễn tả “mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên”.

Cũng giống như bản “Tình ca” của Phạm Duy và Hoàng Việt, vượt lên trên sự khác biệt về thời gian và không gian cùng quan điểm chính trị (sau hiệp định Geneva 1954 Tuấn Khanh vào Nam còn Văn Cao vẫn ở lại miền Bắc; rồi sau 1975 thì Văn Cao ở lại Việt Nam còn Tuấn Khanh vượt biên và hiện đang định cư tại Hoa Kỳ), cả hai bản “Mùa xuân đầu tiên” đều chuyển tải một thông điệp mang tính nhân văn: “xin yêu thương đến với hận thù” để “từ nay người biết yêu người”.

Trước thềm Xuân Giáp Ngọ 2014, [dongnhacxua.com] xin thắp một nén hương cho linh hồn cố nhạc sỹ Văn Cao và cầu chúc cho nhạc sỹ Tuấn Khanh dồi dào sức khỏe, vui hưởng tuổi già nơi xứ xa!

MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN (TUẤN KHANH)

[dongnhacxua.com] chúng tôi rất tiếc là không có nhiều tư liệu về bản “Mùa xuân đầu tiên” của Tuấn Khanh. Xin quý bằng hữu xa gần có thêm thông tin gì thì xin liên lạc với chúng tôi. Trân trọng cảm ơn!

Mùa xuân đầu tiên (Tuấn Khanh)
Mùa xuân đầu tiên (Tuấn Khanh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
mua-xuan-dau-tien--1--tuan-khanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com mua-xuan-dau-tien--2--tuan-khanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com mua-xuan-dau-tien--3--tuan-khanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN (VĂN CAO): MỘT TƯ DUY VƯỢT TRƯỚC
(Nguồn: tác giả Nguyễn Đăng Tấn đăng trên VietnamNet.vn)

Mùa xuân đầu tiên viết về sự kiện trọng đại của dân tộc. Đó là mùa xuân đầu tiên Bắc – Nam mới thật sự cùng chung vui một nhà, cùng hòa lòng người, tình yêu, tình thương để cùng đón tết.

Bây giờ thì bài hát Mùa xuân đầu tiên đã trở thành thân quen với mọi người, mọi nhà.

Bài hát có giai điệu nhẹ nhàng uyển chuyển, như một điệu valse. Ca từ giàu cảm xúc, sâu lắng và đẹp như một bài thơ. Người nghe cảm nhận và hòa lòng mình cùng bài hát, đồng cảm cùng giai điệu. Nhưng nhiều người vẫn chưa biết rằng bài hát có một số phận long đong.

Mùa xuân đầu tiên viết về sự kiện trọng đại của dân tộc. Đó là mùa xuân đầu tiên Bắc – Nam mới thật sự cùng chung vui một nhà, cùng hòa lòng người, tình yêu, tình thương để cùng đón tết. Trong ông những hình ảnh về mùa xuân của một đất nước trọn vẹn vẫn luôn ám ảnh. Những cánh én chao nghiêng, những tiếng gà gáy bên sông bình yên… Và cao hơn hết là tình yêu con người: ‘từ nay người biết thương người, từ nay người biết yêu người.’

Bài hát ra đời và tên bài hát là Mùa xuân đầu tiên vừa đúng với thực tiễn lại vừa rất người khi nói về sự thống nhất sự yêu thương của những đứa con cùng chung bọc trứng. Tuy nhiên sau khi ra đời bài hát không được đón nhận, mặc dù có được in trên báo Sài Gòn Giải Phóng. Thế là  bài hát được người nhạc sỹ cẩn thận bỏ vào ngăn tủ.

Nhưng từ một đất nước xa xôi phía trời Tây, đất nước mà bao thế hệ vẫn mơ về: “Nước Nga, ờ nước ấy” đã tuyển chọn và in bài hát của ông. Và nơi trình diễn đầu tiên, mùa xuân đầu tiên của bài hát, là đài phát thanh Moscow, nơi cất lên những âm thanh, và những lời ca đầu tiên của nó.

