Thế là cuối cùng nhạc sỹ Thanh Tùng cũng ra đi mãi mãi sau gần 10 năm chống chọi với bệnh tật. [dongnhacxua.com] xin gởi lời chia buồn sâu sắc đến gia quyến và cầu mong linh hồn ông sớm an nghỉ nơi hạnh phúc vĩnh hằng!
Nhạc sĩ Thanh Tùng trên xe lăn tại nhà riêng ở Hà Nội vài tháng trước. Ảnh: vnExpress.net
Thông tin về sự ra đi của nhà nhạc sỹ đáng kính tràn ngập trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong ngày hôm nay. Điều đó cho thấy nhạc sỹ Thanh Tùng đã để lại nhiều tình cảm quý mến trong lòng người yêu nhạc qua nhiều thế hệ. Như một lời tri ân, [dongnhacxua.com] xin giới thiệu một sáng tác chung giữa Thanh Tùng và nhạc sỹ Hình Phước Liên mà tuổi trẻ chúng tôi vẫn thường nghêu ngao vào đầu thập niên 1980 “Cây đàn guitar của Lorca”. Trong đó chúng tôi tâm đắc nhất là câu: “Nếu tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn guitar”. Mong sao một tâm hồn nghệ sỹ như nhạc sỹ Thanh Tùng sẽ thanh thản ra đi sau khi đã để lại cho hậu thế một kho tàng âm nhạc đáng trân trọng!
NHẠC SỸ THANH TÙNG – TRÁI TIM CA HÁT LÃNG DU (Nguồn: tác giả Anh Sa viết trên vnExpress.net)
Âm nhạc Thanh Tùng là tiếng hát của những trái tim yêu đời, yêu người, với nỗi buồn nhẹ nhàng, trong sáng nhưng đầy day dứt.
Nhạc sĩ Thanh Tùng qua đời. Ngoài những lời tiếc thương, dường như mỗi người yêu mến ông đều nhớ đến ít nhất một ca khúc đã gắn với câu chuyện nào đó, ký ức nào đó hay đơn giản chỉ là chút lòng nào đó của họ.
“Lối cũ ta về, vườn xưa có còn, hoàng hôn trong gió, thoảng hương ngọc lan…”
“Em đừng ngồi buồn và đừng nói những lời giận hờn, để bầu trời xanh ngát như màu xanh trong mắt em. Em hãy nhìn cuộc đời, trong một đời có những cuộc đời. Em hãy nhìn vào lòng người, trong lòng người có cả mọi người, có em và có tôi…”
“Em và tôi, xa nhau thấy nhớ gần nhau giận hờn. Em và tôi, những tiếng ca vui, những khúc nhạc buồn. Em và tôi, mỗi người một nửa cuộc đời…”
Dù ngồi xe lăn những năm cuối đời, nhạc sĩ Thanh Tùng vẫn giữ vẻ phong lưu. Ảnh: Quý Đoàn.
Âm nhạc của Thanh Tùng dường như đã ở đó rất lâu trong trái tim mọi người. Những giai điệu dễ dàng cất lên từ tâm trí của bất kỳ ai như rất thân quen. Mỗi người đều có thể bắt gặp mình trong những bài hát của Thanh Tùng. Họ có thể rơi nước mắt, có thể mỉm cười nhẹ nhàng khi câu hát nào đó cất lên. Những ca khúc cũ mà luôn mới bởi âm nhạc của ông là nắng, mưa, hoa, gió, là buổi sớm mai, là buổi chiều tàn, là đời sống. Có chăng sự tinh tế của người nhạc sĩ đã biến những điều tự nhiên ấy trở nên đẹp đẽ, thấm đẫm chất thơ.
Những ca khúc của Thanh Tùng chứa đựng nỗi buồn, ám ảnh, day dứt nhưng là nỗi buồn trong sáng, lạc quan trước cuộc sống chứ không bi lụy: “Hát đi em, hát lên những lời trái tim. Để với tiếng ca bỗng như ta gần nhau thêm. Có tiếng hát ai như cơn gió mát, giọt lệ nào là dòng suối trong veo. Như là tôi đang ở trong em đó, như tim em nằm ngủ trong tim tôi. Cách xa đâu là lãng quên, để nhớ thương nhuộm hồng trái tim…”.
Thanh Tùng sáng tác khoảng hơn 30 bài, chủ yếu là tình ca. Không phải một kho nhạc đồ sộ về dung lượng, đa dạng về đề tài nhưng ca khúc nào cũng nổi tiếng và dễ dàng đi vào lòng công chúng. Đó là Chuyện tình của biển, Chuyện cổ Nghi Tàm, Đếm lá ngoài sân, Em và tôi, Giọt nắng bên thềm, Giọt sương trên mi mắt, Hát với chú ve con, Hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta, Hoa cúc vàng, Hoa tím ngoài sân, Hoàng hôn màu lá, Lối cũ ta về, Lời tỏ tình mùa xuân, Mưa ngâu, Một mình, Ngôi sao cô đơn, Phố biển, Trái tim không ngủ yên, Vĩnh biệt mùa hè, Một thoáng quê hương… Giai điệu các ca khúc thường nhẹ nhàng, tươi tắn, có chút lãng đãng đúng như tâm hồn lãng du của Thanh Tùng.
Hình ảnh vợ Thanh Tùng xuất hiện trên màn hình trong đêm nhạc “Lối cũ ta về” của ông năm 2011. Lúc này, sức khỏe vị nhạc sĩ đã yếu nên không thể có mặt trên sân khấu. Ảnh: vnExpress.net
Sinh thời, Thanh Tùng nổi tiếng đào hoa, đa tình. Trước khi bị đột quỵ và phải ngồi xe lăn năm 2008, cuộc đời chàng nhạc sĩ hào hoa xứ biển Nha Trang là những tháng ngày rong ruổi hát ca. Người như ông khi còn trẻ biết bao cô gái si mê. Nhưng dù mang tâm hồn ca hát lãng du, trái tim ông lại chỉ dành cho duy nhất người vợ đã mất. Bà ra đi từ đầu những năm 1990, sau 18 năm bên ông. Người đàn ông đó đã có lúc yếu đuối và gửi lòng mình vào ca khúc Một mình.
“Gió nhớ gì ngẩn ngơ ngoài hiên. Mưa nhớ gì thì thầm ngoài hiên. Bao đêm tôi đã một mình nhớ em. Đêm nay tôi lại một mình…”
Người ta nói đàn ông thường khóc khô. Với Thanh Tùng, Một mình như một tiếng nấc dồn nén tất cả nhớ thương dành cho người vợ quá cố. “Nhớ em vội vàng trong nắng trưa. Áo phơi trời đổ cơn mưa. Băn khoăn khi con đang còn nhỏ. Tan ca bố có đón đưa…”, “Nhớ em giọt mồ hôi tóc mai. Gió sương mòn cả hai vai…”. Cái hay của Thanh Tùng là khi nghe ca khúc của ông, mỗi người phụ nữ đều cảm thấy trong đó bóng dáng của mình, đều thấy như là viết cho mình.
Cách đây vài tháng, trên chiếc xe lăn tại nhà riêng ở Hà Nội, dù không còn nói được, khi được hỏi ông thương ai nhất, nhạc sĩ Thanh Tùng lấy hết sức nói gần tròn vành rõ chữ: “Bà”. Con trai nhạc sĩ – anh Nguyễn Thanh Thông – cho biết các con cũng có lần hỏi bố về ý định đi bước nữa nhưng ông vẫn ở vậy làm gà trống nuôi con để ba người con hiện đều thành công trong cuộc sống.
Thanh Tùng mất nhưng âm nhạc của ông còn. Có lẽ, ông cũng chẳng đi đâu xa. Trái tim ca hát của ông vẫn lãng du đây đó như thường khi rồi về ngồi lặng bên thềm nhà. Ở nơi đó, thời gian qua như quy luật tự nhiên, cuộc sống trôi đi như vốn có, như những câu hát mà ông từng viết:
“…Hoa vẫn hồng trước sân nhà tôi Chim vẫn hót sau vườn nhà tôi Một sớm mai kia Chợt thấy hư vô trong đời Người vẫn đâu đây, người cũng đã như xa rồi Chỉ là… thế thôi…”.
Đối với những Kito hữu, hôm nay là một ngày Chủ Nhật đặc biệt vì đó là Chủ Nhật thứ V mùa Chay mà ngày xưa còn gọi là “Chủ Nhật Ném Đá”. Sở dĩ có tên gọi “Chủ Nhật Ném Đá” là vì thông điệp của Chủ Nhật V Mùa Chay là một thông điệp về tình yêu và lòng tha thứ, vượt lên trên sự trừng phạt bằng cách ném đá đến chết đối với tội ngoại tình theo lề luật Do Thái xưa. Đôi nét về tôn giáo như thế để quý vị yêu nhạc hiểu rõ hơn về một bản nhạc rất đặc biệt của nhạc sỹ Song Ngọc mà [dongnhacxua.com] hân hạnh giới thiệu hôm nay: “Chuyện người đàn bà 2000 năm trước”.
