Miệt Thứ trong âm nhạc Việt – Khi một vùng đất trở thành ký ức

Có những địa danh được cả nước biết đến nhờ những trang sử hào hùng.

Có những vùng đất nổi tiếng bởi danh lam thắng cảnh hay đặc sản địa phương.

Nhưng cũng có những nơi đi vào lòng người bằng một con đường rất khác – âm nhạc.

Nhắc đến Cà Mau, nhiều người ngân nga Áo mới Cà Mau. Bạc Liêu đi vào lòng người yêu nhạc qua Dạ cổ hoài lang, còn vùng Ngã Bảy được nhắc nhớ qua câu chuyện đầy duyên nợ trong Tình anh bán chiếu. Riêng Miệt Thứ, với biết bao thế hệ người Việt, lại hiện lên qua giai điệu ngọt ngào và đậm tình quê của Em về Miệt Thứ.

Điều thú vị là không ít người đã thuộc lòng bài hát nhưng chưa một lần đặt chân đến vùng đất ấy. Thậm chí, nhiều người vẫn băn khoăn: Miệt Thứ là nơi nào?

Trong tâm tình đó, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bài viết này như một lời mời cùng người yêu nhạc tìm về một vùng đất, một giai điệu và những ký ức tưởng chừng đã lùi xa theo năm tháng, nhưng vẫn còn sống mãi trong âm nhạc Việt Nam.

Miệt Thứ – Một vùng đất được đặt tên từ những con kênh

Miệt Thứ không phải là tên của một tỉnh hay một huyện. Đây là tên gọi của một vùng văn hóa – lịch sử ở miền Tây Nam Bộ.

Tên gọi “Miệt Thứ” bắt nguồn từ hệ thống các địa danh nằm dọc kênh Xẻo Rô. Trong quá trình khai phá vùng đất này, người dân đã đặt tên cho các con rạch, cây cầu và khu dân cư theo số thứ tự: Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư… đến Thứ Mười Một. Theo thời gian, những địa danh ấy hợp thành một vùng rộng lớn mà người dân quen gọi là Miệt Thứ.

Trước đây, Miệt Thứ thuộc tỉnh Kiên Giang. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính năm 2025, vùng này thuộc tỉnh An Giang. Dẫu vậy, trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học và âm nhạc, cái tên Miệt Thứ vẫn được gìn giữ nguyên vẹn như một biểu tượng của miền Tây Nam Bộ.

Những cánh rừng tràm, những con kênh nối dài đến tận chân trời, những chiếc xuồng ba lá lặng lẽ xuôi theo dòng nước và những xóm làng hình thành từ công cuộc mở đất đã tạo nên bản sắc rất riêng của vùng đất này.

Có lẽ chính vẻ đẹp bình dị ấy đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ.

Khi Hà Phương đưa Miệt Thứ vào âm nhạc

Trong số những ca khúc viết về miền Tây, “Em về Miệt Thứ” của nhạc sĩ Hà Phương có lẽ là tác phẩm gắn bó sâu đậm nhất với vùng đất này.

Theo những chia sẻ của nhạc sĩ, cảm hứng sáng tác bắt nguồn từ câu chuyện có thật về một cô gái vì yêu mà chấp nhận theo chồng về Miệt Thứ – vùng đất khi ấy còn hoang sơ, nhiều gian khó.

Ông không kể câu chuyện bằng những biến cố lớn.

Ông chỉ chọn những điều rất đời.

Một cô gái rời quê.

Một người mẹ tiễn con.

Một miền đất mới còn nhiều thiếu thốn.

Chính sự giản dị ấy lại tạo nên sức lay động bền bỉ của ca khúc.

đọc tiếp

Thi sỹ Nhất Tuấn (1935 – 2021)

Khi đề cập đến những nhà thơ, nhà văn đã góp một phần công sức vào dòng nhạc xưa, sẽ là một thiếu sót nếu không nói đến thi sĩ Nhất Tuấn

Thi sỹ Nhất Tuấn (1935 – 2021).