Nhạc sỹ Nguyễn Thụy Kha cho biết, dường như phải chờ đến khi Văn Cao tạ thế (10.7.1995) Mùa xuân đầu tiênmới thực sự loang sâu vào đời sống âm nhạc hôm nay. Đó là nỗi truân chuyên của từng tác phẩm. Phải nói rằng, trong những sáng tác âm nhạc của Văn Cao thì Mùa xuân đầu tiên được biết đến chậm nhất, phải sau 20 năm (1976 – 1996) phải tới mùa xuân đầu tiên, Văn Cao mãi mãi vắng trên cõi đời thì bài hát Mùa xuân đầu tiên của ông mới thực sự có đời sống.

Khác với những bài hát của nhiều nhạc sỹ khi viết về thống nhất đất nước, Văn Cao đã để cho sự kiện đi qua gần một năm trời. Những suy tư, những chiêm nghiệm cứ dày thêm mãi. Và ông khai thác sự kiện không phải là tiếng reo vui ngày đất nước giải phóng để muốn bay lên say ngắm đất nước. Theo Văn Thao con trai của nhạc sỹ: Ngày 30-4-1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, cả dân tộc reo vui. Văn Cao im lặng. Chỉ thấy đôi mắt ông sáng lên lấp lánh. Có một cái gì đó đang chuyển động trong đầu ông. Một âm thanh mơ hồ, mỏng mảnh như làn khói thoảng qua. Một tiếng gà gáy mênh mang. Một tia nắng lấp lánh. Và một cánh én… Những âm thanh, những hình ảnh chập chờn trong đầu ông rồi lại tan biến.

Nhạc sỹ Văn Cao.
Nhạc sỹ Văn Cao.

Và cảm xúc chỉ ùa về khi mùa xuân đến. Ông khẽ khàng ngồi bên phiếm đàn và giai điệu mượt mà bừng lên. Những cảm xúc lâu ngày ấp ủ, những suy tư dồn nén bật lên thành khúc nhạc reo vui. Có lẽ đó là cái vui của con người đã từng đi qua những năm tháng đau thương…vì vậy tiếng reo vui thật sự sâu lắng:

Rồi dập dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông gà đang gáy trưa
Bên sông một trưa nắng vui cho bao tâm hồn.

Tiếp theo người nhạc sỹ suy tư về mùa xuân trọn vẹn. Đó chính là sự suy tư về con người về tình yêu thương. Và chính sự suy tư này mà làm nên số phận long đong của bài hát:

Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
Ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm
Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người…

Nếu như dưới lăng kính bây giờ, chúng ta cảm nhận được sự kiện thống nhất đất nước là sự mở đầu của dân tộc về sự đoàn kết, yêu thương và hòa giải thì những điều mà nhạc sỹ viết như trên hàm chứa ý nghĩa sâu sắc, những triết lý sâu sắc về điều ấy. Tư duy người nhạc sỹ nhiều khi đã đi trước và chúng ta chưa kịp theo. Bởi vậy có những điều đôi khi vì rất nhiều nguyên nhân mà bị bỏ qua cũng có khi lại chú ý một cách thái quá.

Cũng đã xẩy ra với Văn Cao khi ông bị phê bình khi sáng tác bài hát: Tiến về Hà Nội. Người nhạc sỹ khi bị phê bình mà ngỡ ngàng. Bởi chính ông cũng không hiểu.

Những ca từ trong ca khúc Tiến về Hà Nội bừng bừng khí thế, náo nức ngày trở về: Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về/ Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng cờ ngày nào tung bay trên phố/ … Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/ Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh…

Trong chúng ta khi nghe bài hát đều nghĩ nó được viết trong những ngày tháng 10 lịch sử Giải phóng Thủ đô, khi đoàn quân đang rầm rộ tiến về. Nhưng ít ai biết rằng bài hát lại được viết từ rất sớm, trong lúc  cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước vào gia đoạn quyết liệt nhất. Những hình ảnh ông vẽ ra trong bài hát đã bị phê bình là lạc quan tếu.

