Thành Phố Sương Mù (Huỳnh Anh)

Hôm nay là thứ bảy cuối tuần, 12/9/2026. Dòng Nhạc Xưa vừa nhận được một phản hồi, nói chính xác hơn là một góp ý cho bài viết về bản “Thành phố sương mù” của nhạc sỹ Huỳnh Anh mà chúng tôi đã đăng khá lâu, ngày 7/1/2015. Chúng tôi tôi xin trân trọng ghi nhận và xin viết lại bài này với thông tin được tìm hiểu kỹ càng hơn. Một lần nữa, xin cảm ơn tấm lòng của người yêu nhạc xa gần.

Thành phố sương mù (Huỳnh Anh). Ảnh: SaigonGate.com
Thành phố sương mù (Huỳnh Anh). Ảnh: SaigonGate.com

Không ít người yêu nhạc xưa, khi nghe “Thành phố sương mù” của nhạc sĩ Huỳnh Anh (1932–2013), đều mặc nhiên nghĩ ngay đến Đà Lạt — thành phố vốn cũng được gọi bằng chính cái tên ấy. Cảm giác đó không khó hiểu: giai điệu bảng lảng, lời hát mang hơi sương và nỗi cô liêu, tất cả đều rất gần với hình dung quen thuộc về Đà Lạt trong tân nhạc miền Nam. Tuy nhiên, theo nhiều tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Huỳnh Anh, ca khúc này thực ra không viết về Đà Lạt, mà viết về một thành phố sương mù khác — San Francisco, nơi ông sống những năm tháng cuối đời ở hải ngoại.

Một trong hai ca khúc hiếm hoi sau 1975

Huỳnh Anh là một nhạc sĩ không xa lạ với người yêu nhạc, tác giả của những bài quen thuộc như “Mưa rừng”, “Kiếp cầm ca”, “Loan mắt nhung”, “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”. Nhưng có một điều ít người để ý: trong gần 40 năm sống ở hải ngoại sau 1975, ông rất kiệm lời trong sáng tác, chỉ cho phổ biến đến công chúng vỏn vẹn hai ca khúc mới — “Rừng chưa thay lá” (phổ từ thơ Hoàng Ngọc Ẩn) và “Thành phố sương mù”.

Theo một số tư liệu được ghi lại, “Thành phố sương mù” ra đời vào khoảng thập niên 1990, khi Huỳnh Anh đang mưu sinh bằng nghề tài xế taxi tại San Francisco — thành phố nổi tiếng khắp nước Mỹ với biệt danh “Fog City” vì sương mù bao phủ gần như quanh năm. Ca khúc được ông viết dành riêng cho giọng hát của ca sĩ Như Quỳnh, người sau này gắn liền với cả hai nhạc phẩm hiếm hoi ấy của ông.

Vì sao người nghe vẫn nghĩ đến Đà Lạt?

Đây là điểm thú vị và cũng dễ gây nhầm lẫn nhất. Bản thân lời ca của “Thành phố sương mù” không nhắc đích danh một địa danh cụ thể nào — không có tên Đà Lạt, cũng không có tên San Francisco. Cái được gọi tên chỉ là một tâm trạng: mây giăng, mưa rơi, một thành phố quạnh hiu chìm trong sương. Chính sự mơ hồ có chủ đích ấy, cộng với việc Đà Lạt từ lâu đã được văn nghệ Việt Nam gán cho biệt danh “thành phố sương mù” (như trong “Thành phố buồn” của Lam Phương), khiến phần đông khán giả người Việt khi nghe bài hát này lập tức liên tưởng đến cao nguyên Lâm Viên, dù nhạc sĩ chưa từng xác nhận đó là chủ đích của ông.

Nói cách khác: đây không hẳn là một sự nhầm lẫn vô căn cứ, mà là một sự “đọc chệch” rất tự nhiên — bởi không khí bài hát quá gần với hình dung quen thuộc về Đà Lạt, đến mức lấn át cả bối cảnh sáng tác thật sự.