Có những nhạc sĩ viết nên giai điệu bất hủ, có những ca sĩ làm nên linh hồn của một ca khúc. Nhưng phía sau rất nhiều bản nhạc quen thuộc còn có bóng dáng của những thi sĩ – những người đã trao cho âm nhạc những vần thơ đầu tiên.

Hôm nay Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bài viết về thi sĩ Nhất Tuấn, một trong những nhà thơ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc nhất của miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Nhắc đến Hoa Học Trò, người yêu nhạc nhớ đến Anh Bằng. Nhắc đến Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời, người ta nhớ đến Phạm Duy. Nhắc đến Chủ Nhật Này “Trẫm” Nhớ Ái Khanh Không, người ta nhớ đến Trần Thiện Thanh. Thế nhưng trước khi trở thành những giai điệu đi cùng năm tháng, tất cả đều là những bài thơ của một người mang bút danh Nhất Tuấn.

Tên thật là Phạm Hậu, Nhất Tuấn sinh trưởng tại Nam Định, quê gốc Ninh Bình. Sau cuộc di cư năm 1954, ông vào miền Nam, theo học Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt rồi phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cuộc đời binh nghiệp đưa ông đến nhiều vị trí quan trọng trong ngành truyền thông, từ Quản đốc Đài Phát thanh Quân đội đến Tổng Giám đốc Việt Nam Thông tấn xã.

Nhưng điều còn ở lại với thời gian không phải quân hàm hay chức vụ, mà là những câu thơ nhẹ nhàng về tuổi học trò, những mối tình đầu, những cành mimosa, những mùa hoa phượng và những lời cầu nguyện.

Ít ai biết rằng tập thơ Truyện Chúng Mình của Nhất Tuấn đã trở thành một hiện tượng văn học của miền Nam. Hàng chục bài thơ trong tập đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc, trải dài từ thập niên 1950 đến tận đầu thế kỷ XXI. Đó là một hiện tượng hiếm gặp trong lịch sử tân nhạc Việt Nam.

Thơ Nhất Tuấn không cầu kỳ về ngôn từ, cũng không triết lý cao siêu. Ông viết như đang trò chuyện với người đọc, bằng những hình ảnh rất đời thường: một cánh hoa học trò, một ngày Chủ nhật, một cành mimosa hay một lời cầu nguyện. Có lẽ chính sự chân thành ấy đã khiến thơ ông dễ đi vào âm nhạc và dễ ở lại trong lòng người.

Có người từng nói rằng những câu thơ của Nhất Tuấn đã theo chân những lá thư tình của nữ sinh miền Nam gửi đến người yêu đang ngược xuôi trên khắp nẻo đường đất nước. Có lẽ cũng vì thế mà hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, mỗi khi giai điệu Hoa Học Trò hay Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời vang lên, người ta vẫn bắt gặp đâu đó một phần tuổi trẻ của mình.

Với dòng nhạc xưa, Nhất Tuấn không chỉ là một nhà thơ được phổ nhạc. Ông là một trong những người đã góp phần tạo nên chất thơ cho cả một giai đoạn tân nhạc Việt Nam, để từ những trang giấy bình dị đã nở ra những ca khúc sống mãi với thời gian.

Hoa Học Trò (Nhất Tuấn – Anh Bằng)

Mỗi khi mùa hè trở lại, những chùm phượng đỏ lại nở rực trên các sân trường, kéo theo biết bao ký ức của một thời áo trắng. Có những bài hát chỉ cần vang lên vài câu đầu tiên là người nghe lập tức nhìn thấy tuổi trẻ của mình trong đó. Hoa Học Trò là một ca khúc như vậy. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ra đời, nhưng mỗi mùa phượng nở, bài hát ấy vẫn tiếp tục gợi lên những rung động rất riêng trong lòng nhiều thế hệ.

Hôm nay Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bài viết về ca khúc Hoa Học Trò.

Từ một bài thơ nổi tiếng của Nhất Tuấn

Nhiều người biết đến Hoa Học Trò qua giai điệu của nhạc sĩ Anh Bằng, nhưng trước đó đây là một bài thơ rất được yêu thích của thi sĩ Nhất Tuấn.