Nhạc sĩ Song Ngọc có gởi tặng cho đời nhạc phẩm “Chuyện Người Đàn Bà 2000 Năm Trước”. Nhạc phẩm này nói về một câu chuyện thật lạ lùng, xảy ra khoảng 2000 năm về trước tại xứ Do Thái, được ghi lại trong Kinh Thánh. Trong câu chuyện, một phụ nữ bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Theo luật lệ của xã hội Do Thái ngày đó, một phụ nữ phạm tội ngoại tình thì sẽ bị xử tử. Những người bắt quả tang phụ nữ này đang phạm tội là những bậc tu sĩ và những người có thẩm quyền trong xã hội trong thời đó. Các nhân vật này là những người thi hành luật pháp triệt để và do vậy, cái chết là định mệnh, là điều chắc chắn sẽ xảy đến cho người phụ nữ xấu số này. Nàng bị vực ra ngoài và công chúng đang vây quanh, chất đá lại, chuẩn bị thi hành cái bản án tử hình mà mặc nhiên ai ai cũng công nhận. Nếu quý vị và tôi đặt mình vào hoàn cảnh cùng đường của nàng, chúng ta sẽ thấy ra sao?
Trong tiết mục “Đời Sống Phước Hạnh” chiều hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị đi ngược lại dòng thời gian 2000 năm, trở lại với khung cảnh của câu chuyện này, dưới cái nhìn và cảm nghĩ của người phụ nữ trong câu chuyện.
“Những bước chân thật nặng nề ngoài sân báo cho nàng biết những người đi ruồng bắt sắp ập tới, trước cả khi nàng thấy họ xuất hiện tại ngưỡng cửa. Nàng biết mình đã bị bắt tại trận. Tại sao nàng không suy nghĩ về điều này trước, để khỏi bị bắt quả tang như thế này? Bây giờ chẳng còn chạy thoát vào đâu được nữa.
Ngay lập tức, nàng nhận ra ngay những người đang bước vào cửa. Họ là những người làm việc ở trong đền thờ, và nếu họ là những người sẽ xét xử nàng trong việc này, thì trước phiên tòa, sự việc không chỉ dừng lại ở những câu hạch hỏi mà thôi. Trong thâm tâm, nàng biết số phận nàng đã bị định đoạt rồi, trừ khi có phép lạ gì xảy ra mà thôi. Đã từ lâu, nàng chẳng biết thế nào là là tình yêu chân thật nữa và nàng đã thôi, không còn mộng mơ tìm kiếm một tình yêu chân thật trong đời. Nàng chỉ mong người ta mở lòng khoan dung nàng, nhưng những người bắt nàng đang trói nàng thật chặt. Chẳng hy vọng gì được tự do. Nàng biết thân phận của mình. Nàng biết mình tội lỗi và đã từ lâu có nhiều người trong thành phố xì xầm bàn tán về nàng. Thật ra thì nàng cũng nghĩ ngợi về những điều này. Nàng biết mình bị khinh dễ và bị chìm đắm trong tuyệt vọng từ lâu. Tội lỗi vây kín tâm hồn, đời sống nàng và tội lỗi cũng chẳng thương xót nàng. Cái chết đau đớn và nhục nhã đang gần kề, cho đến khi nàng bị người ta điệu đến trước một con người mang tên Giê-xu…”
Kính thưa quý thính giả,
Gioan là người tường thuật lại câu chuyện trên, kể lại rằng, buổi sáng hôm đó, Chúa Giê-xu đang ngồi trong đền thờ; dân chúng vây chặt chung quanh Ngài vì họ đang bị thu hút bởi những lời giảng dạy thật đơn giản nhưng tràn đầy tình thương và chân lý của Ngài. Thình lình, các giáo sư luật và các tu sĩ phái Pha-ra-si mang đến cho Ngài người đàn bà bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Cảnh tượng bỗng trở nên huyên náo, ồn ào, pha lẫn với những lời miệt thị, khinh dễ của đám đông trước người đàn bà tội lỗi này. Người đàn bà bị dẫn tới và ném nằm phủ phục dưới chân Chúa Giê-xu. Người tu sĩ dòng Pha-ra-si la lớn tiếng với Ngài: “Thưa thầy, chị nầy bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình. Theo luật Môi-se, người ngoại tình phải bị ném đá xử tử. Còn Thầy nghĩ sao?”
Quý thính giả thân mến,
Tội lỗi làm ngăn cách. Tội lỗi cản trở chúng ta đến gần với Thiên Chúa, mang lại cảm giác trống vắng và sợ hãi trong cuộc đời. Tội lỗi làm chúng ta mù lòa, thúc đẩy chúng ta tìm kiếm những tham vọng giả dối, sẽ là những niềm đau khổ cho cuộc sống của chúng ta. Đó chính là tình trạng của người đàn bà này. Không ai cảm thấy cô đơn, tủi nhục và sợ hãi như nàng lúc bấy giờ.
Sau khi tuyên bố về tội ngoại tình, lại bị bắt quả tang, của người đàn bà, người lãnh đạo đền thờ lùi lại một bước, mặc nhiên dồn Chúa Giê-xu vào vị thế của một người phán xử và chờ xem phản ứng của Ngài. Một số chi tiết cần biết khác của câu chuyện; đó là những tu sĩ dòng Pha-ra-si, cũng là những nhà làm luật, là những người có thẩm quyền to lớn trong đến thờ và chính quyền của Do thái lúc bấy giờ và họ rất ghét Chúa Giê-xu. Mặc dù Chúa Giê-xu đã thực thi bao phép lạ để chữa bịnh và cứu người, cũng như sự giảng dạy của Ngài tràn đầy chân lý và tình thương, nhưng sự kiêu ngạo đã làm cho các tu sĩ Do thái không nhận ra con người mang tên Giê-xu chính là Thiên Chúa, đã giáng trần để cứu vớt nhân loại ra khỏi vòng vây hãm của tội lỗi và đau khổ triền miên.
Hôm nay, nhân bắt được quả tang một phụ nữ phạm tội ngoại tình, họ muốn biến cơ hội này thành một cái bẫy đặt bắt bớ và có cớ hạch hỏi Ngài. Mặc dầu trong lòng rất ghét Ngài, nhưng bên ngoài, họ tâng bốc khi kêu Giê-xu là “Thầy” để mong Ngài dễ sập bẫy. Mặc dầu là giáo sư luật và hiểu rõ luật lệ hơn ai hết, nhưng họ đã vặn vẹo, tự ý thay đổi luật, khi tuyên bố rằng “người ngoại tình phải bị ném đá”, vì Môi-se ngày xưa chỉ cho phép ném đá khi một phụ nữ đang đính hôn, nhưng lại phạm tội ngoại tình trước ngày hôn lễ. Đó là chưa kể đến sự kiện tại sao họ chỉ đưa ra người đàn bà để phán xét, như vậy, người đàn ông cùng phạm tội ngoại tình với nàng ở đâu? Và tại sao họ không giam nàng một nơi, rồi tới hỏi ý kiến Chúa Giê-xu, thay vì áp dẫn nàng trước đám đông để làm nhục nàng và dồn Chúa Giê-xu ở vào một tình thế vô cùng khó xử?
Nếu Chúa Giê-xu đồng ý với luật Môi-se, tán thành việc xử tử người đàn bà ngoại tình, thì họ sẽ lên án là Ngài “bất nhất”, vì Ngài đã từng tuyên bố Ngài là Chúa Cứu Thế, là “Bánh Từ Trời” đến thế gian “không phải để kết tội nhưng cứu vớt loài người”. Nếu con người Giê-xu thực sự là Chúa Cứu Thế, thì Ngài phải luôn luôn nhu mì, giàu lòng thương xót chứ. Đó là chưa kể, nếu Ngài đồng ý xử tử nàng, Ngài sẽ bị họ kết án là dám tước quyền phân xử của chính quyền La Mã đang cai trị nước Do Thái thời bấy giờ.
Còn nếu Chúa Giê-xu không đồng ý xử tử nàng, nhưng tha nàng, thì Ngài sẽ bị lên án là kẻ “phá hoại luật pháp và lời tiên tri” được ghi trong Kinh Thánh, là kẻ đồng lõa với tội lỗi, không thể hiện sự mẫu mực của một đấng tiên tri hay sự thánh khiết trọn vẹn của Thiên Chúa.
Sứ đồ Gioan kể tiếp câu chuyện như sau: “Họ cố ý gài bẫy để tìm lý do tố cáo Ngài. Chúa cúi xuống, lấy ngón tay viết trên mặt đất. Vì họ cứ hỏi mãi, Chúa đứng dậy trả lời: “Trong các ông, người nào vô tội hãy ném đá chị ấy trước đi!”Chúa lại cúi xuống viết trên mặt đất. Nghe câu ấy, họ lần lượt bỏ đi, người lớn tuổi đi trước.”