Một khúc nhạc của người xa xứ

Nếu đặt lại “Thành phố sương mù” vào đúng bối cảnh ra đời của nó, bài hát mang thêm một tầng ý nghĩa khác, gần với tâm sự của người ly hương hơn là một bức tranh phong cảnh. Một người nhạc sĩ Việt Nam, sau biến cố 1975, mưu sinh bằng công việc bình dị nơi đất khách, mỗi ngày lái xe qua những con phố ngập sương của San Francisco — khung cảnh ấy tự nó đã đủ gợi nỗi cô đơn và hoài niệm, không cần vay mượn thêm hình ảnh Đà Lạt để trở nên da diết.

Điều này cũng lý giải vì sao “Thành phố sương mù”, dù không phải bài hát về Đà Lạt, vẫn được nhiều người xem là một trong những ca khúc hay nhất viết về không khí Đà Lạt sau năm 1975 — không phải vì nó đúng về địa lý, mà vì nó đúng về cảm xúc: nỗi buồn xa xứ của Huỳnh Anh và nỗi hoài niệm về một Đà Lạt sương mù trong ký ức người Việt, hóa ra lại rất gần nhau.

Lời kết

Câu chuyện về “Thành phố sương mù” là một ví dụ đẹp cho thấy đôi khi sự thật về hoàn cảnh sáng tác và cách công chúng cảm nhận một ca khúc có thể tách rời nhau, mà cả hai đều có giá trị riêng. Biết bài hát thực sự viết về San Francisco không làm giảm đi vẻ đẹp của nó khi ta nghe và nghĩ đến Đà Lạt — trái lại, nó cho thấy sức sống riêng của một bản nhạc hay: một khi đã ra đời, ca khúc không còn chỉ thuộc về nơi chốn đã sinh ra nó, mà thuộc về mọi thành phố sương mù trong lòng người nghe.

Tư liệu tham khảo

Xin ghi chú nguồn Dòng Nhạc Xưa và các nguồn có liên quan khi trích dẫn!

Căn nhà xưa (Nguyễn Đình Toàn)

Trong ký ức của mỗi người Việt Nam chúng ta, hình ảnh về ‘căn nhà xưa’, nơi chúng ta sinh ra và lớn lên có lẽ là những kỷ niệm khó phai mờ nhất. Dù ta đi đến phương trời nào, dù ta được chiêm ngắm bao nhiêu công trình kỳ vỹ nhưng mái nhà đơn sơ, chái bếp, hàng hiên, gốc cây, luống hoa,… ở ngôi nhà cũ vẫn cứ mãi là niềm rung động, là miền hoài niệm không nguôi. Trong tâm tình ấy, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bản ‘Căn nhà xưa’ của nhạc sỹ Nguyễn Đình Toàn.

Ảnh: BaoGiaLai.com.vn

Hồn cốt Đà Lạt và ‘căn nhà xưa’

(Nguồn: bài viết của tác giả Khánh Huyền đăng trên TheGioiTiepThi.vn ngày 2019-03-24)

“Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải? Nơi những sớm mai nằm nghe nắng giòn trên mái …”. Chúng tôi trở lại căn nhà xưa đó ở Đà Lạt giữa những ngày báo chí đề cập nhiều đến chuyện giữ hồn cốt Đà Lạt.

Đọc tiếp

Hoa trong nhạc: Mimosa

Nhắc đến Đà Lạt, người yêu nhạc thường hay nhớ đến hoa đào qua tuyệt tác “Ai lên xứ hoa đào” của Hoàng Nguyên. Tuy nhiên lẫn trong số những loài hoa góp vào vườn âm nhạc đủ màu sắc, chúng ta còn bắt gặp Mimosa. Dòng Nhạc Xưa xin tiếp tục chủ đề “Hoa trong nhạc” với bài viết giới thiệu loài hoa đặc trưng cho xứ “Ngàn hoa”.

Hoa “Mimosa” Đà Lạt – lại thêm một “ngộ sự văn hóa”

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Đình Hòa đăng trên vacne.org.vn ngày 2012-01-26)

Có đến 2 loài hoa được gọi chung tên là Mimosa ở Đà Lạt nhưng đều thuộc chi Keo Acacia, không thuộc chi Trinh nữ Mimosa.

