Một mùa xuân nữa lại về trên quê hương Việt Nam. Trong không khí rộn rã của xuân Ất Mùi 2015, [dongnhacxua.com] xin gởi đến người yêu nhạc xưa bản “Gái Xuân” của nhạc sỹ Từ Vũ, phổ theo lời thơ của thi sỹ Nguyễn Bính.
Nhạc sĩ Từ Vũ (tên thật là Trần Đỗ Lộc), sinh năm 1932 tại Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông là tác giả của những giai điệu quen thuộc: “Em như cô gái hãy còn xuân. Trong trắng thân chưa lấm bụi trần”. Hơn nửa đời người từ bỏ bảy nốt nhạc, nay ông lại “hồi xuân” để viết tiếp những khúc ngợi ca tình yêu, mùa xuân.
Nhạc sỹ Từ Vũ. Ảnh: HaNoiMoi.com.vn
Năm 1954 NXB Tinh Hoa cho ấn hành cuốn sách nhạc trong đó có tác phẩm “Gái xuân” của nhạc sĩ Từ Vũ. Điều đặc biệt “Gái xuân” là nhạc phẩm mang âm hưởng miền Bắc đã trở thành món ăn tinh thần được yêu quý ở miền Nam. Từ ca sĩ đến người dân miền Nam chưa một lần đặt chân đến đất Bắc nhưng vẫn hào hứng hát: “Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/Gái xuân rũ lụa bên sông Vân”. Chính ca khúc này đưa nhạc sĩ Từ Vũ ngang hàng với các nhạc sĩ nổi tiếng ở thế hệ trước. 60 năm sau, ca khúc “Gái xuân” vẫn sống khỏe qua các thế hệ ca sĩ và trở thành một nhạc phẩm thân thuộc không thể thiếu trong dịp tết đến xuân về từ Nam ra Bắc.
Trong căn nhà nhỏ đường Nguyễn Cửu Đàm, quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh, nhạc sĩ Từ Vũ kể với chúng tôi về những nốt nhạc “định mệnh” đời mình: “Khi đọc đến “Gái xuân” của Nguyễn Bính, tự nhiên nỗi nhớ quê hương, nhớ thương người con gái đang ở một phương trời xa ập tới, nghẹn lại, tôi phổ nhạc cho bài thơ chỉ trong một giờ đồng hồ là xong. Viết xong, tức tốc đạp xe đến nhà ca sĩ Linh Sơn nhờ thể hiện để làm món quà tặng người bạn gái du học. Không ngờ ca khúc lại trở nên nổi tiếng”. Ông bảo, hãnh diện nhất là ca sĩ miền Nam, người miền Nam đã hát “Gái xuân”. Sở dĩ như vậy bởi năm 1950 nhạc sĩ Từ Vũ theo gia đình vào miền Nam sinh sống và thường bị bạn bè chê cười gọi là “cá gỗ”, “rau muống”. Mối tình đầu của nhạc sĩ Từ Vũ với một cô gái miền Nam tan vỡ vì bị gia đình cô gái cấm cản. Rồi mối tình thứ hai cũng chẳng thể an bài, người yêu lần này là cô bạn gái cùng lớp tên là Thanh Vân, hai người thương nhau suốt một kỳ học nhưng phải chia tay nhau vì Thanh Vân ra nước ngoài du học. Trong buổi chiều cô quạnh, chàng trai trẻ thương nhớ người yêu, thương nhớ mùa xuân đất Bắc tìm được tập thơ Nguyễn Bính và đọc đến bài thơ “Gái xuân” thì cảm xúc dâng trào..
Góa vợ từ năm 39 tuổi, một mình ở vậy nuôi 4 con trưởng thành, cuộc đời nhạc sĩ Từ Vũ gắn với sự cô độc và khó khăn. “Xa Hà Nội, xa mùa thu, xa buổi sáng đầu đông và xa nụ cười hoa đào chớm xuân, tôi mất cảm xúc không thể nào viết được, do đó không còn sáng tác được ca khúc xuân. Năm 1993, có dịp trở về thăm Hà Nội, không khí trong lành của ngày đầu chớm xuân, tôi chợt nghe lời hát “Gái xuân” và tự nhiên bồi hồi, xúc cảm!”. Nhạc sĩ Từ Vũ quyết định thay đổi. Ông dành thời gian để chăm sóc vườn hoa trên sân thượng, cùng bạn bè đi viếng mộ các thi nhân lớn của Việt Nam như Hàn Mặc Tử, nhà thơ Tương Phố. Ngoài ra, ông tiếp tục phổ nhạc bài thơ “Hai sắc hoa Ti gôn” của TTKH và bài “Giọt lệ thu” của nữ sĩ Tương Phố . Ông bắt mạch cảm xúc tìm về sáng tác các ca khúc xuân ở tuổi 80. Ông khoe với chúng tôi ca khúc “Ta tìm thấy nhau” bằng ánh mắt hân hoan về một mùa xuân tuần hoàn của cuộc đời.
Trong quá trình tìm kiếm những tư liệu hiếm hoi về nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh, [dongnhacxua.com] vô tình gặp được bài viết của tác giả Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của nhà thơ Du Tử Lê. Chúng tôi xin mạn phép đăng lại để người yêu nhạc có thêm thông tin thú vị về bà Đặng Thị Thuận, người vợ đã hy sinh rất nhiều cho sự nghiệp sáng tác của nhà nhạc sỹ mà chúng ta yêu mến!