Theo lời kể của chính tác giả, cảm hứng để ông viết nên bài thơ bắt nguồn từ hai câu thơ của nhà thơ Nguyễn Tố:

Nàng rằng hoa rụng mình ơi!
Nhặt cho đầy giỏ, rồi chơi vợ chồng.

Hai câu thơ mộc mạc ấy gợi cho Nhất Tuấn nhớ đến những trò chơi vô tư của tuổi thơ, khi lũ trẻ chưa hiểu gì về tình yêu nhưng lại thích bắt chước thế giới người lớn. Từ ý tưởng đó, ông đã phát triển thành câu chuyện của hai đứa trẻ cùng nhặt hoa phượng, cùng đùa vui dưới sân trường, để rồi nhiều năm sau mỗi người đi một ngả.

Chính sự ngây thơ ấy đã làm nên nét đẹp rất riêng của Hoa Học Trò.

Nguồn: https://amnhacmiennam.blogspot.com/2014/07/hoa-hoc-tro-anh-bang-nhat-tuan.html

Từ thơ đến nhạc

Khoảng giữa thập niên 1960, nhạc sĩ Anh Bằng đã phổ nhạc bài thơ này thành ca khúc cùng tên.

Đây là một trong những trường hợp hiếm hoi mà người nghe gần như cảm nhận được trọn vẹn tinh thần của bài thơ trong phiên bản âm nhạc.

Anh Bằng không cố gắng thay đổi hay làm mới câu chuyện. Ông chọn cách giữ lại chất tự sự vốn có của bài thơ, dùng giai điệu nhẹ nhàng để dẫn người nghe đi qua từng kỷ niệm.

Nhờ vậy, bài hát mang cảm giác như một lời kể chuyện hơn là một bản tình ca thông thường.

Màu hoa phượng của tuổi học trò

Trong văn hóa Việt Nam, hoa phượng từ lâu đã trở thành biểu tượng của tuổi học trò.

Mỗi khi phượng nở cũng là lúc năm học kết thúc. Bạn bè chia tay nhau. Có những người chỉ xa nhau vài tháng hè, nhưng cũng có những người từ đó không còn gặp lại.

Nhất Tuấn đã chọn chính hình ảnh ấy làm trung tâm cho bài thơ của mình.

Phượng xuất hiện ngay từ những câu mở đầu:

Bây giờ còn nhớ hay không
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa.

Đó không chỉ là một hình ảnh thiên nhiên.

Đó là cánh cửa mở vào ký ức.

Chỉ cần nhắc đến hoa phượng, cả một sân trường, một mùa hè và một thời tuổi trẻ bỗng hiện về.

“Bây giờ còn nhớ hay không?”

Có lẽ đây là câu hát khiến nhiều người xúc động nhất.

Nó không mang vẻ trách móc.

Nó cũng không phải lời oán trách của một người tình cũ.

Đó đơn giản là một câu hỏi dành cho thời gian.

Sau bao năm tháng trôi qua, liệu người ấy còn nhớ hay không?

Liệu người ấy còn nhớ những cánh phượng ngày nào?

Hay chỉ còn riêng mình mang theo ký ức ấy?

Điều đặc biệt là mỗi người nghe lại có thể thay thế “người ấy” bằng một hình ảnh khác trong đời mình: một người bạn cũ, một mối tình đầu, một mái trường hay đơn giản là chính tuổi trẻ đã đi qua.

Một nỗi buồn rất Việt Nam

Nếu lắng nghe kỹ, Hoa Học Trò không phải là một bài hát bi lụy.

Nỗi buồn trong ca khúc đến rất nhẹ.

Đó là nỗi buồn của sự mất mát mà ai cũng phải trải qua khi trưởng thành.

Những gì đẹp nhất thường thuộc về quá khứ.

Những người từng thân thiết nhất đôi khi lại trở thành những người xa lạ.

Và những trò chơi trẻ con ngày nào bỗng hóa thành những kỷ niệm không thể tìm lại.