Thế đấy trong những khó khăn, người nghệ sỹ vẫn mơ về (cũng có thể nhìn thấu ngày chiến thắng) sẽ đến, nhưng lúc đó sự nhìn thấu ấy chưa được công nhận. Sau này nhạc sỹ Huỳnh Minh Siêng (bút danh của nhạc sỹ Lưu Hữu Phước) may mắn hơn khi sáng tác bài Tiến về Sài Gòn cũng trước giải phóng đã được đón nhận và trở thành tiếng reo vui cùng đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn năm 1975..

Văn Cao cũng đã viết nhiều bài hát mà sự kiện chưa từng có trong thực tiễn. Đó là dự báo nhưng qua thời gian, những dự báo đó là chính xác. Các bài Không quân Việt Nam sáng tác đầu thập niên 40, khoảng năm 1945, lúc binh chủng này còn chưa được thành lập tại Việt Nam, hay Hải quân Việt Nam, Chiến sĩ Việt Nam…cho các binh chủng tương lai, trước khi ông lên Việt Bắc theo kháng chiến chống Pháp là những bài như vậy. Tác giả đã nhìn ra cái tất yếu sẽ đến. Đó chính là sự nhạy cảm là tư duy vượt trước.

Quay trở lại bài Mùa xuân đầu tiên, vượt lên tất cả đó là tình yêu thương con người với con người. Chúng ta cảm động khi nhạc sỹ lại nhắc lại lần hai khổ nhạc: rồi dập dìu mùa xuân theo én về… hình ảnh người mẹ nhìn đàn con nay đã về, đó chính là hình ảnh mơ ước. Cả dân tộc đã từng mơ ước rất lâu Bắc – Nam xum họp một nhà. Những chiến sỹ sẽ trở về. Trở về trong vòng tay mẹ. Những con người trở về với con người để cho: Nước mắt trên vai anh; giọt rơi ấm trên vai anh, niềm vui phút giây như đang long lanh. Để từ đó: Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.

Mùa xuân đến là sự gặp gỡ, gặp gỡ bạn bè người thân,và cao hơn là gặp gỡ những tâm hồn, những tấm lòng mà vẫn còn xa cách vẫn còn ngập ngừng. Và chỉ có sự kỳ diệu của lòng yêu thương, sự kỳ diệu của mùa xuân mới làm được điều đó. Những nốt nhạc, những cảm xúc trong Mùa xuân đầu tiên chính là nhịp cầu để xóa bỏ cách ngăn, con người tìm đến con người như người nhạc sỹ tài danh đã mơ ước để có những mùa xuân yêu thương,, mùa xuân trọn vẹn.

Và chúng ta vẫn tin có một mùa xuân như vậy.

[footer]

Văn Cao (1923-1995): Khoảng lặng đời người

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhạc sỹ Văn Cao (15/11/1923 – 10/07/1995), cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam, [dongnhacxua.com] xin được phép đăng lại một bài viết cho thấy một góc nhìn khác về những ‘khoảng lặng’ trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà nhạc sỹ. Qua bài viết này, xin được đại diện cho hàng triệu người yêu nhạc thế hệ sau, [dongnhacxua.com] kính chúc linh hồn Nhạc Sỹ vui hưởng hạnh phúc tràn đầy nơi chốn ‘Thiên Thai’, như trong một sáng tác bất hủ khác của ông!