Ảnh: http://vacne.org.vn


1.Chi Trinh nữ
(danh pháp khoa học: Mimosa – có nghĩa là Trinh nữ) là một chi khoảng 400 loài cây thân thảo và cây bụi, thuộc phụ họ Trinh nữ (Mimosoideae) trong họ Đậu (Fabaceae), lá kép hình lông chim với các tên gọi dân dã như xấu hổ, trinh nữ, mai dương v.v. (1). Loài được biết nhiều nhất là Mimosa pudica với tên gọi dân dã là cây xấu hổ hay cây trinh nữ bò lan do các lá của chúng khép lại khi bị chạm vào. Nhiều loài khác cũng khép lá lại vào buổi chiều. Trinh nữ có nguồn gốc ở miền nam Mexico và khu vực Trung Mỹ nhưng đã phổ biến rộng khắp như là một

loài cây cảnh được trồng trong nhà trong các khu vực ôn đới và ngoài vườn trong các khu vực nhiệt đới. Năm 1947 Thailand còn mắc sai lầm khi nhập cây mai dương về để cải tạo đất vì chúng là cây họ đậu. Việc trồng ngoài vườn đã làm cho Mimosa nhanh chóng trở thành một loại cỏ dại và một số loài trong đó trở thành loài xâm hại nguy hiểm ở nhiều nơi (1) .

Hoàng Nguyên, Nguyễn Ánh 9 và cây piano xứ hoa đào

Chắc hẳn người yêu nhạc xưa đều biết rõ trước khi trở thành nhạc sỹ sáng tác thì Nguyễn Ánh 9 là một nghệ sỹ dương cầm có hạng. Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu một bài viết của tác giả Lâm Viên về duyên âm nhạc của Nguyễn Ánh 9 và người thầy, nhạc sỹ Hoàng Nguyên.

 

Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Theo dấu xưa, chuyện cũ: Nguyễn Ánh 9 và cây piano xứ hoa đào

(Nguồn: bài viết của tác giả Lâm Viên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-12-13)

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 bên cây đàn piano mà ông đã học nhạc cùng nhạc sĩ Hoàng Nguyên 60 năm trước. ẢNH: VŨ HOÀNG

Ông Nguyễn Vũ Hoàng, Giám đốc Trung tâm văn hóa tỉnh Lâm Đồng, cho biết dịp Festival Hoa 2015, Trung tâm văn hóa tỉnh Lâm Đồng khai trương “Không gian kỷ vật văn hóa Đà Lạt”, trong đó có trưng bày 2 cây đàn piano có tuổi đời trên 100 năm, nguyên là đàn của các trường học “Tây” ở TP.Đà Lạt từ trước 1975.

Đà Lạt, một thời hương xa (5): ‘Cơn mưa phùn’ của ‘Thành phố buồn’

Dòng Nhạc Xưa đã giới thiệu nhiều ca khúc về Đà Lạt cùng các giai thoại bên lề. Hôm nay xin mời quý vị yêu nhạc xưa lại lắng đọng lòng mình cùng những nhạc phẩm bất hủ về thành phố mộng mơ.

Bìa cuốn băng Shotguns trong đó có bản ‘Cơn mưa phùn’ do Đức Huy & Thanh Tuyền song ca mà ngày đó gọi là ‘Đôi du ca Tuyền Huy’. Ảnh: Youtube.com

‘Cơn mưa phùn’ của ‘Thành phố buồn’

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-21)

đọc tiếp

Đà Lạt, một thời hương xa (4): Những giọng ca vàng từ phố núi

Dòng Nhạc Xưa giới thiệu kỳ 4 trong loạt bài của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên viết về các Thanh Tuyền và Tuấn Ngọc, hai danh ca xuất thân từ Đà Lạt.