Có lẽ chính vì vậy mà qua nhiều thế hệ, Hoa Học Trò vẫn tiếp tục được yêu mến.

Bởi bài hát không chỉ kể câu chuyện của Nhất Tuấn.

Nó kể câu chuyện của tất cả chúng ta.

Những người đã từng có một mùa hè dưới tán phượng đỏ, từng có một người để nhớ, và từng nhiều lần tự hỏi:

Bây giờ còn nhớ hay không?

Xin ghi chú nguồn Dòng Nhạc Xưa và các nguồn có liên quan khi trích dẫn!

Vĩnh biệt nhạc sỹ Lê Hoàng Long (1930 – 2026)

Nhạc sỹ Lê Hoàng Long, một trong những cây cổ thụ cuối cùng trong khu rừng tân nhạc Việt Nam, vừa giã từ cõi tạm để “theo gió mơ hồ hồn về đâu”, như lời mở đầu trong bản “Gợi giấc mơ xưa” bất hủ mà Ông để lại cho hậu thế.

Theo cáo phó thì nhạc sĩ Lê Hoàng Long sinh năm 1929 (nguồn)

Dòng Nhạc Xưa xin cầu mong linh hồn Cụ ông Hoàng Đức Luận vãng sanh miền cực lạc.

Ảnh: vnguiatr.net
Xin ghi chú nguồn Dòng Nhạc Xưa và các nguồn có liên quan khi trích dẫn!

Vĩnh biệt nghệ sỹ Công Thành (1947 – 2026)

Ngày 10/4/2026, ca sỹ Công Thành trút hơi thở cuối cùng tại California (Hoa Kỳ), chấm dứt một cuộc đời nghệ sỹ đầy sôi nổi, để lại nhiều niềm thương tiếc cho đồng nghiệp cũng như người yêu nhạc. Dòng Nhạc Xưa xin cầu mong linh hồn Ông mau về chốn an lạc vĩnh hằng!

Nghệ sỹ Công Thành (1946 – 2026)

Công Thành (1947 – 2026): Một tiếng cười vừa khép lại

Tin nghệ sĩ Công Thành qua đời ở tuổi 79 khiến nhiều khán giả yêu nhạc xưa chợt thấy lòng mình trống đi một khoảng nhỏ. Không phải bởi ông là một “ngôi sao hào quang rực rỡ” theo kiểu sân khấu lớn, mà bởi Công Thành là một gương mặt quá quen thuộc — quen như một người bạn cũ vẫn thường xuất hiện đâu đó trong những băng nhạc, chương trình văn nghệ hay những buổi sinh hoạt cộng đồng của người Việt xa xứ.

Có những nghệ sĩ người ta nhớ vì giọng hát. Có người được nhớ vì tài năng đặc biệt. Riêng Công Thành, khán giả nhớ đến ông bởi sự gần gũi, duyên dáng và cái chất hoạt náo rất riêng.

Ông xuất hiện với dáng người cao gầy đặc trưng, nụ cười hiền và lối nói chuyện hóm hỉnh. Ở ông luôn có cảm giác nhẹ nhàng, vui vẻ, như thể sân khấu đối với ông không chỉ là nơi biểu diễn mà còn là nơi để kết nối với mọi người.

Một thế hệ đang dần đi qua

Những năm gần đây, tin buồn về các nghệ sĩ trước 1975 xuất hiện ngày một nhiều hơn. Mỗi lần như vậy, người yêu nhạc lại có cảm giác như một phần ký ức cũ đang lặng lẽ khép lại.

Công Thành thuộc về lớp nghệ sĩ từng bước qua nhiều biến động của lịch sử Việt Nam. Từ Sài Gòn trước 1975 cho đến đời sống cộng đồng người Việt tại hải ngoại, ông vẫn tiếp tục giữ ngọn lửa nghệ thuật theo cách rất riêng của mình.

Có thể thế hệ trẻ hôm nay không còn biết nhiều về cái tên Công Thành. Nhưng với những người từng lớn lên cùng băng cassette, các cuốn video Paris By Night hay các chương trình văn nghệ cộng đồng người Việt ở nước ngoài, ông là một hình ảnh quen thuộc của cả một thời.