Lý do mạnh mẽ nhất, thôi thúc tôi phải gặp bà cho bằng được, có lẽ vì những điều tôi nghe được từ phần đời thường lặng lẽ, ơ hờ, tưởng chừng tẻ nhạt, kéo dài trên nửa thế kỷ của bà, với tác giả “Lời Thề Xưa,” “Chiều Gặp Gỡ,” “Tâm Sự với Cây Đàn,” hay “Chiều Vàng,” “Nỗi Lòng,”…chỉ là cái phần ngoài da, che đậy chịu đựng…Ở lãnh vực này, tôi nghĩ, có phần vượt trên mức hy sinh, chịu đựng của bà Tú Xương!
Orchid và Bà Nguyễn Văn Khánh, 2006 (Hình Orchid Lâm Quỳnh)
Sự ơ hờ hay tẻ nhạt của một đời người, tôi nghĩ, nó cũng giống như cái biểu hiện bề mặt của hiện tại một địa danh từng một thời nổi tiếng. Cũng hệt như những du khách đến với Hà Nội hôm nay, trong cung cách “cưỡi ngựa xem hoa,” sẽ chẳng ghi nhận được gì nhiều, ngoài khu Phố Cổ, một số thắng tích đã xuống cấp như Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, chùa Một Cột, đê Yên Phụ, chùa Quán Sứ…
Như mẹ tôi từng bảo tôi rằng, bất cứ một đế đô, một thành phố lịch sử nào trên thế giới, đều bị bụi, rác thời gian xóa nhòa, vùi lấp mọi hào quang quá khứ. Chỉ khi nào ta lắng lòng, đào xới dĩ vãng, khi đó, ta mới có thể bắt gặp những kết tinh quý giá làm thành lịch sử nghìn năm của địa danh ấy.
Với cá nhân tôi, trường hợp bà Nguyễn Văn Khánh, nhũ danh Đặng Thị Thuận, có lẽ cũng là một điều gì tương tự…
Qua chuyện kể và nhất là qua những chi tiết tôi được nghe từ ông bà Hoàng Giác / Kim Châu, thì đằng sau cái đời thường lặng lẽ, ơ hờ, tưởng chừng tẻ nhạt của bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận, là cả một không gian dữ dội, đắng cay…tới độ tôi không dám tin có thật!
Vì thế, tôi nghĩ “trời có mắt,” khi buổi chiều, định soạn hành lý, để trưa hôm sau ra phi trường, trở về Cali, thì một nhân viên khách sạn, đưa cho tôi tờ giấy viết tay của nhạc sĩ Hoàng Giác. Ông viết:
“Cháu Quỳnh, “Đã tìm được địa chỉ của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, có người tình nguyện đưa các cháu đến gặp gia đình tại ngõ Khâm Thiên. Sáng nay sang tìm cháu không gặp. “Vậy cháu về thì hãy sang bác để gặp người họ hàng tới trực tiếp gia đình.”
“Bác Hoàng Giác.”
Tôi và Hân, quyết định đổi vé, hoãn chuyến bay về Mỹ. Hôm sau, trời mới hừng sáng, chúng tôi đã rời khách sạn, tới nhà nhạc sĩ Hoàng Giác.
Người phụ nữ tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi là một người trong gia tộc của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh. Cô sốt sắng, mau mắn và nhiệt tình. Tôi thấy giống như chúng tôi được đưa đi…“tìm trầm” vậy.
Trên đường đi, nửa đùa, nửa thật, cô bảo, đường đến nhà nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, “Khó không thua gì đường lên…trời. Chỉ cần không đi một thời gian, là quên ngay, lạc ngay!”
Đúng vậy! Tôi không nhớ chúng tôi được dẫn xuyên qua bao ngõ, trổ qua bao ngóc ngách dích dắt…Nhiều lần theo chân cô, rẽ vào những con ngõ rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho một người đi. Tôi không biết người ta sẽ phải làm gì, nếu chẳng may, đang đi, có một người ngược chiều?
Dường như cảm được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn chúng tôi trong đường “lên trời,” hỏi tôi: “Cháu có biết chúng ta đang đi trên những đoạn đường hẹp này, gọi là gì không?”
Tôi đáp:
“Không cô ạ!”
Cô bật cười, bảo:
“Ở đây, người ta gọi là cái…ngách đấy!”
Tôi cũng bật cười, bất ngờ, thích thú. Hồi nào giờ, tôi vẫn nghĩ hai chữ “ngõ ngách” chỉ là một danh từ kép. Ngôn ngữ Việt có nhiều, rất nhiều những danh từ kép, như thế. Tôi nói ra với cô, sự “vỡ nhẽ” của mình, thay cho lời cảm ơn. Cô vui lắm. Cô nhắn nhủ:
“Còn nhiều đều ở đây đáng cho con học đấy. Con phải về đây nhiều nhiều mới được.”
Tôi đáp:
“Vâng ạ,” và thấy “đường lên trời dường như đã phần nào ngắn bớt.
Cuối cùng, như một phần thưởng xứng đáng cho lòng chân thành, tha thiết của mình, chúng tôi cũng tìm ra chỗ ở đầu tiên, và sau chót của tác giả “Nỗi Lòng.”
Tôi không biết cảm giác của Hân! Riêng tôi, ngay khi vừa bước chân vào căn nhà, như một di tích của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, tôi đã có cái cảm giác vắng vẻ, bùi ngùi…Nó rất gần với một ca từ, trong ca khúc “Chiều Vàng” của ông:
“Giờ đây viếng thầm hồn cố nhân – Năm tháng trôi theo sóng gió đời…”
Nếu tôi hiểu không lầm thì ca khúc này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh viết gửi cho linh hồn một người yêu của ông, đã mất. (Hay ít ra thì, dù người đó vẫn còn sống, nhưng với ông, kể như đã quá cố…!)