Buồn tàn thu (Văn Cao). Ảnh: VietStamp.net
Buồn tàn thu (Văn Cao). Ảnh: VietStamp.net

buon-tan-thu--1--van-cao--vietstamp.net--dongnhacxua.com

CỐ NHẠC SỸ VĂN CAO: KHOẢNG LẶNG ĐỜI NGƯỜI
(Nguồn: XaHoi.com.vn)

Cố nhạc sĩ Văn Cao là một bậc kỳ tài trong nhiều lĩnh vực nhưng ông được biết đến nhiều nhất ở vai trò của một nhạc sĩ. Vẻ đẹp bảng lảng, thoát tục, giai điệu uyển chuyển của Buồn tàn thu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ,… đã làm say mê và cuốn hút bao người yêu nhạc. Cuộc đời nhạc sĩ Văn Cao có nhiều thăng trầm gắn liền với những biến thiên của lịch sử và sự khắc nghiệt trước cái nhìn của thời cuộc. Viết về ông, có lẽ cần cả một cuốn sách với cái nhìn thấu đáo. Bởi, đó là một cuộc đời lớn, cuộc đời của một thiên tài. Bài viết này chỉ là một nét phác họa về người nghệ sỹ tài hoa…

Chân dung Văn Cao. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.
Chân dung Văn Cao. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.

Vẻ đẹp tiên thiên trong tình ca

Đến giữa thập niên 30, nền tân nhạc Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc. Những cái tên như Lê Thương, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, Hoàng Quý,… đã tạo nên một diện mạo mới cho tân nhạc và gây ảnh hưởng lớn đến tinh thần thưởng ngoạn âm nhạc của giới trí thức lúc bấy giờ.

Trong dòng chảy đó, cuối năm 1939, Buồn tàn thu – ca khúc đầu tiên của nhạc sĩ Văn Cao ra đời. Năm đó ông vừa tròn 17 tuổi. Đầu năm 1940, Buồn tàn thu được chàng ca sĩ mê xê dịch Phạm Duy (nhạc sĩ Phạm Duy sau này) “gieo buồn đi khắp chốn” và tạo nên một hiệu ứng trong giới yêu nhạc thời ấy. Dù còn phảng phất sự ảnh hưởng của Lê Thương và Đặng Thế Phong nhưng Buồn tàn thu, với lời ca đầy chất thơ, tứ nhạc phong phú, nét nhạc thanh thoát đã hứa hẹn một tài năng. Quả vậy, sau đó ít lâu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ, Bến xuân, Thu cô liêu của Văn Cao qua tiếng hát Phạm Duy đã thổi một làn gió mát vào lòng người yêu nhạc, ngày ấy và cả bây giờ.

Nhạc sĩ Văn Cao tại nhà, tháng 7/1992. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha
Nhạc sĩ Văn Cao tại nhà, tháng 7/1992. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha

Ngay từ thời còn đi học, tài năng âm nhạc của Văn Cao đã sớm được bộc lộ. Văn Cao họ Nguyễn, bạn bè vẫn thường gọi ông bằng cái tên thân thuộc – anh Văn. Ông cất tiếng khóc chào đời vào ngày 15/11/1923 tại bến Bính, bên dòng sông Cấm, Hải Phòng. Cha (có tài liệu ghi là anh) của ông làm cai của nhà máy bơm nước ở bờ sông đó nên suốt thời niên thiếu, ông sống cùng tiếng ồn ào của cái máy bơm rất lớn nằm chình ình giữa nhà suốt ngày đêm hút nước từ dưới sông lên. Ông học tiểu học tại trường Bonnal, trung học ở trường Saint Joseph và được học nhạc sơ lược ở đây. Về sau, ông có học thêm nhạc lý ở lớp Tạ Phước nhưng lúc mới bắt đầu soạn nhạc, ông tự học và… bắt chước nhạc ngoại quốc! Sau này, bình nhạc Văn Cao, nhiều nhà chuyên môn cho rằng ông còn vài điểm kém về nhạc lý, nhạc điệu nhưng hết thảy đều công nhận ông thực sự là một bậc kỳ tài.