Một thời mà nghệ sĩ không cần scandal, không cần mạng xã hội, chỉ cần sự chân thành và niềm vui dành cho khán giả.

Công Thành và Lynn — một hình ảnh đẹp của sân khấu Việt

Nhắc đến Công Thành, nhiều người cũng nhớ ngay đến người bạn đời của ông: ca sĩ Lynn. Hai người từng là một cặp nghệ sĩ được yêu mến bởi sự đồng hành bền bỉ trong cả nghệ thuật lẫn cuộc sống.

Giữa một môi trường nghệ thuật nhiều đổi thay, hình ảnh Công Thành & Lynn vẫn luôn mang đến cảm giác giản dị và thân tình.

Có lẽ vì vậy mà khi nghe tin ông ra đi, nhiều khán giả không chỉ tiếc một nghệ sĩ, mà còn tiếc thêm một phần ký ức rất cũ của cộng đồng người Việt tha hương.

Khi tiếng cười ở lại

Nhiều nghệ sĩ ra đi để lại những bản hit. Có người để lại những vai diễn bất tử.

Còn Công Thành, có lẽ điều ông để lại chính là cảm giác vui vẻ, thân thiện và gần gũi mà ông từng mang đến cho khán giả suốt nhiều năm.

Và đôi khi, chính những điều giản dị ấy lại là thứ khiến người ta nhớ lâu nhất.

Xin được gửi lời tiễn biệt đến nghệ sĩ Công Thành.

Một tiếng cười của sân khấu Việt đã vừa lặng đi!

Đọc thêm

Công Thành & Lynn – Một Cặp Nghệ Sỹ Đa Tài

Xin ghi chú nguồn Dòng Nhạc Xưa và các nguồn có liên quan khi trích dẫn!

Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em (Song Ngọc – Hoài Linh)

Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu một bài viết về cách dùng chữ rất đặc biệt của nhạc sĩ Song Ngọc – Hoài Linh trong ca khúc “Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em”, một trong những bản bolero tình chiến nổi tiếng của miền Nam trước 1975.

“Nhúm” — Một Chữ Rất Xưa Của Tiếng Việt Miền Nam

“Hôm ấy anh đi mình với mình vừa quen, tình nhúm chửa thành…”

Có lẽ linh hồn của cả bài hát nằm ngay ở chữ “nhúm”.

Không phải:

  • tình mới
  • tình vừa chớm
  • hay tình vừa bắt đầu

Mà là: “tình nhúm chưa thành…”

Ngày nay, chữ “nhúm” thường được hiểu theo nghĩa:

  • một nhúm muối
  • một nhúm tóc
  • một nhúm tro

Tức là một thứ rất nhỏ, gom lại trong đầu ngón tay.

Nhưng trong tiếng Việt miền Nam xưa, “nhúm” còn mang hơi hướng của chữ “nhóm”:

  • nhóm lửa
  • nhóm bếp
  • than vừa nhúm đỏ

Nghĩa là:
một thứ vừa mới bén lên.

Cho nên câu hát “tình nhúm chưa thành” thật ra mang hình ảnh của một ngọn lửa vừa kịp cháy.

đọc tiếp

Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư (1940 – 2026)

Nhà thơ Phạm Thiên Thư trút hơi thở cuối cùng lúc 16h20 ngày 7/5 tại nhà riêng trên đường Hồng Lĩnh, khu Cư xá Bắc Hải (Sài Gòn). Những sáng tác của Ông khá phong phú nhưng đọng lại trong giới yêu nhạc vẫn là những bản nhạc do nhạc sỹ Phạm Duy phổ hay phóng tác từ thơ Phạm Thiên Thư. Tiêu biểu là các bài: Ngày Xưa Hoàng Thị, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, …

Ảnh: ThanhNien.vn

Dòng Nhạc Xưa xin cầu chúc cho linh hồn Nhà Thơ mau vãng sanh miền cực lạc!