Ngoài cụm từ “…viếng thầm hồn cố nhân,” trước đó còn có một ca từ khác của ông, cho thấy tính cách này dứt khoát hơn, rõ ràng hơn nữa, đó là câu:
“Hồn em có cùng người chứng minh…”
Thêm ca từ này, tôi nghĩ người nghe có thể khẳng định rằng “cố nhân” hay “người xưa” của ông, trong ca khúc, đã đi khỏi cuộc đời này.
Nếu suy nghĩ của tôi không sai, thì “Chiều Vàng” có lẽ là ca khúc đầu tiên (và duy nhất?) của nền tân nhạc Việt Nam, được viết cho một người tình đã chết.
Mấy chục năm sau, một người ngưỡng mộ tài hoa Nguyễn Văn Khánh, thuộc thế hệ 1,5 là tôi, đâu ngờ, khi có cơ hội tìm thăm ông; thì chính ông, tác giả, cũng đã từ lâu, qua đời! Và tôi (chứ không phải ông,) tìm đến để thầm viếng linh hồn ông (chứ không phải linh hồn cố nhân của ông!)
Tuy thế, tôi vẫn thấy tôi may mắn. Tôi hạnh phúc hơn rất nhiều người khác. Ít ra tôi vẫn có cơ hội được gặp gỡ, được nhìn tận mắt, được chạm bằng tay vào xương thịt người bạn đời của ông: Bà Đặng Thị Thuận. Bởi vì, trước sau gì, thời gian rồi cũng sẽ đem bà về bên kia thế giới, với ông. Cũng như thời gian đã đem đi khỏi cuộc đời này, khỏi chúng ta một Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân, Văn Cao…Và, gần hơn, là một Phạm Đình Chương, Lê Thương, Mai Thảo, Nguyên Sa, Văn Phụng, Tạ Tỵ, Đỗ Ngọc Yến…
Tiếp tôi trong căn nhà, nơi ở cuối cùng của tác giả “Nghệ Sĩ với Cây Đàn,” là bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận và, anh Nguyễn Mạnh Phú, trưởng nam của ông bà. Có thể vì có chung với nhau một mẫu số, là lòng yêu mến, trân trọng tài năng người quá cố, nên dù chỉ là hàng con, cháu, lại mới gặp lần đầu, nhưng chúng tôi đã được bà Nguyễn Văn Khánh đối xử với một tinh thần cởi mở, thoải mái. Giống như thể bà, cháu chúng tôi cùng hè nhau kể “chuyện xấu” người ông thân yêu, vắng mặt.
Ở tuổi 86, vào mùa hè, Hà Nội, 2006, bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận đã tặng cho chúng tôi những nụ cười móm mém hồn nhiên; những sôi nổi, hào hứng qua giọng nói trầm, bổng phản ảnh nhịp chảy dồn dập, hay khoan nhặt của dòng suối kỷ niệm, dĩ vãng.
Tôi cũng ghi nhận được, một cách hạnh phúc xen lẫn ngậm ngùi, khi đôi mắt già nua; khi lớp da nhăn bởi mưu sinh, đã lên nước thời gian; và luôn cả những sợi tóc mai bạc thếch, phất phơ sót lại…chốc chốc lại ánh lên niềm hãnh diện, hân hoan.
Tôi cũng hạnh phúc ước ao, phải chi những giây phút, những hình ảnh bất chợt tôi ghi nhận được từ nơi bà, sẽ mãi mãi còn đó. Tôi muốn nói những lần bà lấy tay che…miệng! Cử chỉ tố cáo sự e thẹn, xấu hổ nơi bà! (Một hành động thường chỉ thấy ở những thiếu nữ mới lớn)
Đó cũng là lúc, tôi chợt thấy hàm răng đen lánh, hạt huyền còn giữ được của bà, mới đẹp làm sao!
Cử chỉ, hàm răng hạt huyền của bà Nguyễn Văn Khánh / Đăng Thị Thuận, giúp tôi hiểu rõ hơn, thấy hay hơn, mấy câu ca dao sau đây:
“Năm quan mua lấy miệng cười, “Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.”
Với những người của Hà Nội cũ, ở thập niên 1940, nhiều người, tới giờ còn nhớ, ở khu Khâm Thiên, có một thiếu nữ nổi tiếng về nhan sắc và, giỏi giang, nết na, tên là Đặng Thị Thuận. Khi ấy, dân số Hà Nội còn thưa thớt. Nên người con gái họ Đặng đã sớm được nhiều gia đình thế giá ngắm nghía, cầu cạnh cho con trai họ.
Phần mình, Đặng Thị Thuận lại không một chút bận tâm về đường chồng con.
Nhưng, người con gái họ Đặng, không trong lớp người này. Nàng thuộc thành phần thiếu nữ bên ngoài. Nàng cũng không màng tới những trào lưu Văn học, Nghệ thuật phương Tây, đang thay da, đổi thịt Hà Nội. Nàng chỉ chú tâm vào việc giúp cha mẹ, chăm lo gia đình.
Cho nên, đầu năm 1942, được bà dì mai mối cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, thoạt tiên, người con gái họ Đặng đã lạnh lùng từ chối. Thậm chí, nàng cũng chẳng có cái tò mò coi mặt chàng trai đến nhà cầu hôn mình.