Quý thính giả thân mến,
Thay vì vướng vào cái bẫy của các tu sĩ và luật gia, Chúa Giê-xu đã không đả động đến vấn đề luật pháp hay làm đau đớn thêm nỗi tủi nhục của người đàn bà ngoại tình, nhưng Ngài đã hỏi một câu đi thẳng vào tấm lòng của những con người kiêu ngạo và mù quáng. Chúa Giê-xu hỏi họ: “Trong các ông, người nào vô tội?”. Câu hỏi thật đơn sơ này của Chúa Giê-xu đã làm thức tỉnh những người có mặt hôm đó; đã biến tòa án xử tội người đàn bà ngoại tình trở thành tòa án phán xét của lương tâm trong lòng mỗi người. Chỉ trước đó vài phút, những tu sĩ và luật gia tự cho mình là đủ tư cách để phán quyết về hành vi của người khác, nhưng trước tòa án lương tâm, họ đã cả thẹn, yên lặng và lần lượt bỏ đi.
Câu hỏi của Chúa Giê-xu thật đơn sơ, nhưng khẳng định một chân lý quan trọng rằng “Mọi người đều đã phạm tội”. Có thể chúng ta không phạm pháp, hay không bị bắt quả tang như người đàn bà trong câu chuyện, nhưng không ai là vô tội trước mặt Thiên Chúa cả. Và trước mặt Ngài, mọi tội lỗi, dù nhỏ hay lớn, dù dưới bất kỳ hình thức nào, cũng đều là tội, đều làm thương tổn đến Ngài. Một lời nhận xét cẩu thả, một suy nghĩ kiêu ngạo, một lời giận dữ thốt ra vội vã, một thái độ cay đắng dai dẳng, tất cả đều nguy hại như tội ngoại tình của người đàn bà 2000 năm về trước.
Lời nói của Chúa Giê-xu không những tràn đầy chân lý, những cũng chan chứa tình thương. Chiếu theo luật pháp, người đàn bà ngoại tình này đáng bị xử tội, nhưng trong đôi mắt nhân từ của Chúa Cứu Thế, nàng cũng như tất cả chúng ta, cần nhận sự thương xót, ân huệ và sự tha thứ từ Thiên Chúa. Sau khi mọi người bỏ đi, chỉ còn lại một mình Ngài với người đàn bà, Ngài không đã không lên án, nhưng đã tha thứ nàng, khi Ngài nói “Tôi cũng không xử tội chị đâu”.
Tình thương của Thiên Chúa không có nghĩa là Ngài dung thứ và chấp nhận tội lỗi của chúng ta, nhưng tình thương của Ngài sẽ biến đổi chúng ta, từ một tội nhân trở nên một người mới, tràn đầy tình thương và khao khát làm điều lành. Tình thương, sự nhân từ và lòng tha thứ của Chúa Giê-xu đã hoàn toàn chiếm hữu tâm hồn người đàn bà ngoại tình 2000 năm trước. Chúng ta có thể đoan chắc, nàng ra về và từ bỏ đời sống ngụp lặn trong bùn nhơ trước kia, vì khi Chúa Giê-xu hỏi: “Này chị, họ đi đâu hết cả? Không có ai lên án chị sao?”, thì nàng trả lời “Thưa Chúa, không ai cả”. Nàng đã gọi Giê-xu là Chúa và xưng nhận Ngài là Cứu Chúa của đời nàng.
Kính thưa quý thính giả,
Qua câu chuyện trên, quý vị và tôi thấy mình là ai trong câu chuyện này? Quý vị và tôi có đang khoác trên mình một chiếc áo tôn giáo hay một triết lý cao siêu, tự cho mình tốt đẹp, ít tội và có quyền phán xử người khác, hay quý vị và tôi đang khổ đau với những mặc cảm tội lỗi đêm ngày? Quý vị là người còn có thanh danh hay đã bị bắt quả tang? Nhưng dầu là ai đi nữa, tất cả chúng ta cần được Thiên Chúa thương xót và tha thứ, vì tất cả chúng ta không ai là trọn vẹn trước mặt Ngài và lương tâm chúng ta biết rõ điều này. Theo đúng luật công bình thì “Có tội thì phải đáng phải chết”, nhưng Chúa Giê-xu, chính là Thiên Chúa, vì thương nhân loại, đã hạ sanh làm người, và sau đó bằng lòng chết thế cho tội lỗi của quý vị và tôi trên cây thập tự, cách đây hơn 2000 năm về trước.
Kính thưa quý thính giả,
“Chuyện Người Đàn Bà 2000 Năm Trước” bắt đầu với người đàn bà phạm tội ngoại tình, nhưng câu chuyện đem đến cho mỗi chúng ta niềm hy vọng chứa chan vào sự thương xót và lòng tha thứ bao la của Thiên Chúa, qua những lời lẽ thật đơn sơ nhưng tràn đầy chân lý và tình thương của người đàn ông mang tên Giê-xu. Theo thiển ý của tôi, nếu nhạc sĩ Song Ngọc thay đổi tựa đề bài hát thành “Chuyện Người Đàn Ông 2000 Năm Trước” thì nghe càng hữu lý hơn. Quý vị thì nghĩ sao?
Kính chúc quý thính giả sớm mở tấm lòng đón nhận Thiên Chúa nhân từ vào đời sống mình.
Có nhiều mối tình nghệ sỹ đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tân nhạc Việt Nam. Hôm nay [dongnhacxua.com] xin trân trọng giới thiệu mối tình của nhạc sỹ Từ Công Phụng & Từ Dung.
Vùng trời kỷ niệm (Từ Công Phụng). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Trong sinh hoạt âm nhạc ở miền Nam trước năm 1975, có 3 cặp “uyên ương” thường xuất hiện trên sân khấu. Đó là cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, cặp Lê Uyên & Phương và cặp Từ Dung – Từ Công Phụng. Hai cặp đầu rất “nổi đình nổi đám”, trái lại cặp sau thì rất… bí ẩn !
Từ Dung và Từ Công Phụng
Thực ra thì với khán giả lứa tuổi trung niên, nhiều người vẫn còn nhớ đến cặp song ca Từ Dung – Từ Công Phụng bởi cái “e” nhạc của họ. Không dữ dội, nồng nàn như Lê Uyên Phương hoặc triết lý cao siêu như nhạc Trịnh, nhạc của Từ Công Phụng đầy chất trữ tình, êm ái với ca từ trau chuốt, sang trọng…
Trai tài gặp giai nhân
Từ Công Phụng sinh năm 1942 tại Văn Lâm (Phan Rang, Ninh Thuận), là người dân tộc Chăm, với những tố chất âm nhạc phát triển trong tâm hồn từ rất sớm. Cậu bé họ Từ đã từng ngây ngất khi nghe người anh cả đệm đàn guitar hát Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong) hoặc Trương Chi (Văn Cao)… Mày mò học đàn với người anh rồi Từ Công Phụng trở thành cây văn nghệ nòng cốt của các trường trung học Duy Tân, Phan Rang, Đà Lạt, với giọng hát rất truyền cảm. Không qua một trường lớp chính quy nào, nhưng với năng khiếu bẩm sinh và tâm hồn nhạy cảm, năm học lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ) anh viết tác phẩm đầu tay Bây giờ tháng mấy lúc mới 18 tuổi (1960). Tuy nhiên do bản tính nhút nhát và không mấy tự tin vào tác phẩm đầu tay nên chỉ khi Từ Công Phụng lên sống ở Đà Lạt, hợp tác với Lê Uyên & Phương trong ban nhạc Ngàn Thông thì ca khúc Bây giờ tháng mấy mới được phát trên Đài phát thanh Đà Lạt và lập tức nổi tiếng… Từ đó, vừa tự học vừa sáng tác, Từ Công Phụng cho ra đời những ca khúc trữ tình mà sang trọng, chen lẫn chút chán chường, chua xót như: Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Tuổi xa người, Mắt lệ cho người…
Từ Dung là con gái của nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là cháu ruột của hai nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân). Cô sinh năm 1945, là con út trong số 4 người con (3 gái, 1 trai) của nhà văn. Từ Dung mồ côi cha năm 3 tuổi (Hoàng Đạo lên cơn đau tim và qua đời ngày 22.7.1948 trên chuyến xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu, Trung Quốc). Không biết bà Hoàng Đạo đưa các con vào Sài Gòn lúc nào nhưng người ta cũng đã ghi nhận trong đám tang nhà văn Nhất Linh vào ngày 7.7.1963, cô đội mũ tang đi trong đoàn người đưa tiễn. Năm 1965, Từ Dung tốt nghiệp tú tài toàn phần và đến năm 1969 lấy bằng cử nhân văn chương. Không chỉ học hành đến nơi đến chốn, Từ Dung còn là một giai nhân của Sài Gòn lúc bấy giờ, cô từng đoạt danh hiệu á hậu trong một cuộc thi sắc đẹp tại miền Nam với vẻ đẹp lộng lẫy và nổi bật làn da trắng…
Từ Dung rất say mê ca hát và được trời ban cho một chất giọng khá hay. Cô theo học thanh nhạc với ca sĩ Châu Hà (vợ của nhạc sĩ Văn Phụng). Chính môi trường này đã đưa đẩy Từ Dung gặp gỡ Từ Công Phụng. Ngoại hình to lớn nhưng phong thái lại rất nghệ sĩ, ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự của Từ Công Phụng đã chinh phục trái tim người đẹp.