Hai Mùa Mưa (Lê Minh Bằng)

Hôm nay trời Sài Gòn nhỏ những giọt mưa đầu mùa, sau những ngày tháng tư oi bức. Giữa khung cảnh phố xá đông đúc, từng dòng người vội vã lướt nhanh giữa cơn mưa bất chợt, bạn ngồi trong một quán cafe nhỏ và nghe bản “Hai Mùa Mưa” của Lê Minh Bằng (được ký dưới nghệ danh Mạc Phong Linh & Mai Thiết Lĩnh) để thấm từng lời ca, nốt nhạc của một mùa mưa đã đi vào dĩ vãng. Trong dòng cảm xúc đó, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu đến người yêu nhạc ca khúc “Hai Mùa Mưa”


Mưa đầu mùa – khi ký ức quay lại nguyên vẹn

Mưa đầu mùa có một đặc tính rất lạ: nó không mới.

Dù cả năm bạn chưa nghe lại tiếng mưa này, nhưng khi nó rơi xuống, mọi thứ trở lại gần như nguyên vẹn:

  • mùi đất ẩm
  • tiếng nước chảy trên mái hiên
  • ánh đèn phản chiếu trên mặt đường ướt

Và quan trọng nhất: cảm xúc của một thời điểm nào đó trong quá khứ.

Không phải bạn cố nhớ.
Mà là hoàn cảnh tái tạo lại ký ức cho bạn.


“Tiếng còi đêm lướt mau…” – một câu hát chạm đúng khoảnh khắc

Trong bài hát, có một câu gần như đứng riêng, tách khỏi mạch tình cảm thông thường:

tiếng còi đêm lướt mau, đoàn tàu đi về mãi mà bạn thân tôi nơi đâu

Đây không còn là một câu tình ca.

Đây là một câu hỏi không có người trả lời.

  • “tiếng còi đêm” – một khoảnh khắc chia ly
  • “lướt mau” – nhanh đến mức không kịp giữ lại
  • “đoàn tàu đi về mãi” – thế giới vẫn vận hành
  • “bạn thân tôi nơi đâu” – chỉ có một người là biến mất khỏi dòng chảy đó

Và chính cụm từ “bạn thân tôi” đã thay đổi toàn bộ cách ta nghe bài hát.


Khi “người ở lại” không phải là người yêu

Thông thường, người ta nghe “Hai Mùa Mưa” như một câu chuyện tình:

  • một người ra đi
  • một người ở lại chờ

Nhưng nếu lắng kỹ, đặc biệt là ở câu hát trên, ta có thể nghe ra một khả năng khác:

người ở lại là một người đàn ông, đang nhớ về một người bạn.

Không có lời than trách.
Không có nước mắt trực diện.
Chỉ có một câu hỏi rất giản dị:

giờ này… người đó đang ở đâu?

Đó là kiểu buồn rất “đàn ông” trong nhạc xưa:

  • không nói nhiều về cảm xúc
  • nhưng lại ám ảnh rất lâu

Mưa và ký ức: cái lặp lại của thiên nhiên, cái mất đi của con người

Điều làm “Hai Mùa Mưa” trở nên sâu không phải là chuyện tình, mà là cấu trúc thời gian.

  • Mùa mưa thứ nhất: có người
  • Mùa mưa thứ hai: không còn người

Nhưng mưa thì vẫn quay lại.

Đó là nghịch lý:

  • thiên nhiên lặp lại
  • con người thì không

Và vì vậy, mỗi cơn mưa đầu mùa không chỉ là thời tiết.
Nó là một lần so sánh vô hình giữa hiện tại và quá khứ.


Sài Gòn hôm nay – một phiên bản khác của “mùa mưa thứ hai”

Bạn có thể đang:

  • ngồi trong quán cà phê
  • nhìn dòng xe chậm lại
  • nghe tiếng mưa đập vào kính

Không có gì đặc biệt.

Nhưng chỉ cần một chi tiết nhỏ—một góc phố, một âm thanh quen—là đủ để một suy nghĩ thoáng qua:

“Có những người, từng ở đây… giờ không còn nữa.”