 

Đà Lạt, một thời hương xa: Những giọng ca vàng từ phố núi

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-20)

Bìa đĩa 45 vòng với giọng ca Thanh Tuyền. ẢNH: TƯ LIỆU CỦA TÁC GIẢ

Đà Lạt, một thời hương xa (3): Tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn

Đà Lạt là nơi chốn đi về quá quen thuộc với nhạc sỹ Trịnh Công Sơn vì ông đã có nhiều năm dạy học ở B’lao (huyện Bảo Lộc ngày nay). Cũng từ những lần đi về đó, tình cảm với Đà Lạt đã nảy sinh trong lòng nhà nhạc sỹ đa sầu đa cảm họ Trịnh của chúng ta. Dòng Nhạc Xưa xin mời quý vị tiếp tục quay về với Đà Lạt một thời hương xa qua bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên.

Tuổi đá buồn (Trịnh Công Sơn). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Đà Lạt, một thời hương xa: Tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2016-10-19)

Đà Lạt một thời hương xa (1): Người thổi hắc tiêu cho hoa lan

Đà Lạt luôn được các văn nghệ sỹ ưu ái nhờ vào khí hậu mát mẻ, dễ chịu và khung cảnh thiên nhiên quá thơ mộng. Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu loạt bài của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên viết về Đà Lạt xưa.

 

Đà Lạt một thời hương xa: Người thổi hắc tiêu cho hoa lan

(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đăng trên Nguồn Nào Đó ngày 2016-10-17)

Đồi Thông Hai Mộ (Hồng Vân)

Trong một bài viết về bản “Người ấy” của nhạc sỹ Trần Quý, tức Hồng Vân, chúng tôi có nhắc đến sáng tác có lẽ là nổi tiếng nhất của ông: “Đồi thông hai mộ”. Hôm nay, để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin, chúng tôi xin giới thiệu bản nhạc này.
[dongnhacxua.com] không có nguồn tư liệu chính xác về thực hư của câu chuyện tình buồn “Đồi thông hai mộ” nhưng nếu đúng như truyền thuyết kể lại thì chúng tôi cầu mong linh hồn của hai nhân vật sẽ được an lạc nơi chốn vĩnh hằng “như lời xưa thề ước”!

Đồi thông hai mộ (Hồng Vân). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Đồi thông hai mộ (Hồng Vân). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

doi-thong-hai-mo--1--hong-van--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com doi-thong-hai-mo--2--hong-van--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

ĐÔI NÉT VỀ CÂU CHUYỆN “ĐỒI THÔNG HAI MỘ”
(Nguồn: wikipedia.org)

Cổng vào Đồi Thông Hai Mộ.
Cổng vào Đồi Thông Hai Mộ.

Thắng cảnh Đồi thông hai mộ thường được gắn với những câu chuyện ly kì, tuy nhiên có một câu chuyện được cho là trung thực nhất kể rằng: chàng tên Vũ Minh Tâm, nàng tên Lê Thị Thảo. Chàng quê ở Gò Công, Tiền Giang, sinh trong một gia đình đại điền chủ giàu có, là sinh viên Trường Võ bị Đà Lạt. Nàng:

        “… năm ấy khi tuổi vừa đôi chín
        Tâm hồn đang trắng trong
        Như chim non khi ăn còn chưa no
        Khi co còn chưa ấm”

Họ gặp nhau tâm đầu ý hợp, yêu nhau tha thiết và thề non hẹn biển. Tốt nghiệp, chàng về xin cha mẹ trầu cau cưới hỏi… nhưng bị gia đình phản đối kịch liệt vì gia đình nàng không “môn đăng hộ đối” và bắt đi cưới người con gái mà chàng không hề yêu. Chàng đã xin chuyển đến một vùng tuyến đầu lửa đạn để tìm quên… Và rồi, nàng nhận được tin báo tử của chàng từ chiến trường. Đau khổ tột cùng:

        “nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi
        trang điểm qua màu phấn
        Để phai úa đến tàn cả hương sắc
        tháng ngày luôn héo hon”