Đoạn cuối cuộc tình
Lần đầu họ xuất hiện bên nhau là ở quán Văn trong khuôn viên Đại học Văn khoa với ca khúc Bây giờ tháng mấy vào năm 1967. Họ thường sinh hoạt ở quán Văn cùng thời với cặp Khánh Ly – Trịnh Công Sơn. Sau khi quán Văn đóng cửa thì họ chuyển về quán Gió của Nam Lộc trên đường Võ Tánh.
Năm 1971, Từ Dung bắt đầu xuất hiện trên ti vi và có mặt trong cuộn băng Tơ Vàng 3. Cô song ca với Từ Công Phụng hai bài: Vùng trời kỷ niệm, Mùa thu mây ngàn và đơn ca ba bài: Đêm không cùng, Lời cuối và Đêm độc thoại. Riêng ca khúc Trên ngọn tình sầu được phổ từ bài thơ nổi tiếng của Du Tử Lê Khúc thêm cho Huyền Châu. Đó không phải là bài hát Từ Công Phụng sáng tác riêng cho Từ Dung nhưng đã từng được đôi uyên ương này song ca. Ca từ (lời thơ) lại như viết sẵn, như tiên tri về cuộc tình của hai người: “Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về. Ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau. Tay vuốt mặt không cùng. Bầy sẻ cũ hom hem. Chiều mái xám rêu xanh. Trời êm cao chân nhỏ. Cũng không về trên dòng sông tội lỗi… Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh. Môi thâm khô từ thuở định hôn người. Ngày tháng hạ khi không mà trở rét. Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt. Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa…”.
Sau năm 1975, họ hùn vốn với một gia đình khác mở quán cà phê trên đường Trần Quang Khải (quận 1, TP.HCM) lấy tên là “Café Từ Dung”. Quán có cây đàn piano trắng, lâu lâu lại có violin, tức là chơi nhạc sống. Nhạc sĩ, ca sĩ hoặc ai lên hát thì khỏi phải trả tiền cà phê và thường thì hát “nhạc chui” tức là nhạc trước 1975. Trịnh Công Sơn, Lệ Thu và nhiều nghệ sĩ khác từng lui tới quán này…
Sống với nhau có một con gái thì Từ Dung – Từ Công Phụng chia tay, một cuộc chia tay lặng lẽ, chẳng ai biết được nguyên nhân…
Năm 1980, Từ Công Phụng sang Mỹ và lập gia đình với một người phụ nữ tên là Kim Ái. Thời gian này, Từ Dung còn ở lại Việt Nam, bà mướn một căn phòng trong cư xá Ngân hàng (quận 3) và có biểu hiện trầm cảm. Bà ít khi mở miệng nói với ai một lời nào. Đêm đêm, bà thường ngồi lặng lẽ trong bóng tối trước hiên thềm như một pho tượng. Một thời gian sau, Từ Dung qua cơn trầm cảm, cũng sang định cư tại Hawaii (Mỹ) và đã lập gia đình với một người đàn ông Mỹ.
Mái tóc của phái đẹp từ lâu đã đi vào dòng nhạc xưa qua nhiều sáng tác bất hủ. Hôm nay, DòngNhạcXưa xin mạn phép đăng lại bài viết có giá trị của ca sỹ Quỳnh Dao.
Một thương tóc xõa đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương đôi mắt như sao hiền mùa thu…
Chúng ta đều biết Đông và Tây ít khi gặp nhau và người Việt mình khác dân Tây phương về nhiều lĩnh vực. Chuyện ấy lý luận cả tháng chắc cũng không hết. Trong mục tạp ghi hôm nay, người viết chỉ dám đề cập đến cái rất riêng trong những cái chung của hai thế giới. Cái chung là Đông Tây gì thì cũng yêu cái đẹp và thích ca tụng vẻ đẹp. Cái riêng là cách tán tụng vẻ đẹp. Nói cho “huy hoàng” vào ngày cuối năm thì sự dị biệt của người mình và người ngoại quốc chính là “mỹ quan”.
Bảo rằng huy hoàng để cho vui thôi chứ người ta có nhiều cách so sánh chuyện riêng và chung của hai nếp văn hoá, trong khi Quỳnh Giao chỉ dám thu hẹp vào một lĩnh vực nhỏ xíu… bằng sợi tóc. Đó là những khúc tình ca viết về mỹ nhân với suối tóc.
Ngẫm lại thì nhạc ngoại quốc có lời từ ca tụng nhiều nhất là đôi mắt, ngay sau đó tới… thân hình. Còn các nhà thơ và giới sáng tác của chúng ta chỉ cần mê đôi mắt và.. tụng mái tóc thì “cũng đủ lãng quên đời”. Hèn chi mà Đinh Hùng viết “một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc….”
Vì vậy, xin nói về mái tóc trong các nhạc khúc xa xưa.
Từ thuở phôi thai của nền tân nhạc, Thẩm Oánh có bài “Suối Huyền” nhịp Slow, viết theo giai điệu Hạ Uy Di, nghe lả lướt óng chuốt, tiếc là đã lâu không còn ai hát lại nữa. Người viết thì còn nhớ hình bìa in ảnh cô Tâm Vấn với mái tóc dài, dợn sóng và khóe mắt hồ thu. Cũng theo lời thân mẫu kể lại thì ông viết để tặng mái tóc nổi tiếng ấy.
Nhớ lại thì cả Thẩm Oánh và Văn Phụng đều cùng thấy mái tóc óng mượt chảy xuôi như môt dòng suối.
Suối Tóc (Văn Phụng – Thy Vân).
Khi kết duyên cùng Châu Hà, nhạc sĩ Văn Phụng viết bài “Suối Tóc”, với lời của Thy Vân. Ca khúc có nét tân kỳ quý phái với điệu Boston dìu dặt như nhịp bước của đôi tình nhân. Không biết tác giả có lời yêu cầu với ông Thy Vân không, mà lời ca thì rõ là để tả mái tóc thời ấy của cô Châu Hà. Buông dài đến tận lưng, mầu nâu nhạt óng ả. Cho đến nay, ca khúc này vẫn còn được hát, đơn ca hay song ca, tam ca đều hay. Và dĩ nhiên người hát bài này tình tứ nhất là Châu Hà. Chứ còn ai nữa!..
Tìm cho thấy liễu xanh xanh lả lơi Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai…
Cũng có khi ca dao được dùng làm tựa đề như bài “Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài” của Phạm Duy một thời được những người con trong gia đình là ban Dreamers hát hằng đêm tại phòng trà Ritz. Như các tình ca khác của Phạm Duy, đến nay bài này vẫn thịnh hành. Cách hay nhất là song ca nam nữ.
Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc Thuở ấy anh vừa thôi học xong Yêu anh yêu anh em làm thơ Yêu em yêu em anh soạn nhạc…
Nhạc sĩ Nguyển Hiền có nét nhạc bay bướm mềm mại và viết bài “Mái Tóc Dạ Hương” phổ thơ Đinh Hùng rất đạt. Nhịp Boston êm đềm và cung Trưởng trong sáng làm cho ca khúc dễ hát dễ nghe. Ngày xưa Thanh Lan hát bài này trong cassette của Phạm Mạnh Cương rất dễ thương.
Từ giã hoàng hôn trong mắt em Tôi đi tìm những phố không đèn Gió mùa thu sớm bao dư vị Của chút ân tình hương tóc quen…
Cũng trong băng nhạc Phạm Mạnh Cương, Thanh Lan có hát bài “ Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè”. Bài hát có tựa đề giống tên dịch từ một cuốn phim chiếu ở Sài Gòn thời 70.
Ca khúc này được Phạm Mạnh Cương viết trên cung Trưởng, nhịp Boston .
Em buông lơi tóc thề Tình mình theo cơn lốc về Em như mưa nắng hạ Hôn bờ biển xanh sỏi đá…
Hồi còn làm nhân viên cho phòng kỹ thuật cho đài phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ Hoài Linh có sáng tác bài “Về Đâu Mái Tóc Người Thương”, thường được Thanh Thúy trình bầy và thính giả rất thích vì tưởng tượng ngay ra mái tóc rất đặc biệt của người nữ ca sĩ có nét đẹp rất Liêu Trai…
Hồn lỡ sa vào đôi mắt em Chiều nao xoã tóc ngồi bên rèm…
Ra hải ngoại, Quỳnh Giao được nghe và thích bài “Tóc Mây”, về sau mới biết là của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Bài này thường được các nhạc sinh học hát chọn để trình bầy, vì nét nhạc lên bổng xuống trầm thật thướt tha và lả lướt. Nhịp Slow chậm rãi trên cung Trưởng trong sáng. Người viết nghe nhiều version, nhưng thích nhất là giọng Thái Hiền khi diễn tả ca khúc này. Cô diễn tả được nét bơ vơ, phát âm rõ ràng tròn trịa và không cường điệu.
Như cánh hoa đêm đong đưa nụ tình Gọi mời cơn gió hôn lá trên cao Như cánh chim đêm bơ vơ một mình Trời bao nhiêu gió tóc bao nhiêu tình…
Cũng ở hải ngoại , Thanh Trang của “Duyên Thề” sáng tác thêm nhiều ca khúc trữ tình đẹp cả từ lẫn nhạc. Bài anh viết về mái tóc phổ thơ Hà Nguyên Dũng có tựa đề rất nên thơ là “Tóc Em Vẫn Là Hương Của Mẹ”. Nét nhạc mang âm hưởng cổ kính của đất Thần Kinh.