Không cần bi kịch.
Không cần nước mắt.

Chỉ cần một cơn mưa.


Kết

“Hai Mùa Mưa” không phải là bài hát làm người ta buồn ngay lập tức.

Nó giống như mưa đầu mùa Sài Gòn:

  • đến nhẹ
  • thấm chậm
  • và ở lại lâu hơn ta tưởng

Có thể bạn sẽ không nhớ toàn bộ lời bài hát.

Nhưng vào một ngày như hôm nay, khi trời bất chợt đổ mưa, rất có thể bạn sẽ nhớ đúng một câu:

“bạn thân tôi nơi đâu…”

Và tự nhiên thấy mình… đang ở trong mùa mưa thứ hai.

Vĩnh Biệt Nhạc Sỹ Mặc Thế Nhân (1939 – 2025)

Ngày 8/8/2025, tân nhạc Việt Nam đón nhận thêm một tin buồn: nhạc sỹ Mặc Thế Nhân đã mãi mãi ra đi ở tuổi 86. Ông để lại một số lượng sáng tác khá lớn, trong đó có một số bài đã trở thành bất hủ: Cho Vừa Lòng Em, Cho Người Vào Cuộc Chiến, Tương Tư 4, Mùa Xuân Cưới Em,…

Nhạc sỹ Mặc Thế Nhân (1939 – 2025). Ảnh: ThanhNien.vn

Đôi Nét Về Cuộc Đời Của Nhạc Sỹ Mặc Thế Nhân

(Nguồn: Wikipedia)

Ông sinh năm 1939 trong một gia đình tầng lớp trung lưu tại Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Về bút danh Mặc Thế Nhân, ông lý giải có nghĩa là “Góp giọt mực cho đời” chứ không phải theo nghĩa đen như nhiều người nhầm tưởng.

Năm 13 tuổi, ông đã tham gia văn nghệ học đường và bắt đầu học nhạc lúc 17 tuổi với các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Hùng Lân, Nguyễn Cầu, Nguyễn Quý Lãm, Xuân Bình ở trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông Sài Gòn. Ròng rã hai năm trời thụ mãn, ông ra trường và gia nhập ban Hoa Niên. Ngoài ra ông còn hợp tác với ban đàn dây Xuân Bình trình diễn trên làn sóng truyền thanh.

Cũng ở thời gian này ông đứng ra điều khiển và thành lập các ban văn nghệ Thông tin Quận I, Tổng hội Sinh Viên Học Sinh Đô Thành và ban Luân Vũ để đi trình diễn lưu động cho các hoạt động của chánh quyền. Ông cũng nhận dạy nhạc lý cho một trường tư thục trong đô thành Sài Gòn và rèn luyện cho một vài ca sĩ.

Nhạc phẩm đầu tay của ông là bản “Trăng quê hương” được xuất bản vào năm 1958.

Ông là một ký giả tân nhạc kịch trường, cộng tác với nhật báo Lẽ Sống, tuần báo Bình Dân với bút danh Mộng Thu và Giáng Ái Sĩ. Ông cũng là một kịch sĩ trong ban kịch Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Đến thập niên 1970, ông thực hiện loạt băng nhạc Nhã Ca và mở lớp nhạc tại khu Đa Kao, quận Nhứt, Sài Gòn.

Sau 1975, ông vẫn còn đang thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi từ trần.

Dòng Nhạc Xưa mời quý vị hiểu thêm về nhà nhạc sỹ tài hoa qua một chương trình của Jimmy Show

Trung tâm Thúy Nga tưởng nhớ nhạc sỹ Mặc Thế Nhân

Vĩnh biệt linh mục nhạc sỹ Phêro Nguyễn Kim Long (1941 – 2025)

Cùng với hàng triệu tín đồ Kito Giáo, trong tình yêu thương vô hạn, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi khi biết tin Cha Kim Long, cây đại thụ của nền thánh nhạc Công Giáo vừa được Chúa gọi ra khỏi đời này để về bên Thánh Nhan Ngài. Dòng Nhạc Xưa xin cầu mong linh hồn Phêro sớm về Nước Chúa.