Bây giờ, nhớ lại, với nụ cười móm mém hân hoan, bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận kể tiếp:
“…Vì bà dứt khoát không chịu, nên bà đâu có coi mặt ông! Ấy vậy mà bà chị dâu của bà thì lại tò mò, hăng hái bảo với bà rằng:
“Mày không chịu, nhưng cứ để tao ra coi cái mặt mẹt của nó xem sao…”
Và, con biết không, chỉ ít phút sau, bà ấy chạy vào bếp, kháo với bà rằng, ‘Tao thấy mặt mũi nó được đấy, Thuận à.’ ”
Vì đã được coi ảnh nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh trước khi gặp bà, tôi bèn ngắt lời bà:
“Chứ không phải bà đã biết rõ từ trước, là ông đẹp trai quá trời à? Bây giờ ông mất rồi, bà nói thiệt con nghe đi!”
Người bạn đời của tác giả “Chiều Vàng,” ở tuổi 86, cười thẹn, lấy tay che miệng, chối:
“Ối dào! Bà mà nói dối cho trời chu đất diệt bà đi…”
Tôi vội ôm bà:
“Bà ơi! Con chọc bà đó mà!”
Sau đấy, khi biết cha mẹ, các anh các chị trong nhà cùng “chấm” nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, người con gái họ Đặng, cuối cùng, nhận lời lên xe hoa. năm đó, bà nói:
“Bà đúng 20 tuổi!”
Cuộc hôn nhân thuở ban đầu, không được khởi đi từ một tình yêu có trước. Nhưng, không vì thế mà sau đó, người con gái họ Đặng, một thời nổi tiếng nhan sắc khu Khâm Thiên, không yêu thương chồng, trái lại…
Bà kể, những năm đầu của cuộc hôn nhân, tác giả “Nỗi Lòng” thường xuyên ở nhà. Ông tự tạo lấy cho mình một căn nhà nhỏ, như một không gian riêng, để làm việc.
Căn phòng, hay cái không gian riêng đó, của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, không xa ngôi nhà chính bao nhiêu. Nhưng nó lúp xúp, nhỏ bé như một cái hang. Nó lại được làm dưới gốc cây đa, cho nên sau này, mọi người, cũng như gia đình và, chính ông, cũng gọi một cách thân yêu là: “Cái Miếu.”
Theo lời kể của anh Nguyễn Mạnh Phú, trưởng nam cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh thì chính ở tại cái Miếu kia, nhạc phẩm đầu tay, nhan đề “Thu,” viết cho thân mẫu của anh, ra đời năm 1946. Kế tiếp, là những ca khúc như “Chiều Vàng,” rồi “Nỗi Lòng,” được thân phụ anh viết năm 1951.
Cũng thời gian này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh đã viết ca khúc “Nghệ Sĩ với Cây Đàn.” Anh Phú kể:
“Bản nhạc ấy, ông viết sau khi đi Bắc Ninh, thăm một người yêu cũ, nhưng không gặp được…”
Cũng trong cái Miếu (bây giờ vẫn còn) cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh đã sáng tác những ca khúc khác, tương đối cũng được nhiều người biết, như “Chiều Gặp Gỡ,” “Lời Thề Xưa,” hay Tâm Sự với Cây Đàn”…
Nhưng, điều mà bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận hãnh diện, hạnh phúc kể cho chúng tôi nghe là:
“Lúc ông ngồi viết nhạc trong miếu, bao giờ bà cũng là người ngồi sau, cầm quạt, quạt cho ông đấy, con ạ!”
Mặc dù, bà cũng không quên nhấn mạnh rằng, bà không biết gì về âm nhạc. Bà cũng chẳng quan tâm bao nhiêu tới các ca khúc của ông; ngoài ý thức tôn trọng chồng, tôn trọng công việc và sự nghiệp của chồng. Bên cạnh đó, bà cũng là người tần tảo, lặng lẽ tự lực nuôi ba người con bà có với ông.
Tính tới ngày 20 tháng 8 năm 1976, là ngày tác giả “Chiều Vàng” từ trần, Tôi không biết bà Nguyễn văn Khánh / Đặng Thị Thuận đã được sống bên chồng bao nhiêu năm tháng! Ngay bà khi được hỏi, bà cũng không biết. Chỉ biết, như bà kể, thì rất ít.
Bà nói, trong suốt 34 năm làm vợ tác giả “Nỗi Lòng,” trừ một thời gian ngắn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh bị tù vì trốn lính thời Pháp thuộc; tổng số thời gian ông ở nhà, chỉ khoảng một phần ba, hai phần ba của quãng đời chồng vợ này, là thời gian nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh rong ruổi theo những đam mê tình ái, với nhiều phụ nữ khác!
Một trong những phụ nữ khiến tác giả “Lời Thề Xưa,” quên bẵng lời…thề, bỏ nhà ra đi dài lâu nhất; đến độ đã có với người đàn bà đó, 7 người con; là người phụ nữ tên Sâm, cô là một ca sĩ. Tôi nghĩ rằng hình ảnh người đàn bà này, nhiều phần sẽ mãi ở trong ký ức chịu đựng, nhẫn nhục của bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận.
Sở dĩ tôi có cho mình cảm tưởng này, bởi vì, mùa hè năm 2006, dù đã ở tuổi 86, khi kể tôi nghe, câu chuyện về người phụ nữ có tới 7 con với chồng mình, bà Nguyễn Văn Khánh còn nhắc, từng tiếng: “…tên là Lê Thị Sâm!”