Trời đang nắng bỗng mưa nào ai biết Mưa ướt rồi mái tóc xoã phai hương Anh yêu lắm mùi hương trên làn tóc Em đi qua thơm ngát cả con đường…
Nhạc sĩ trong giới tubip Phạm Anh Dũng thường sáng tác tình ca, có bài “Tóc Thề Đi Đâu Mà Vội” phổ thơ Hoàng Lan Chi, nhịp Luân Vũ nhịp nhàng, êm ái. Hát lên là nhớ lại thuở mặc áo dài trắng đứng trong sân trường.
Em đi đâu mà vội Nắng đã xếp hàng chưa? Tóc còn bờ vai xõa Cho ai lời hẹn xưa…
Chắc là còn nhiều lắm mà khuôn khổ một bài tạp ghi không cho người viết kể lể nhiều hơn. Người Tây phương ít khi rưng rưng chỉ vì một sợi tóc, chứ người Việt chúng ta lãng mạn mà kín đáo. Thương mái tóc là nhớ cả dáng người. Phải chăng vì mái tóc là biểu tượng của sự dịu dàng thơm tho, và cả nét đẹp của tâm hồn người yêu mái tóc nữa?
Nghĩ lại thì lối ca tụng cái đẹp tinh khiết và thánh thiện đó là một phong cách văn minh mà mình nên gìn giữ.
Trong một bài viết trước đây về nhạc sỹ Vũ Thành An, [dongnhacxua.com] có nhắc đến sáng tác đầu tiên đưa nhà nhạc sỹ đến với công chúng: bản “Tình khúc thứ nhất”. Hôm nay, chúng tôi mạn phép đăng lại bài viết của nhạc sỹ Tuấn Khanh về nhạc phẩm nổi tiếng này.
Tình khúc thứ nhất (Vũ Thành An – Nguyễn Đình Toàn). Anh: NguoiDoThi.vn
Trong tất cả những tác phẩm mà nhạc sĩ Vũ Thành An đã cống hiến cho đời, có lẽ Tình khúc thứ nhất là một tuyệt phẩm lạ thường nhất. Mọi người vẫn nói vậy, khi ngồi với nhau và hát, nhân khi nghe tin nhạc sĩ Vũ Thành An rồi sẽ được chấp nhận xuất hiện ở quê nhà.
Nhà thơ Trần Tiến Dũng thường rất ít khi hát, nhưng trong dăm phút vui trên cõi đời cứ dần cạn, mỗi khi nói về cuộc đời và tình yêu, ông hay xin được hát bài này thay cho ngôn từ của mình. Ông không phải là một giọng hát hay, nhưng khi cất lên giai điệu của Tình khúc thứ nhất, thường thì ai có mặt cũng đều xúc động như lặng nhìn một bức tranh tuyệt đẹp của đời người, đầy những gam màu của bầu trời và vực thẳm.
“Nhiều năm nữa, người ta có thể viết nên những bài thơ hay hơn, nhưng khó mà thương đau cao vút như lời của Nguyễn Đình Toàn và nhạc của Vũ Thanh An”, nhà thơ Trần Tiến Dũng vẫn nói như vậy, trong sự xúc động mỗi khi nghe lại. Nhà thơ có ngôn ngữ hiện đại hiếm hoi của Việt Nam được nhà xuất bản Norton (Mỹ – 2007)* chọn dịch để giới thiệu 100 gương mặt thi ca đương đại Châu Á này, luôn nói ông cứ bị chấn động khi nghe phần ngôn xướng của Tình khúc thứ nhất, như được uống phần suối nguồn tinh hoa của một quá khứ văn nghệ vàng son miền Nam Việt Nam.
Có cái gì đó thật lay động khi người ta lắng nghe ca từ của Tình khúc thứ nhất. Bài hát được viết vào năm 1963, nhân công việc ở Đài Phát Thanh Sài Gòn mà ông gặp được nhà văn Nguyễn Đình Toàn để có được cơ duyên cho ra đời bài hát này. Từ năm 1954, khi đặt chân vào miền Nam, nhạc sĩ Vũ Thành An trãi qua nhiều khó khăn để vào đời, cũng như không dễ dàng thành đạt trong đời sống âm nhạc ở Sài Gòn lúc ấy đang có quá nhiều tên tuổi văn nghệ áp đảo. Nhưng khi nổi lên với Tình khúc thứ nhất, Vũ Thành An lập tức trở thành một cái tên lớn và được ghi nhớ mãi về sau, bất chấp có những nghịch cảnh của thời thế khiến ông phải cắt đứt với âm nhạc bình thường trong một giai đoạn dài.
Trong những cuộc tán gẫu bất tận về sự diệu vợi của nền âm nhạc miền Nam giữa cuối thế kỷ 20, Vũ Thành An vẫn được nhắc đến với nét nhạc luôn buồn bã loay hoay. Ngay cả trong lời hy vọng của ông, nghe như cũng vang lên từ huyệt mộ sâu thẳm. Đôi lúc người nghe phải tự hỏi rằng thương đau nào mà ông đã trãi qua, tận cùng đến mức trong ý nhạc đó, luôn là sự cào cấu của hối tiếc, nghẹn ngào. Lạ lùng, những điều đó làm nên tên tuổi của ông. Không biết liệu hôm nay, đứng trên một sân khấu những người nghe đã rất khác, một cuộc sống rất khác, liệu ông có tìm thấy một chút nắng vàng đẹp đẽ ngày cũ của mình? “Lời nào em không nói em ơi. Tình nào không gian dối. Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say…” câu hát được đẩy đến những thanh âm cao ngất, như một lời oán thán trong đêm. Vọng âm như một đoạn thánh thi về tình yêu mà tuyệt vọng là cảm giác chiếm hữu duy nhất. Có rất nhiều nhạc sĩ đã viết về nỗi buồn, mỗi người một vẻ, mà thế giới của Vũ Thành An là một điều rất lạ, dường như vẫn sẽ day dứt, giày vò sẽ còn đuổi theo ông suốt hết kiếp người.
Non nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi Việt Nam dừng tiếng súng. Nhiều bài hát tưởng chừng khó khăn lắm mới trở lại đời thường, rồi cũng đã dần dần xuất hiện trên sân khấu, truyền hình. Đã nhiều chục năm, nhưng nhiều bài hát nghe đâu như vẫn còn rất tươi mới những nỗi lòng người Việt. Câu chuyện tình yêu đơn sơ ở quê nhà bị lạc mất trên những nẻo đường đô thị đầy cám dỗ, vang vọng sự hối tiếc – như Tình khúc thứ nhất – cũng không phải xa lạ gì trong cuộc sống hôm nay. Những người con trai, con gái Việt Nam giờ đây trong đất nước có tên gọi thanh bình vẫn phải rời bỏ làng quê để đi tìm một cơ hội trong đời, rồi không còn quay lại. Dù ở thế hệ nào, vẫn có thể nao nao như tìm thấy phận mình trong tiếng ca muôn thuở.
Không phải ngẫu nhiên mà Tình khúc thứ nhất hay vô vàn những bài tình ca, những lời hát về cuộc đời… mà hàng ngàn bài hát của nền văn hoá miền Nam trước năm 1975 vẫn sống và lay động lòng người bất chấp rêu phong thời cuộc. Những bài hát đó vẫn góp tiếng vào thị trường thương mãi âm nhạc, nhưng được viết ra bằng sự chia sẻ, bằng cách kết nối sự cảm thông của thành thị và thôn quê, của con người biết đau từng nỗi đau của nhân thế. Khác với mua bán và giải khuây, những bài hát đó là lịch sử và văn hoá của một thời kỳ, nó giảng giải một cách đơn giản về chiến tranh và mất mát, chia sớt nỗi buồn của thân phận và nghịch cảnh quê hương mà không có chương trình lịch sử nào có thể sánh bằng. Vi vậy, dù đã nghe biết bao lần, trái tim ta vẫn diệu vợi khi thưởng thức, như chỉ mới vừa biết một tình khúc nào đó, lần thứ nhất trong đời.
Cuộc đời khép mở bất tận. Hôm qua, có những bài hát bị giày xéo và nguyền rủa, thì hôm nay chúng lại được trang hoàng lộng lẫy, gọi mời trở lại. Không ai có thể tự giày xéo mình đau thương bằng chính mình, cũng như chỉ có chế độ kiểm duyệt mới có thể cắt ứa máu linh hồn và trí tuệ của chính dân tộc mình.
Có người nói rằng dẫu muộn, thì việc chấp nhận phần văn hoá miền Nam Việt Nam đó vẫn còn hơn không. Nhưng ai biết được, rằng cuộc quay lại đó, là huy hoàng đón nhận hay chỉ là lời chào kết thúc.