Sau đó, nàng tìm đến khu đồi thông bên bờ hồ Sương Mai (sau tình sử này được gọi là hồ Than Thở), nơi hai người xưa kia từng hò hẹn, tự vẫn chết vào ngày 15 tháng 3 năm 1956. Thuận theo nguyện vọng, gia đình đã chôn cất nàng ngay dưới khu đồi thông. Nhưng thật ra người ta đã nhầm khi báo tử, chàng không tử trận và đang trở về thăm nàng. Hay tin nàng chết, Tâm tìm đến mộ nàng vật vã khóc than, sau đó cũng tự tử chết theo để giữ trọn lời thề[6]. Trước khi chết, chàng để lại bức thư tuyệt mệnh với mong ước được yên nghỉ bên cạnh mộ nàng để hai người mãi mãi được gần nhau. Và:

        “… mộ chàng đã được ở cạnh nàng
        Như lời xưa thề ước
        Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc
        dưới mộ sâu đất khô
        Qua bao năm rêu xanh phủ che kín…”

Hai ngôi mộ trên đồi thông.
Hai ngôi mộ trên đồi thông.

Tuy nhiên, sau năm 1975, do tuổi cao sức yếu, không thể thường xuyên lên thăm mộ con, cha mẹ chàng đã cho bốc mộ anh đưa về quê. Dù hài cốt chàng đã được dời đi nhưng cảm thương mối tình của hai người, người thân của nàng vẫn để ngôi mộ đôi. Và sau này ngôi mộ được tôn tạo khang trang lại, trở thành điểm tham quan du lịch độc đáo như hiện nay.

Nhân dịp Festival hoa Đà Lạt 2012, Ban tổ chức đã cho trồng toàn hoa tím chung quanh khu mộ.

[footer]

Hoàng Nguyên – Cung Đàn Tài Hoa Bạc Mệnh (Nguyễn Ánh 9)

Trong quá trình tìm tài liệu về nhạc sỹ Hoàng Nguyên, tác giả của “Ai lên xứ hoa đào” nổi tiếng, [dongnhacxua.com] bắt gặp một thông tin thú vị: ông chính là người anh và cũng là người thầy đã dìu dắt nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 bước vào con đường âm nhạc. Chúng tôi xin mạn phép đăng lại bài viết của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9.

HOÀNG NGUYÊN, CUNG ĐÀN TÀI HOA BẠC MỆNH
(Nguồn: nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9, sưu tầm trên DaLatDauYeu.org)

Hoàng Nguyên vĩnh viễn ra đi đã gần phần tư thế kỷ, gửi lại cho đời không ít những tác phẩm đáng trân trọng, bởi nét nhạc tài hoa và ca từ thấm đậm, buồn man mác. Có lẽ trong long những người yêu nhạc sẽ mái mái vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp … “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi ! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ …”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc ‘Anh Đi Mai Về‘ này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.

Anh đi mai về (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Anh đi mai về (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

anh-di-mai-ve--1--hoang-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com anh-di-mai-ve--2--hoang-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

     Với tôi, Hoàng Nguyên như vẫn còn ở đâu đó quanh đây và những kỷ niệm với anh còn như mới hôm qua… Anh Hoàng Nguyên – Cao Cự Phúc của tôi. Tôi gặp anh lần đầu tiên cách nay hơn 40 năm, khi đang học Trường Yersin ở Đà Lạt, thành phố thơ mộng sau này đã đi vào các tác phẩm vượt thời gian của anh. Dạo đó, biết tôi là một chú học trò mê âm nhạc có chút năng khiếu, Hoàng Nguyên đã để tâm chăm sóc. Chủ Nhật hàng tuần, anh vào trường nội trú đón tôi ra ”nhà” anh chơi và ân cần truyền đạt cho tôi những kiến thức ban đầu về âm nhạc. “Nhà” anh ở thật ra chỉ là một căn phòng đơn sơ, trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt. Một hôm, tôi rất bất ngờ và hạnh phúc được anh “mời” tham gia ban nhạc phát thanh của anh. Đó là lần đầu tiên tôi bước vào “nghề ca nhạc”, năm 1956.