Bà cũng kể thêm rằng, ba năm trước khi chồng bà qua đời, bà Sâm đã quyết liệt xua đuổi tác giả “Nỗi Lòng!”
Không còn chọn lựa nào khác, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh buộc lòng phải trở về với vợ con; cùng chứng bệnh viêm quai hàm, giai đoạn cuối.
Đó cũng là thời gian thân phụ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh năn nỉ cô con dâu cả, đem hai đứa con nhỏ bệnh tật, quặt quẹo, còn sống sót trong số 7 đứa con của kẻ “cướp chồng” mình về nuôi “làm phúc.”
Không một ai biết được bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận có thực tâm tự nguyện nuôi hai đứa con bệnh tật của “kẻ thù,” (chữ này của tôi,) lấy phước; hay chỉ vì nể lời cha chồng? Nhưng, mọi người đều công nhận, nếu không có công sức chăm sóc ngày đêm, chạy chữa, bác sĩ, thuốc men…của bà, thì hai người con của bà Sâm chắc chắn cũng đã chung số phận ngắn ngủi như 5 anh chị của họ, trước đấy.
Trước việc làm cực kỳ nhân đức, cao thượng của mình, bà Nguyễn Văn Khánh đã rất chân thành, khiêm tốn, khi nói:
“Nhiều người bảo bà…’mát’ tay nuôi con nhỏ…”
Anh Nguyễn Mạnh Phú kể thêm:
“Mẹ tôi đã cứu sống hai đứa con riêng của bố tôi và người vợ lẽ như một phép lạ!”
Riêng bà Sâm thì đã từ trần năm 1979, khoảng trên dưới 3 năm, sau cái chết của thân phụ anh.
“Bà ấy không được thấy hai đứa con còn lại của bà ấy với bố tôi, nay đã nên người…” Anh Phú kết luận một cách hân hoan và tiếc rẻ.
Tôi không thể hình dung, và cũng không thể tưởng tượng, sau chừng đó cay đắng, chịu đựng, vậy mà, mỗi lần, khi tôi cố tình chọc ghẹo bà, bằng những câu hỏi lập đi lập lại nhiều lần; đại ý như “Bà có ghen với ông không?” “Đã lần nào bà đi đánh…ghen chưa?” Hoặc, “Bà có biết bài này ông làm cho cô nào không?” Thì bao giờ bà cũng đáp, trước nhất, bằng những nụ cười móm mém hồn nhiên, nét duyên dáng xưa cũ…Và, sau đó là những lời nói ngắn gọn, dứt khoát. Thí dụ như:
“Không.” “Chả đời nào.”
Hoặc:
“Không.” “Chả bao giờ!”
Hay:
“Không.” “Tôi không ghen.” “Tôi mặc kệ.” Bà cũng kể, có lần các chị em bên chồng rủ bà đi đánh ghen…Nhưng bà từ chối. Bà bảo:
“Ai đi thì đi. Tôi í à…tôi chả đi đâu hết!”
Trước khi chúng tôi phải chia tay, bằng một giọng thản nhiên, với đôi mắt đục nắng mưa, năm tháng, thỉnh thoảng, hướng về phía bàn thờ chồng, nơi mà sau di ảnh là bài hát “Nỗi Lòng,” do chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh kẻ nhạc, viết lời, bà tâm sự:
“Vậy đó! Con biết không, sau những năm tháng bỏ vợ, bỏ con đi biền biệt như thế, nhưng mỗi khi ông đau ốm hay bị chúng nó đuổi ra khỏi nhà, trở về với bà, bà vẫn lo cơm nước chu đáo cho ông. Mỗi khi ông ra ngoài cái Miếu viết nhạc, hay làm gì đó, chớ bao giờ bà quên mang ra cho ông một chai rượu… Bà cũng không ngừng tay quạt cho ông đâu nhé! Dù cho bà chẳng biết, và cũng chẳng bao giờ hỏi ông viết gì?…”
Bà cho tôi cảm tưởng, nội việc là: “Bà Nguyễn Văn Khánh,” chừng đó thôi, với bà, đã quá đủ!
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh (? – 1976) là một trong số những nhạc sỹ để lại cho hậu thế chỉ một vài tác phẩm nhưng những sáng tác ấy đã trở thành bất hủ. ‘Nỗi lòng’ và ‘Chiều vàng’ là hai bản nổi bật mà người nhạc sỹ tài hoa để lại cho người yêu nhạc chúng ta. [dongnhacxua.com] xin trân trọng giới thiệu dòng nhạc Nguyễn Văn Khánh cùng bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên.
Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ 2 của nền tân nhạc VN. Tuy nhiên, ông chỉ để lại vài tác phẩm, trong đó nổi bật là các ca khúc Chiều vàng và Nỗi lòng…
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn
“Ngón nghề độc chiêu” của Nguyễn Văn Khánh là chơi đàn guitar Hawaienne (Hạ uy cầm). Không biết ông học từ ai, nhưng theo Hoài Nam trong 70 năm tình ca âm nhạc Việt Nam (Đài SBS, Úc, thực hiện) thì trước 1954, ở Hà Nội chỉ có 2 nhạc sĩ chuyên đàn và sáng tác cũng như dạy đàn bằng Hạ uy cầm là William Chấn (thầy của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) và Nguyễn Văn Khánh. Riêng ông Khánh lại đánh đàn bằng tay trái, cho nên “nếu không phải là… thiên tài thì cũng là người có khả năng đặc biệt”. Cùng thời với ông là những nhạc sĩ: Hoàng Dương, Hoàng Trọng, Nguyễn Thiện Tơ, Hoàng Giác, Tu My, Hùng Lân… góp phần làm nên thời cực thịnh của tân nhạc VN thập niên 1944-1954…
Dạo nền tân nhạc mới thành hình ở nước ta (đầu thập niên 1940), “các chàng nghệ sĩ Tây nhạc” luôn là thần tượng của nhiều cô gái, nhất là ở các chốn thị thành. Ở Hà Nội, Nguyễn Văn Khánh mở lớp dạy Hạ uy cầm và Tây ban cầm ở gần ga Hàng Cỏ (lối đi xuống chợ Khâm Thiên), phía trước nhà có một cái ao, bên kia ao là nhà trọ của các nữ sinh. Những đêm trăng sáng, Khánh đem đàn ra sân chơi, tiếng đàn Hạ uy cầm réo rắt… Phía bên kia ao, đám nữ sinh rủ nhau ra ngồi nghe đàn trông như một đàn cò trắng.
Vậy mà ở gần đó, ngay phố Khâm Thiên, có một thiếu nữ đẹp người, đẹp nết nhưng lại chẳng chút động lòng hoặc tơ tưởng đến “các chàng nghệ sĩ Tây nhạc”, nàng chỉ chăm lo phụ giúp cha mẹ. Cô gái ấy tên Đặng Thị Thuận. Cô gái không màng đến những chàng nghệ sĩ hào hoa kia lại “bị” bà dì của mình mai mối cho Nguyễn Văn Khánh. Lúc đầu, cô Thuận cứ “ứ thèm”, chẳng cần biết Khánh là ai, thậm chí khi nhà trai đem lễ vật đến chạm ngõ, cô cũng chẳng thèm… len lén xem mặt anh chàng kia như những cô gái khác thường làm. Ấy thế nhưng, bà chị dâu của cô lại xăng xái: “Mày không chịu, nhưng cứ để tao xem cái mặt mẹt của nó xem sao!”. Lát sau, bà chị dâu ấy chạy vào bếp, mách: “Tao thấy mặt mũi nó cũng được đấy, Thuận à!”… và được sự “động viên” của những người thân trong gia đình, cô Đặng Thị Thuận chính thức trở thành bà Nguyễn Văn Khánh vào đầu năm 1942. Khi ấy cô 20 tuổi!
Vợ chăm chồng viết nhạc cho người yêu
Cuộc hôn nhân tuy không hình thành từ tình yêu trước đó nhưng không vì thế mà cô Thuận đẹp người, đẹp nết lại quên mất cái “nết” của mình. Cô một mực ân cần chăm lo cho chồng, thậm chí lo cả cho gia đình nhà chồng. Có lẽ cảm được tấm chân tình của vợ nên mấy năm đầu của cuộc hôn nhân này ông Khánh “tu chí”, thường xuyên ở nhà (bởi sau đó là quãng thời gian dài ông đi phiêu bạt giang hồ). Thời gian này, ông cất căn nhà nhỏ, không xa ngôi nhà chính là mấy, vì căn nhà nhỏ ấy nằm lúp xúp bên một gốc đa nên cả nhà và cả chính ông đều gọi một cách thân thương là “cái miếu”. Đó là không gian riêng của ông, nơi ông ngồi để sáng tác các ca khúc riêng tặng… những người phụ nữ khác! (thực ra ca khúc đầu tay của Nguyễn Văn Khánh có tựa là Thu, viết năm 1946 được riêng tặng cho vợ, nhưng vì tặng vợ nên cô Thuận cất làm kỷ niệm, thành ra không phổ biến), còn những Chiều vàng, Nỗi lòng, Nghệ sĩ với cây đàn, Lời thề xưa, Chiều gặp gỡ… (sáng tác từ năm 1951 trở về sau) đều viết cho những phụ nữ khác. Mỗi khi viết xong một ca khúc, ông Khánh thường tự tay mang lên Đài phát thanh Hà Nội rồi tự hát: “Yêu ai, yêu cả một đời. Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta. Đau tủi cả lòng, vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…” (Nỗi lòng). Rồi “…Lời thề nguyền ngờ đâu xa vắng. Tình tràn đầy sầu chung non nước. Hồn em có cùng người chứng minh. Anh bước ra đi luyến tiếc hoài. Đời còn có em nay là thôi… (Chiều vàng).