Cũng cần “Phải thừa nhận rằng, nếu không có giọng hát của Phạm Duy, nhạc Văn Cao cũng khó mà phổ biến; trái lại nếu không có Văn Cao, chưa chắc Phạm Duy đã sáng tác! Cả hai hỗ trợ nhau, cùng dìu nhau đi vào bất tử!” (Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đi qua đời tôi). Cố nhạc sĩ Phạm Duy, trong các bài viết sau này cũng nhiều lần nhắc đến tài năng của nhạc sĩ Văn Cao bằng sự kính trọng hết mực. Với giá trị hiển nhiên, nhạc Văn Cao đã vượt thoát qua cửa ải được trấn giữ lâu ngày bởi những đàn anh đi trước và đặt nền móng cho những thế hệ đi sau.

Tinh hoa phát tiết

Tài hoa của Văn Cao còn phát động sang nhiều lĩnh vực khác, nói như nhà văn Vũ Bằng thì, cái gì Văn Cao cũng biết, từ đàn ca, hát xướng cho đến vẽ vời. Trong đó, bên cạnh âm nhạc thì đáng chú ý hơn hết thảy là thơ ca và hội họa. Theo họa sĩ Tạ Tỵ, Văn Cao tuy chỉ học có hai năm ở trường Mỹ thuật Đông Dương với tư cách là sinh viên dự thính, nhưng lại có một tài họa kỳ lạ, hứa hẹn rất nhiều. Bức Cuộc vũ của những người tự sát theo trường phái lập thể được ông trưng bày trong “Cuộc triển lãm độc nhất” (Salon unique) hồi 1943 cùng hai bức Cây đàn đỏ và Đường cấm trong triển lãm tự do tại Liên khu ba vào năm 1949 đến giờ vẫn được nhiều họa sĩ nhắc đến. Văn Cao còn phát hành tuyển tập nhạc do ông tự tay trình bày bìa bằng những bức tranh avant garde rất độc đáo mà lúc đó chưa ai nghĩ ra cách như vậy. Tiếc là, qua nhiều dâu bể, những tác phẩm này chỉ còn lại trong ký ức của bè bạn ông.

Văn Cao, trong ký ức của bạn bè, rất tài hoa mà cũng quá đỗi tài tử. Sinh thời, ông mê rượu và thuốc lào. Một lần, nhà thơ Phùng Quán đang ngồi quán uống trà thì thấy Văn Cao cùng một người bạn liêu xiêu từ quán rượu bước ra. Văn Cao hỏi mượn Phùng Quán năm đồng, Phùng Quán vét sạch túi đưa hết cho ông ba đồng. Lát sau thì thấy bà Băng (vợ nhạc sĩ Văn Cao) hớt hãi đi tìm ông. Thì ra, ông đã để người khách từ Hà Giang xuống nhờ vẽ cái nhãn chè với thù lao 50 đồng và 10 gói chè loại I chờ dài cổ! Hôm sau, Phùng Quán hỏi, Văn Cao lắc đầu: “Mình cần tiền nhưng cũng vô cùng chán tiền!” Con người tài hoa, trong hoàn cảnh túng thiếu, thà vay mượn để thỏa cái sở thích của mình chứ không chấp nhận đem tài năng ra bán buôn, đổi chác !

Nhạc sĩ Văn Cao (thứ 2, từ phải qua) và bè bạn. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha
Nhạc sĩ Văn Cao (thứ 2, từ phải qua) và bè bạn. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha

Năm 1944, Văn Cao gia nhập Cách mạng và được giao soạn một bài hát nhân ngày kháng Nhật. Tháng 11 năm 1944, Tiến quân ca được hoàn thành nhưng mãi đến ngày 17/8/1945, nó mới thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình. Trong buổi mít-tinh của công chức tại Nhà hát lớn Hà Nội, Tiến quân ca được Phạm Duy “cướp micro” hát lần đầu tiên trước quần chúng. Sau 19/8, tên tuổi Văn Cao nổi như cồn. Đầu năm 1946, trong kỳ họp Quốc hội khóa đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội đã quyết định chọn Tiến quân ca làm Quốc ca của nước ta. Tiếp theo Tiến quân ca, nhạc sĩ Văn Cao hầu như chỉ viết những bản nhạc hùng ca Chiến sĩ Việt Nam, Bắc Sơn, Sông Lô, Tiến về Hà Nội,… duy có Ngày mùa và Làng tôi (1947) mang đậm âm hưởng dân ca.