Linh mục nhạc sĩ Phêrô Nguyễn Kim Long là một trong những cây đại thụ của nền thánh nhạc Việt Nam, với gia tài sáng tác đồ sộ lên đến hàng ngàn ca khúc. Ông vừa an nghỉ trong Chúa vào ngày 17 tháng 6 năm 2025, hưởng thọ 84 tuổi và 57 năm linh mục.

Đôi nét về linh mục nhạc sỹ Kim Long

1. Thời thơ ấu và ơn gọi:

  • Sinh năm: 1941, tại Giáo xứ Bách Tính, Bùi Chu, Nam Định, trong một gia đình Công giáo đạo hạnh.
  • 1954: Cùng gia đình di cư vào Nam sau biến cố chia đôi đất nước.
  • Học tập: Theo học tại Tiểu chủng viện Thánh Phanxicô, nơi ông bắt đầu hình thành con đường tu trì.
  • 1957: Ở tuổi 17, ông sáng tác tác phẩm thánh ca đầu tay mang tên “Con hân hoan”.
  • 1960: Phổ nhạc lời Việt cho bản “Kinh Hòa Bình” của Thánh Phanxicô thành Assisi, một trong những tác phẩm nổi bật nhất của ông cho đến nay.

2. Linh mục và sự nghiệp âm nhạc:

  • Trở về Việt Nam: Không chỉ thi hành mục vụ tại giáo xứ Đức Hòa (Giáo phận Mỹ Tho), mà còn tham gia giảng dạy thánh nhạc tại nhiều chủng viện và học viện thần học.
  • 1968: Thụ phong linh mục.
  • 1969: Được cử đi du học tại Giáo hoàng Học viện ở Rome, chuyên ngành bình ca, đối âm, hòa âm và nhạc lý phụng vụ. Ông tốt nghiệp xuất sắc vào năm 1972.
  • 1961: Ra mắt tuyển tập thánh ca đầu tiên mang tên “Ca lên đi”.
  • Vai trò quan trọng: Nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban Thánh Nhạc, nguyên Tổng thư ký Ủy ban Phụng Tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.
  • Sáng tác: Ông đã để lại một di sản khổng lồ với hơn 5.000 ca khúc thánh ca, trong đó nhiều tác phẩm đã trở thành kinh điển và quen thuộc với đông đảo tín hữu, như “Kinh Hòa Bình”, “Từ Lúc Mẹ Nói Lời Xin Vâng”, “Tình Yêu Thiên Chúa”, “Này Con Là Đá”, “Lạy Chúa Xin Dạy Con”, “Con hân hoan”… Những tác phẩm của ông không chỉ làm đẹp phụng vụ mà còn nâng đỡ tâm hồn bao thế hệ tín hữu.
  • Hoạt động khác: Ông luôn khiêm nhường, nhẹ nhàng, dành trọn cuộc đời để sáng tác, dạy nhạc, đào tạo thế hệ ca trưởng và ca đoàn.

3. Những năm cuối đời:

  • 2012: Nghỉ hưu với vai trò Phó Chủ tịch Ủy ban Thánh Nhạc, nhưng vẫn tiếp tục làm cố vấn, hướng dẫn các nhạc sĩ và ca trưởng trẻ.
  • 2018: Mừng 50 năm hồng ân thánh chức Linh mục.
  • Ngày 17 tháng 6 năm 2025: An nghỉ trong Chúa lúc 12 giờ trưa tại nhà riêng ở Chí Hòa, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 84 tuổi. Ông mắc bệnh ung thư đại tràng trong những năm cuối đời.

Linh mục nhạc sĩ Phêrô Nguyễn Kim Long là một nhân vật có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống phụng vụ và âm nhạc Công giáo tại Việt Nam, được biết đến như một “cây đại thụ Thánh nhạc Việt Nam”.

Xin ghi chú nguồn Dòng Nhạc Xưa và các nguồn có liên quan khi trích dẫn!