Nhà thơ Vũ Ngọc Giao cũng viết trong một cuộc rượu, rằng: Về đâu khi ngày đã tắt Ngồi đây ta uống rượu chơi Cuộc đời nằm trong con mắt Một lần khép mở mà thôi
Ôi… trong một lần khép mở ấy, vô tận ấy biết bao đổi thay, chứa khôn cùng buồn vui trần thế.
“Khúc Thụy Du” không phải là một bản nhạc xưa nhưng rất được đón nhận bởi hầu hết ca sỹ cũng như công chúng yêu dòng nhạc này. Đó là một nhạc phẩm mà nhạc sỹ Anh Bằng viết tại hải ngoại sau 1975, lấy ý thơ từ bài thơ cùng tên sáng tác năm 1968 của nhà thơ Du Tử Lê. [dongnhacxua.com] còn nhớ lần đầu nghe bản này là vào đầu thập niên 1990 qua tiếng hát đầy cảm xúc của ca sỹ Tuấn Ngọc. Bản nhạc nổi tiếng thế nào thì chắc có lẽ chúng ta không cần nói thêm. Thế nhưng rất ít người yêu nhạc biết rằng tựa bài thơ là sự kết hợp giữa chữ lót của người yêu nhà thơ (bà Thụy Châu) và chữ đầu trong bút danh Du Tử Lê.
Khi biến cố Tết Mậu Thân, 1968 xẩy ra, đó cũng là lúc cuộc tình của tôi và một nữ sinh viên trường Dược, ở Saigòn cũng khởi đầu.
Đầu tháng 3-1968, tôi bị chỉ định đi làm phóng sự một tiểu đoàn TQLC đang giải toả khu Ngã tư Bảy Hiền.
Lúc đó, cả thành phố Saigòn vẫn còn giới nghiêm. Trên đường đi, từ cục TLC ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần cầu Thị Nghè tới khu Ngã tư Bảy Hiền, đường xá vắng tanh. Khi gần tới ngã tư Bảy Hiền, ngoại ô Saigòn, tôi thấy trên đường đi còn khá nhiều xác chết. Đó là những xác chết không toàn thây, bị cháy nám; rất khó nhận biết những xác chết là dân chúng, binh sĩ hay bộ đội CS.
Khi tới gần khu ngã tư Bảy Hiền, dù không muốn nhìn, tôi vẫn thấy rất nhiều mảnh thịt người vương vãi hai bên đường. Có cả những cánh tay văng, vướng trên giây điện…Rất nhiều căn nhà trúng bị bom, đạn. Đổ nát. Tôi cũng thấy những con chó vô chủ gậm chân, tay xương người bên lề đường… Tất cả những hình ảnh ghê rợn này đập vào mắt tôi, cùng mùi hôi thối tẩm, loang trong không khí.
Khi tới vùng giao tranh, tôi gặp người trách nhiệm cuộc hành quân giải toả khu chợ Bảy Hiền. Đó là thiếu tá Nguyễn Kim Tiền. Anh vốn là một bạn học thời trung học của tôi. Tiền cho biết, đơn vị của anh đang ở giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. hai bên rình rập nhau, như trò cút bắt, để tranh giành từng gian hàng, từng ngôi nhà… Anh nói tôi phải rời khỏi khu chợ, lập tức. Vì anh không thể bảo đảm sinh mạng cho tôi, dù là bạn cũ….
Trên đường về, cái khung cảnh hoang tàn, đổ nát với xương thịt người vung vãi khắp nơi, cùng với mùi người chết sình thối…khiến tôi muốn nôn oẹ, một lần nữa lại gây chấn động dữ dội trong tôi…
Giữa tháng 3 – 1968, nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn, gọi điện thoại vào phòng Báo Chí, cục TLC, hỏi tôi có thể viết cái gì đó, cho Văn số tục bản.
Gọi là “tục bản” bởi vì sau số Xuân, khi biến cố mồng 1 Tết xẩy ra, báo Văn ngưng xuất bản. Lý do, các nhà phát hành không hoạt động. Đường về miền tây cũng như đường ra miền Trung bị gián đoạn. Saigòn giới nghiêm. Tuy nhiên, ông nói, hy vọng ít ngày nữa, giao thông sẽ trở lại – – Thêm nữa, không thể để Văn đình bản quá lâu.
Sau khi nhận lời đưa bài cho Trần Phong Giao, tôi mới giật mình, hốt hoảng.
Tôi nghĩ, giữa tình cảnh ấy, tôi không thể đưa ông một bài thơ tình, hay một chuyện tình. Mặc dù thơ tình hay chuyện tình là lãnh vực của tôi thuở ấy. Nhưng, tôi thấy, nếu tiếp tục con đường quen thuộc kia, tôi sẽ không chỉ không phải với người đọc mà, tôi còn không phải với hàng ngàn, hàng vạn linh hồn đồng bào, những người chết tức tưởi, oan khiên vì chiến tranh nữa…
Cuối cùng, gần hạn kỳ phải đưa bài, nhớ lại những giờ phút ở ngã tư Bảy Hiền, tôi ngồi xuống viết bài thơ ghi lại những gì mục kích trên đường đi.
Viết xong, tôi không tìm được một nhan đề gần, sát với nội dung!
Bài thơ dài trên 100 câu. Nhưng khi Văn đem đi kiểm duyệt, bộ Thông Tin đục bỏ của tôi gần 1/ 3 nửa bài thơ.
Thời đó, tôi viết tay, không có bản phụ, nên, sau này khi gom lại để in thành sách, tôi không có một bản nào khác, ngoài bản in trên báo Văn (đã kiểm duyệt.)
Tuy còn mấy chục câu thôi, nhưng nội dung bài thơ, từ đầu đến cuối, vẫn là một bài thơ nói về thảm cảnh chiến tranh. Người phụ trách phần kiểm duyệt vẫn để lại cho bài thở của tôi những câu cực kỳ “phản chiến” như: “…Ngước lên nhìn huyệt lộ – bày quả rỉa xác người – (của tươi đời nhượng lại) – bữa ăn nào ngon hơn – làm sao tôi nói được…” Hoặc: “…Trên xác người chưa rữa – trên thịt người chưa tan – trên cánh tay chó gậm – trên chiếc đầu lợn tha…” vân vân…
Nói cách khác, tình yêu chỉ là phần phụ; với những câu hỏi được đặt ra cho những người yêu nhau, giữa khung cảnh chết chóc kia, là gì? Nếu không phải là những tuyệt vọng cùng, tất cả sự vô nghĩa chói gắt của kiếp người?
Như đã nói, thời gian ra đời của bài thơ cũng là khởi đầu của cuộc tình giữa tôi và một sinh viên đại học Dược…Tôi lấy một chữ lót trong tên gọi của người con gái này, cộng với chữ đầu, bút hiệu của tôi, làm thành nhan đề bài thơ. Nó như một cộng nghiệp hay chung một tai hoạ, một tuyệt lộ.
Bài thơ ấy, sau đó tôi cho in trong tuyển tập “Thơ Du Tử Lê (1967-1972).
Cuối năm, tập thơ được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn thi ca, 973.
Nhạc sỹ Anh Bằng. Ảnh: sbtn.tv
Năm 1983, tôi cho tái bản cuốn thơ này sau khi được một độc giả du học tại Mỹ trước năm 1975, cho lại. Cô nói, tôi phải hứa in lại và dành bản đầu tiên cho cô…
Sau đấy, một buổi tối, nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi ở quán Café Tay Trái (toạ lạc ngay ngã tư đường Trask và Fairview.) Ông nói, ông mới phổ nhạc bài “Khúc Thuỵ Du.” Ông cho tôi quyền chọn người hát. Ông nhấn mạnh: “Tôi có thể chỉ cho người đó hát…”
Thời gian đó, trong số bằng hữu giúp tôi điều hành Café Tay Trái, có nhạc sĩ Việt Dzũng. Lúc nhạc sĩ Anh Bằng đến tìm tôi, cũng là lúc Việt Dzũng có mặt; đang chuẩn bị cho chương trình ca nhạc buổi tối. Tôi giới thiệu hai người với nhau.
Khi ca khúc “Khúc Thuỵ Du” ra đời dạng casette, với tiếng hát của Việt Dzũng, tôi mới biết, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ lọc, lựa một số câu thơ liên quan tới tình yêu mà, không lấy một câu thơ nào nói một cách cụ thể về chiến tranh, chết chóc… Chết chóc hay chiến tranh được hiểu ngầm, như một thứ background mờ nhạt.
Từ đó đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn có người lên tiếng phản đối sự giản lược nội dung bài thơ của tôi vào một khía cạnh rất phụ: Khía cạnh tình yêu trong ca khúc “Khúc Thuỵ Du”…
Nhưng, hôm nay, sau mấy chục năm, nhìn lại, tôi thấy, ông cũng có cái lý của ông…
(1-30-2010.)