Theo Vũ Bằng, khi Văn Cao nổi tiếng về nhạc, người ta mới giở lại những bài thơ của Văn Cao được đăng tải trên Tiểu thuyết thứ Bảy cùng vài tờ báo khác. Đến lúc đó người ta mới thấy thơ Văn Cao hay cũng như nhạc của ông. Vậy là thơ Văn Cao được đưa ra mổ xẻ và ca ngợi ầm lên, Văn Cao thành ra một thứ “sản phẩm trác tuyệt của những năm bốn mươi”! Theo thời gian, thơ Văn Cao vẫn có chỗ đứng riêng, vì giá trị thực của nó chứ không lóe lên chỉ vì sự tung hô nhất thời với những bài thơ đậm chất thời sự như Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Ngoại ô mùa đông 46, Những người trên cửa Biển cùng nhiều bài thơ khác được in trong tập Lá, xuất bản năm 1988.

Một khoảng lặng…

Sau 1954, nhạc sĩ Văn Cao hầu như không viết nhạc nữa (hiếm hoi có Mùa xuân đầu tiên được ông viết vào năm 1976). Nguyên nhân sâu xa của việc này là do ông cảm thấy ám ảnh sau việc bắn Đỗ Đức Phin – tay mật thám của Nhật vào năm 1945 tại Hải Phòng. “Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy, thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng, và chỉ viết nhạc-không-lời.”

Khi xảy ra vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm vào năm 1958, Văn Cao cũng như nhiều văn nghệ sỹ có liên quan bị đẩy vào bóng tối. Bản Tiến quân ca, vì thế cũng chịu nhiều thăng trầm như người viết ra nó. Tuy nhiên, với giá trị tất yếu, Tiến quân ca vẫn là Quốc ca của nước ta cho đến ngày hôm nay cũng như vị trí vững chắc của nhạc sĩ Văn Cao trong lòng người yêu nhạc. Năm 1983, lần đầu tiên sau nhiều năm, những nhạc phẩm của nhạc sĩ Văn Cao được hát trở lại. Năm năm sau, cái án Nhân văn được dở bỏ. Ba mươi năm, đủ để bãi bể hóa nương dâu, đủ dằng dặc để thui chột mọi sự sáng tạo, đủ khủng khiếp để gò ép một tinh thần. Vết xước xưa khó lành nhưng ít nhất cũng có những thứ được trả về đúng với giá trị vốn có của nó.

Nhạc sĩ và người vợ tảo tần – bà Nghiêm Thúy Băng. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.
Nhạc sĩ và người vợ tảo tần – bà Nghiêm Thúy Băng. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.

Ngày 10/7/1995, nhạc sĩ Văn Cao ôm giấc mơ đời người về với cõi thiên thai…

Viết về ông, với cái nhìn của một người trẻ lớn lên trong sự bùng nổ của rất nhiều trào lưu âm nhạc, tôi chợt nhớ đến một câu thơ trong bài Hoàng hạc lâu của thi sĩ Thôi Hiệu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Con người ấy – với sự vĩ đại của một thiên tài, như nhà báo Nguyễn Thụy Kha nhận xét “Văn Cao là trời cho” và một nhân cách đáng trọng – cũng như một loài chim quý, ra đi không bao giờ trở lại và cũng không có sự lặp lại, mang theo bao sự vấn vương, ngưỡng mộ và đồng vọng của hậu thế.

[footer]