     Năm đó, Hoàng Nguyên đang phác thảo ca khúc Bài Thơ Hoa Đào

“Chiều nào dừng chân phiêu lãng, 
Khách đến đây thấy hoa đào vương lối đi…”

     Tôi hân hạnh là người ái mộ đầu tiên được anh đàn và hát cho “nghe thử” những âm điệu lời ca lãng đãng sương khói núi đồi của Bài Thơ Hoa Đào. Tôi vẫn nhớ như vừa ra khỏi giấc mơ còn tươi rói: chúng tôi ngồi co ro trong căn phòng nhỏ của anh; bên ngoài trời cao nguyên xam xám và mưa nhỏ. Đằng kia, những cánh hoa đào vừa lìa cành theo cơn gió bất chợt … Hỏi “Chắc anh đã chọn Đà Lạt làm quê hương ?”. Đôi mắt u hoài sau cặp kính trắng của anh hình như chợt xa khuất hơn: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng …”.

Bài thơ hoa đào (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Bài thơ hoa đào (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

bai-tho-hoa-dao--1--hoang-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com bai-tho-hoa-dao--2--hoang-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com bai-tho-hoa-dao--3--hoang-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

     Vâng, Hoàng Nguyên chỉ “ghé chân” – như anh viết “dừng chân phiêu lãng” nơi phố núi mù sương này một quãng thời gian ngắn nhưng cũng đủ để anh viết nên hai ca khúc tiêu biểu về một vùng đất thơ mộng dễ yêu: Bài Thơ Hoa ĐàoAi Lên Xứ Hoa Đào, hai ca khúc bất hủ đã làm rung động trái tim nhiều thế hệ người yêu nhạc, mãi mãi gắn chặt nghệ danh của anh với địa danh nổi tiếng này.

“Ai lên xứ hoa đào, dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.
Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều Xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ …”

     Bẵng đi một thời gian, chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn khảng đầu thập niên 70. Lúc ấy, tôi đã đi vào lĩnh vực ca diễn và Hoàng Nguyên đã bị động viên vào binh chủng Quân cụ chế độ cũ. Như một số các nghệ sĩ khác cùng thời, buổi sáng anh thường đến uống cà phê ở nhà Thanh Thế, đường Nguyễn Trung Trực. Nghe nói dạo đó tình cảm gia đình anh gặp chuyện không vui. Anh trở nên u uất hẳn và có lẽ vì thế anh đã rất thích bài hát Summertime có âm sắc blues-jazz trầm mặc đang thịnh hành và được phát thường xuyên ở nhà hàng Thanh Thế. Tác phẩm Cho Người Tình Lỡ của anh ra đời khoảng thời gian đó, chịu phần nào âm hưởng khắc khoải của Summertime.

“Nhớ mà chi, đau thương qua rồi
Thương mà chi, xót xa cũng đắng cay…”

     Năm 70, bài Không của tôi được Khánh Ly thu vào đĩa 45 vòng do Hàng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất, mặt sau có bài Cho Người Tình Lỡ do Thanh Lan hát. Ngày hãng đĩa trao tặng đĩa hát nói trên cho chúng tôi, Hoàng Nguyên thân mật vỗ vai tôi, thì thầm:”Mau quá Ánh hỉ ? Mới ngày nào ở Đà Lạt, anh em mình nói chuyện âm nhạc nhập môn, bây giờ Ánh đã có bài thu đĩa với anh…”. Vẫn là ngôn phong của một người anh ân cần, trìu mến !
Hoàng Nguyên còn để lại một tác phẩm khác, được yêu mến không kém các ca khúc đã có của anh, mà anh viết về xứ Huế, quê anh: Tà Áo Tím.

“Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang
Tôi đã gặp một tà áotím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương
Mầu áo tím sao luyến thương…”

     Hoàng Nguyên đột ngột chia tay với không gian âm nhạc của chúng ta một buổi sáng năm 1973 trong một tai nạn giao thông khi anh từ Vũng tàu trở về Sài Gòn. Ở độ tuổi 50 chín muồi rung động và từng trải cuộc đời. Tôi thầm nghĩ, nếu Hoàng Nguyên chưa vội ra đi chắc chắn ca mục của anh sẽ còn nối tiếp bằng những ca khúc dịu dàng, thanh thoát trong đó nỗi u hoài được nâng lên thành những vần thơ trong vắt…

 Nguyễn Ánh 9

[footer]