NGUYÊN VĂN BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU” (Nguồn: DuTuLe.com)
1.
như con chim bói cá trên cọc nhọn trăm năm tôi tìm đời đánh mất trong vụng nước cuộc đời
như con chim bói cá tôi thường ngừng cánh bay ngước nhìn lên huyệt lộ bầy quạ rỉa xác người (của tươi đời nhượng lại) bữa ăn nào ngon hơn làm sao tôi nói được
như con chim bói cá tôi lặn sâu trong bùn hoài công tìm ý nghĩa cho cảnh tình hôm nay
trên xác người chưa rữa trên thịt người chưa tan trên cánh tay chó gặm trên chiếc đầu lợn tha tôi sống như người mù tôi sống như người điên tôi làm chim bói cá lặn tìm vuông đời mình
trên mặt đất nhiên lặng không tăm nào sủi lên đời sống như thân nấm mỗi ngày một lùn đi tâm hồn ta cọc lại ai làm người như tôi ?
2.
mịn màng như nỗi chết hoang đường như tuổi thơ chưa một lần hé nở trên ngọn cờ không bay đôi mắt nàng không khép bàn tay nàng không thưa lọn tóc nàng đêm tối khư khư ôm tình dài
ngực tôi đầy nắng lửa hãy nói về cuộc đời tôi còn gì để sống hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa sẽ mang được những gì về bên kia thế giới thụy ơi và thụy ơi
tôi làm ma không đầu tôi làm ma không bụng tôi chỉ còn đôi chân hay chỉ còn đôi tay sờ soạng tìm thi thể quờ quạng tìm trái tim lẫn tan cùng vỏ đạn dính văng cùng mảnh bom thụy ơi và thụy ơi đừng bao giờ em hỏi vì sao mình yêu nhau vì sao môi anh nóng vì sao tay anh lạnh vì sao thân anh rung vì sao chân không vững vì sao anh van em hãy cho anh được thở bằng ngực em rũ buồn hãy cho anh được ôm em, ngang bằng sự chết
tình yêu như ngọn dao anh đâm mình, lút cán thụy ơi và thụy ơi
không còn gì có nghĩa ngoài tình anh tình em đã ướt đầm thân thể
Trong một bài viết về bản “Người ấy” của nhạc sỹ Trần Quý, tức Hồng Vân, chúng tôi có nhắc đến sáng tác có lẽ là nổi tiếng nhất của ông: “Đồi thông hai mộ”. Hôm nay, để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin, chúng tôi xin giới thiệu bản nhạc này. [dongnhacxua.com] không có nguồn tư liệu chính xác về thực hư của câu chuyện tình buồn “Đồi thông hai mộ” nhưng nếu đúng như truyền thuyết kể lại thì chúng tôi cầu mong linh hồn của hai nhân vật sẽ được an lạc nơi chốn vĩnh hằng “như lời xưa thề ước”!
Đồi thông hai mộ (Hồng Vân). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
ĐÔI NÉT VỀ CÂU CHUYỆN “ĐỒI THÔNG HAI MỘ” (Nguồn: wikipedia.org)
Cổng vào Đồi Thông Hai Mộ.
Thắng cảnh Đồi thông hai mộ thường được gắn với những câu chuyện ly kì, tuy nhiên có một câu chuyện được cho là trung thực nhất kể rằng: chàng tên Vũ Minh Tâm, nàng tên Lê Thị Thảo. Chàng quê ở Gò Công, Tiền Giang, sinh trong một gia đình đại điền chủ giàu có, là sinh viên Trường Võ bị Đà Lạt. Nàng:
“… năm ấy khi tuổi vừa đôi chín Tâm hồn đang trắng trong Như chim non khi ăn còn chưa no Khi co còn chưa ấm”
Họ gặp nhau tâm đầu ý hợp, yêu nhau tha thiết và thề non hẹn biển. Tốt nghiệp, chàng về xin cha mẹ trầu cau cưới hỏi… nhưng bị gia đình phản đối kịch liệt vì gia đình nàng không “môn đăng hộ đối” và bắt đi cưới người con gái mà chàng không hề yêu. Chàng đã xin chuyển đến một vùng tuyến đầu lửa đạn để tìm quên… Và rồi, nàng nhận được tin báo tử của chàng từ chiến trường. Đau khổ tột cùng:
“nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn Để phai úa đến tàn cả hương sắc tháng ngày luôn héo hon”
Sau đó, nàng tìm đến khu đồi thông bên bờ hồ Sương Mai (sau tình sử này được gọi là hồ Than Thở), nơi hai người xưa kia từng hò hẹn, tự vẫn chết vào ngày 15 tháng 3 năm 1956. Thuận theo nguyện vọng, gia đình đã chôn cất nàng ngay dưới khu đồi thông. Nhưng thật ra người ta đã nhầm khi báo tử, chàng không tử trận và đang trở về thăm nàng. Hay tin nàng chết, Tâm tìm đến mộ nàng vật vã khóc than, sau đó cũng tự tử chết theo để giữ trọn lời thề[6]. Trước khi chết, chàng để lại bức thư tuyệt mệnh với mong ước được yên nghỉ bên cạnh mộ nàng để hai người mãi mãi được gần nhau. Và:
“… mộ chàng đã được ở cạnh nàng Như lời xưa thề ước Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô Qua bao năm rêu xanh phủ che kín…”
Hai ngôi mộ trên đồi thông.
Tuy nhiên, sau năm 1975, do tuổi cao sức yếu, không thể thường xuyên lên thăm mộ con, cha mẹ chàng đã cho bốc mộ anh đưa về quê. Dù hài cốt chàng đã được dời đi nhưng cảm thương mối tình của hai người, người thân của nàng vẫn để ngôi mộ đôi. Và sau này ngôi mộ được tôn tạo khang trang lại, trở thành điểm tham quan du lịch độc đáo như hiện nay.
Nhân dịp Festival hoa Đà Lạt 2012, Ban tổ chức đã cho trồng toàn hoa tím chung quanh khu mộ.
Chúng tôi vừa nhận được email của một người yêu nhạc xưa hỏi về bản “Người ấy” của nhạc sỹ Trần Quý. Trước hết [dongnhacxua.com] xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị xa gần. Chúng tôi cũng xin chia sẻ thật lòng đây là lần đầu tiên chúng tôi nghe nói đến bản “Người ấy” và nhạc sỹ Trần Quý. Tìm hiểu nhiều nguồn thông tin trên internet, chúng tôi tạm đi đến kết luận Trần Quý chính là một bút hiệu khác của nhạc sỹ Hồng Vân, tác giả bản “Đồi thông hai mộ” nổi tiếng. Thông tin chúng tôi có được về nhạc sỹ quá ít. Hiện chúng ta cũng không rõ nhạc sỹ sinh sống ở đâu hay đã ra đi về nơi xa. Qua bài viết này, [dongnhacxua.com] xin tri ân nhạc sỹ Trần Quý và mong bạn bè xa gần nếu có thêm thông tin thì cung cấp cho chúng tôi để bổ sung cho thế hệ sau.
Hồng Vân (Trần Quý) là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông là tác giả bài “Đồi thông hai mộ” nổi tiếng và nhiều ca khúc dành cho tầng lớp bình dân tại Sài Gòn trước 1975.
Ông tên thật là Trần Công Quý. Không rõ thân thế cũng như năm sinh và năm mất của ông. Bút danh Hồng Vân là tên thật người vợ của ông. Nhiều bài hát của ông được ký tên Hồng Vân – Trần Quý. Ngoài ra ông còn dùng một bút danh khác là Dạ Lan Thanh.
Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam và sinh sống tại Đà Lạt. Khoảng thập niên 1960, ông vào Sài Gòn lập nghiệp bằng nghề viết nhạc. Ngoài viết nhạc, ông còn mở thêm lớp nhạc Hồng Vân tại Chợ Quán do ông trực tiếp dạy nhạc lý và Trung Chỉnh luyện hát. Một số ca sĩ nổi tiếng từ lớp nhạc này gồm có Thủy Tiên, Thanh Hương, Tuyết Linh… Ngoài ra, ông còn làm trưởng ban Nhạc thời trang Đài truyền hình Việt Nam, ban nhạc Hồng Hà, và điều khiển nghệ thuật của hãng đĩa Continental.
Ông có người vợ cũng viết nhạc là Như Phy – tác giả một số bài như Hai Đứa Nghèo, Người Mang Tâm Sự, Đường Tình…
Sau 1975, không còn ai biết tung tích Hồng Vân & gia đình ở đâu.
Theo ý thơ của thi sỹ Nguyễn Đình Toàn, nhạc sỹ Vũ Thành An đã góp một nhạc phẩm bất hủ vào kho tàng nhạc Xuân. [dongnhacxua.com] muốn trân trọng nhắc đến “Em đến thăm anh đêm 30”. Một điểm khá lý thú là nhạc phẩm này không dùng một chữ “xuân” như nhiều ca khúc khác mà thay vào đó chúng ta chỉ thấy “tết”.
Em đến thăm anh đêm 30 (Nguyễn Đình Toàn – Vũ Thành An). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Khuya. Khi còn lại một mình trên mạng, tôi hay treo blast : Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?
Một bạn tình cờ ghé lại, hỏi : Có niềm vui rồi à? Chúc mừng nhé !
Bạn chúc mừng, sao lòng bỗng ngổn ngang trăm mối. Tết đang đến rất gần, chắc chắn rồi mùa cũng sẽ rộn ràng những thời khắc chuyển giao. Nhưng ta, ta có còn những đêm ba mươi đầy háo hức?
Khi nghe và yêu thích một ca khúc nào đấy, thì bạn đã thực sự gắn hồn mình vào trong giai điệu và ca từ của bài hát. Chỉ vì tiếng guitar solo nồng nàn, một đoạn piano gõ thánh thót hay đôi khi, chỉ là một thoáng ngẫu hứng saxophone đầy phiêu lãng… Nhưng chắc chắn vẫn phải là ca từ, ca từ êm ái và mượt mà như thơ ấy. Chúng là những lời nhắc nhớ chân thành, cứ thủ thỉ bên ta mãi…
Em đến thăm anh đêm ba mươi Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi ? Anh nói với người phu quét đường Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…
Xưa, khi nhạc sĩ Vũ Thành An bắt đầu phổ nhạc những câu thơ này từ thi sĩ Nguyễn Đình Toàn, chắc có lẽ, ông đã không dụng công lắm để trao chuốt chúng thành những giai điệu ấm áp và tình cảm thế. Bởi tôi, bạn và tất cả những người đã từng yêu đều có thể dễ dàng bật lên thành câu hát. Khi khắc khoải về một vùng kí ức đẹp. Khi tiếc nuối mơ hồ về một kỉ niệm tình đã cắt cớ ngủ yên.
Có thể ta không có những đêm ba mươi cùng em vô ưu, lang thang trên những con phố mòn mỏi bước. Là con đường Duy Tân, là con đường Gia Long, là con đường Tú Xương… xa lắc trong nỗi nhớ. Và có lẽ, chúng chỉ còn là giấc mơ u hoài, lê thê kéo từ thế kỉ trước. Nơi có những đêm ba mươi, vào thời khắc giao mùa thiêng liêng vẫn còn những người phu quét lá bên đường. Miệt mài và cần mẫn. Và ta , ta có dừng lại xin một chiếc lá vàng, để làm bằng chứng yêu em?
Người phu quét đường… Chiếc lá vàng…
Khung cảnh im lắng. Đẹp một cách mộc mạc, đơn sơ. Một bức tranh huyền thoại về tình yêu, lồng hờ hững vào trong phố. Yên bình, trong vắt. Nhưng tình yêu có thực sự cần những nhân chứng và vật chứng ấy không? Ta đã ngô nghê đặt lại câu hỏi ấy, có nghĩa là ta cũng đang dần quên đi một thời yêu đương phóng khoáng, cuồng say…
Tay em lạnh để cho tình mình ấm Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm Sao Giao Thừa xanh trong đôi mắt ngoan Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?
Thì là Tết đấy. Những con đường đang nhộn nhịp quá những người qua. Phố xá dần đông vui lên, rộn ràng những sắc màu nghênh tiếp năm mới. Với lòng người, có quá nhiều điều để háo hức, chờ mong…
Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?
Mà có phải khi ai vu vơ thốt lên câu hát bất chợt ấy, cũng là đang thực sự có niềm vui đâu… Tháng ngày đã trôi qua Tình đã phôi pha Người khuất xa Chỉ còn chút hương xưa Rồi cũng phong ba Rụng cùng mùa…
Tác phẩm đầu tay nổi tiếng của nhạc sĩ Vũ Thành An, “Tình khúc thứ nhất”, cũng là một bài hát phổ từ thơ của thi sĩ Nguyễn Đình Toàn : “Có yêu nhau xin ngày thơ ngây Lúc mắt chưa nhạt phai Lúc tóc chưa đổi thay Lúc môi chưa biết dối cho lời…”. Đấy là những câu thơ rưng rức đầy tiếc nuối. Mờ. Phai.
Nỗi buồn ở đây dường như đã đi đến cùng tận. Khi “chỉ còn chút hương xưa” rồi cũng đã “phong ba”, và cuối cùng, “rụng cùng mùa” ?
Không. Với kỉ niệm đẹp, nỗi buồn ấy như là một thú vui tao nhã. Những khi thấy lòng mình chùn xuống, ta thong thả mang ra gặm, nhắm…
Dòng sông đêm hồn đen sâu thao thức Ngàn vì sao mọc hay lệ khóc nhau? Đá buồn chết theo sau Ngày vực sâu Rớt hoài xuống hư không Cuộc tình đau…
Đã có rất nhiều ca sĩ trình bày ca khúc này. Nhưng được yêu thích nhất có lẽ là Khánh Ly và Nguyên Khang. Nếu Khánh Ly với giọng hát nữ tính, đầy chất ma mị của mình đã tình tự khôn nguôi về một thời yêu thương say đắm, thì Nguyên Khang bằng sự ấm áp cố hữu, lại đem đến một hoài niệm buồn. Một nỗi buồn sang trọng và cần thiết.
Giao thừa đang sắp đến. Gần, đã gần lắm rồi…
Và trong cái thời khắc mong manh ấy, khi trời đất đang bắt đầu trở mình cho một cuộc chuyển giao, thế nào tôi cũng để cho cái ngày xưa của mình quay lại. Rằng :
Em đến thăm anh đêm ba mươi Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi ? Anh nói với người phu quét đường Xin chiếc lá vàng, làm bằng chứng yêu em…
.
(*) Nhạc Vũ Thành An, thơ Nguyễn Đình Toàn.
Cũng viết về xuân xưa, những mùa xuân khi đất nước còn vương khói lửa chiến tranh nhưng “Mùa xuân trên đỉnh bình yên” là một bức tranh với sắc màu hoàn toàn khác mà trong đó chúng ta như bước vào một thế giới thoát tục để tâm hồn thật sự tĩnh lặng mà đón một mùa Xuân bình an. Hòa trong không khí Xuân Bính Thân 2016, [dongnhacxua.com] xin trân trọng giới thiệu sáng tác đặc sắc này của nhạc sỹ Từ Công Phụng.
Mùa xuân trên đỉnh bình yên (Từ Công Phụng). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Nguyễn Phước Nguyên: Trong bài “”Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên”” có đoạn: “Xin đỉnh yên bình, một mùa xuân ôm kín chân trời của tuổi thơ thôi rã, thôi rời. Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi, một vòng tay khắc khoải buông xuôi. Từng niềm vui bay theo biển gió. Hãy ôm trọn, ôm trọn tuổi Xuân…” Nhạc của Từ Công Phụng chuyên chở rất nhiều những tiếc nuối, những xót xa vời vợi như thế. Từ những nỗi buồn xa xưa của “Bây Giờ Tháng Mấy” cho đến trong CD mới nhất – “Mưa Trên Ngày Tháng Đó”, xin cho biết Từ Công Phụng nhìn và nói về nỗi buồn của mình trong âm nhạc ngày xưa và ngày nay ra sao? Giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?
Nhạc sỹ Từ Công Phụng. Ảnh: saigonocean.com
Từ Công Phụng: Ở cái tuổi quá 50 của tôi hiện nay, không còn là cái tuổi mộng mơ của thuở hồng hoang, mà cũng chưa phải là cái tuổi nhìn thấy bóng hoàng hôn dưới chân đồi. Chúng tôi lớn lên và sống trong hoàn cảnh của đất nước đã trải qua quá nhiều biến động vì chiến tranh. Không phải đợi đến lúc xế chiều chúng tôi mới nhận thức được những mất mát lớn lao của tuổi trẻ trong thời ấy, mà ngay từ lúc bấy giờ chúng tôi đã nhìn thấy những mong manh, những ngơ ngác, những mất mát đớn đau theo dòng đời mà chúng tôi đã bị cuốn hút vào trong ấỵ. Từ đó tôi mới có một niềm mơ ước thật nhỏ nhoi dành riêng cho những đôi tình nhân trong thời tao loạn thể hiện qua bản “Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên”. Tôi mơ ước có một nơi chốn thật bình yên cho đôi tình nhân dung thân, không còn những muộn phiền vây quanh, ở đó họ sẽ tận hưởng một mùa Xuân thật nồng ấm để tiếp nối dòng đời tự ngàn xưa. Và qua bài này tôi cũng có ý nhắn nhủ những đôi tình nhân hãy nâng niu cái hạnh phúc của tuổi trẻ, vì cuộc đời không là bao mà hạnh phúc thật mong manh như một giọt nắng tan. Dường như những người bạn cùng viết nhạc một thời với tôi đều có man mác một nỗi buồn như nhau, vì chúng tôi cùng sống trong cùng một bối cảnh quê hương mang nhiều vết hằn chiến tranh. Cho nên bài hát nào trong thời ấy cũng len lén những nỗi buồn mà nhịp độ tùy theo ấn tượng của mỗi người. Trong khoảng hơn 30 năm chiều dài sáng tác, dĩ nhiên những nỗi buồn trong các ca khúc của tôi có những sự khác biệt. Ở thập niên 60, là những giòng nhạc lãng mạn thời mới lớn, mới chớm biết yêu, hàm chứa những nỗi buồn man mác nhẹ nhàng như Bây Giờ Tháng Mấy, như Mùa Thu Mây Ngàn, như Bài Cho Em, như Tuổi Xa Người, Đêm Độc Thoại, Lời Cuối, Trời Về Đêm Mưa hay Còn Một Buổi Chiều… “