Bà Thuận, vợ nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn
Chuyện ông viết ca khúc vì những người phụ nữ khác là có thật (trừ bài Thu). Người nhà ông kể rằng bài Nghệ sĩ và cây đàn được ông viết sau chuyến đi Bắc Ninh thăm người yêu cũ nhưng không gặp. Lạ một điều, mỗi lần ông ngồi viết nhạc trong “miếu” thì lúc nào bà Thuận cũng ngồi phía sau cầm quạt, quạt cho ông. Bà không biết tí gì về âm nhạc, cũng chẳng quan tâm ông viết nhạc cho ai ngoài việc tôn trọng chồng và tôn trọng nghề nghiệp của chồng…
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh mất ngày 20.8.1976, bà Thuận tính, vậy là bà làm vợ ông những 34 năm, nhưng khoảng thời gian ông ở cạnh bà chỉ bằng một phần ba con số đó. Hai phần ba thời gian còn lại ông đuổi theo những cuộc tình khác, và người khiến cho ông “bận bịu” nhất là Lê Thị Sâm – bà này đẻ cho ông Khánh những 7 đứa con. Tuy thế, vào năm 1973 bà Sâm cũng quyết liệt xua đuổi “bố của bầy trẻ” ra khỏi nhà khi ông bị chứng viêm quai hàm – giai đoạn cuối. Bà Thuận lại mở rộng vòng tay đón “chàng nghệ sĩ Tây nhạc… đa tình” trở về mái nhà xưa lo thuốc thang. Chẳng những thế, bố chồng của bà lại năn nỉ cô con dâu “đẹp người, đẹp nết” đưa 2 đứa con quặt quẹo của chồng bà với bà Sâm (5 người con trước của họ mất vì bệnh) về nuôi “làm phúc”. Ai cũng khen bà nhân hậu, cao thượng, bà chỉ cười, khiêm tốn: “Tôi chỉ được cái nuôi con nhỏ “mát tay”!”. Bà Sâm mất năm 1979, không thấy được hai người con của mình giờ đây đã được nuôi dạy nên người…
Tiếp nối dòng nhạc Hoàng Nguyên, người yêu nhạc xưa không thể nào không nhắc đến sáng tác nổi tiếng của nhà nhạc sỹ và có lẽ cũng là một trong những bản tình ca hay và buồn nhất của nền nhạc Việt: nhạc phẩm “Cho người tình lỡ”. Để giới mộ điệu có thêm thông tin về cuộc đời chìm nổi của nhạc sỹ Hoàng Nguyên, [dongnhacxua.com] xin mạn phép đăng lại bài viết dưới đây.
Cho người tình lỡ (Hoàng Nguyên). Ảnh: VietStamp.net
Đà Lạt mệnh danh thành phố ngàn hoa, nơi đó, có nhiều loài hoa chỉ thích hợp với khí hậu lành lạnh cao nguyên. Giữa khung trời ngàn hoa, có loài hoa được viết thành ca khúc – Hoa Anh Đào – trở thành hình ảnh quen thuộc, tiêu biểu, gợi tình, gợi nhớ cho phố núi mù sương, thơ mộng được vang vọng cho cả bốn mùa nhờ dòng nhạc của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.
Nói đến Hoàng Nguyên, mọi người đều liên tưởng đến hai nhạc phẩm một thời yêu thương, vang bóng: Ai Lên Xứ Hoa Đào & Bài Thơ Hoa Đào. Và, ngược lại, nói đến Đà Lạt cùng Hoa Anh Đào, chúng ta gợi nhớ Hoàng Nguyên.
Lãng đãng, mờ ảo với khói sương, với màu hoa, với mây trời… giữa chốn trần tục được thăng hoa qua lời ca tiếng nhạc, như lạc bước vào chốn bồng lai.
Ai Lên Xứ Hoa Đào, bắt gặp hình ảnh:
“Ai lên xứ Hoa Đào, dừng chân bước lần theo đường hoa. Hoa bay đến muôn người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai, Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa, Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương, Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa, lặng bước trong lãng quên…”
Với tâm hồn lữ khách mộng mơ, trữ tình… ru hồn vào cõi mộng cùng bóng dáng giai nhân như tơ vương mây trời giăng mắc trong Bài Thơ Hoa Đào:
“Ngày nào dừng chân phiêu lãng, khách tới đây khi hoa đào vương lối đi. Màu hoa in dáng trời, tình hoa lưu luyến người, Bồi hồi lòng lữ khách thấy cơi vơi…
…Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần Tóc mây buông lơi tha thiết bên hồ. Đợi tình quân đến trong giấc mơ…”.
Chàng lữ khách đó sinh trưởng và lớn lên ở Quảng Trị và Huế. Cũng như nhiều chàng trai trẻ khác, trót nghe theo “tiếng gọi” tham gia kháng chiến chống Pháp vào đầu thập niên 1950, đụng chạm thực tế phủ phàng, ngán ngẫm, chàng giã từ núi rừng miền Trung, chu du vào thành phố mù sương. Mang tâm hồn nghệ sĩ, Hoàng Nguyên (nhà giáo Cao Cự Phúc) có năng khiếu về hội họa và âm nhạc như Văn Cao. Và, chàng thư sinh đó mang tâm hồn lãng mạn, say mê hình ảnh theo truyền thuyết hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu vào dịp tết Đoan Ngọ lạc chốn thiên thai với thiên nhiên, mây ngàn gió núi, tiếng thông reo, suối gọi như tiếng nhạc quyện hồn cùng hình ảnh tiên nữ, ca khúc Đường Nào Lên Thiên Thai xuất hiện cùng với bước chân lãng du chàng phiêu bạt trong nỗi mê hoặc, trong lời cám dỗ ở tâm hồn nghệ sĩ bởi phù hợp với khung cảnh trữ tình làm thành ca khúc, say đắm khán thính giả thành phố mù sương:
“Cầm tay em, anh hỏi: đường nào lên thiên thai, đường nào lên thiên thai… Nơi hoa xuân không hề tàn Nơi bướm xuân không hề nhạt Nơi tình xuân không úa màu bao giờ…”
Rồi, nơi đó, tâm trạng, niềm khắc khoải, ưu tư được tỏ bày:
“Anh nào biết đường lên thiên thai! Khi trời đất còn vương thương đau Khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu? Anh nào biết đường lên thiên thai Khi lòng còn như băng buốt giá Và tình còn e ấp nói không nên lời…”
Dáng người dong dỏng cao, mái tóc chải bồng bềnh, nhà giáo, nhạc sĩ bước vào tuổi đôi mươi, tay ôm cây đàn guitare, giọng hát trầm buồn, điểm chút phong trần, lãng tử trông tựa bức tranh The Guitarist của Picasco, trở thành thần tượng cho bao kiều nữ yêu văn nghệ và, vô hình chung gợi lại quá khứ đáng “lưu ý” của chính quyền.
Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt, Thượng tọa Thích Thiện Tấn (anh ruột thầy Nhất Hạnh) làm Hiệu trưởng. Nhà giáo Cao Cự Phúc dạy Việt văn lớp đệ lục, thầy Nhất Hạnh dạy Việt văn lớp đệ thất. Tên tuổi hai nhà giáo như một hấp lực, lôi cuốn học sinh đến trường Tuệ Quang.
Chẳng được bao lâu, sóng gió cuộc đời nổi dậy, năm 1956, trong một trận lùng bắt ở Đà Lạt, trường Tuệ Quang có nhiều nhà giáo bị bắt như Lý Quốc Việt, giáo sư Toán Lý Hóa, Nguyễn Hữu chỉnh, giáo sư Pháp văn… vì hoạt động đảng phái (Đại Việt) và Cao Cự Phúc vì có tham gia trong phong trào “kháng chiến” chống Pháp. Hoàng Thi Thơ ở Sài Gòn phối hợp cùng Hoàng Nguyên, tổ chức đại nhạc hội tại Đà Lạt. Đêm đó có truyền đơn phản động đã rãi bên ngoài. Trưởng ty Công an Cảnh Sát Phạm Trọng Lý (cha ghẻ nữ ca sĩ được thành danh trong mấy thập niên qua) đã có thành kiến với Hoàng Nguyên, nhân cơ hội nầy, quy kết đầu mối có bàn tay của “đối tượng” nên đem nhân viên công lực đến nhà khám xét. Chẳng may, bắt gặp được nhiều bản nhạc tiền chiến, có cả bản “Tiến Quân Ca” của Văn Cao, nhạc phẩm đó Hoàng Nguyên rất ái mộ. Văn Cao đã nổi danh với ca khúc Thiên Thai. Dưới mắt quan chức thẩm quyền, đứng đầu là Trung tá Tỉnh trưởng, nhạc phẩm Đường Nào Lên Thiên Thai có phần ủy mị, yếm thế, ru ngủ tuổi trẻ và ông cho rằng, người sáng tác nhạc phẩm nầy mơ về một thiên đường không tưởng, vẫn còn đi theo con đường của văn nghệ sĩ bên kia vỹ tuyến… Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957.
“… Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác. Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho ái nữ ông, tên H. năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nhóm lên vũ bảo. Trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái nầy nẩy nở.
Chợt khi người con gái của Chúa Đảo mang thai. Mối tình hai nhịp so le bị phát giác. Để giữ thể thống cho gia đình. Vị Chúa Đảo giữ kín chuyện nầy và chỉ bảo riêng với người gây ra tai họa là nhạc sĩ Hoàng Nguyên: ông ta đòi hỏi Hoàng Nguyên phải hợp thức hóa chuyện lứa đôi của hai người với điều kiện vận động cho người nhạc sĩ được trả tự do…” (Lâm Tường Dũ – Tình Sử Nhạc Khúc).
Đứng trước hoàn cảnh tiến thối lưỡng nan, Hoàng Nguyên phải hứa để đáp ứng điều kiện nhằm gỡ danh dự cho gia đình vị Chúa Đảo.
Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, lên Đà Lạt thăm lại trường cũ. Dù rất yêu thích thành phố cao nguyên, song cuộc sống không được thoải mái nên chàng về ở Sài Gòn. Tuy đã hứa và “Đây là mối tình lớn của người nghệ sĩ. Nhưng cánh chim bằng yêu chuộng tự do và nghệ thuật, Hoàng Nguyên không dám trở lại hải đảo để làm rễ ở một nơi rất thiếu tình người, quanh năm suốt tháng khô cằn với sinh hoạt hẹp hòi của những người áo xanh… Chàng đành làm cánh chim bay không bao giờ trở lại” (LTD – TSNK). Mối tình ngang trái nầy thấp thoáng trong tác phẩm “La Chartreuse de Parme” của văn hào Pháp Stendhal, nàng Clélia Conti, con gái trấn thủ ngục thành Parme, đẹp, quyến rũ, ngất ngây bao con tim, cả chàng văn sĩ, định mệnh trớ trêu, chỉ còn lại ảo ảnh, ngang trái và bi thương.
Ở Sài Gòn, Hoàng Nguyên vừa tiếp tục con đường văn nghệ vừa dạy học ở trường tư thục Quốc Anh, vừa tìm cách tiến thân trên con đường học vấn. Năm 1961, Hoàng Nguyên theo học tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn, ban Anh văn. Thời gian theo học đại học, Hoàng Nguyên được sự bảo bọc của Ô.B Phạm Ngọc Thìn, Thị trưởng Phan Thiết, tư thất ở Sài Gòn. Phu nhân Phạm Ngọc Thìn là nữ tài tử Huỳnh Khanh cảm mến tài nghệ và tính tình của Hoàng Nguyên nên nhận làm em nuôi, nhân tiện dạy kèm con gái của ông bà là cô Ngọc Thuận. Ngọc Thuận là một thiếu nữ đài các, tâm hồn lãng mạn, làm thơ, viết văn, viết báo.. dười bút hiệu Trưng Liệt Dung.
Hoàng Nguyên khởi đầu là em nuôi của gia đình Ô.B Phạm Ngọc Thìn để dạy cho ái nữ, dần dà hai tâm hồn thầy trò đa cảm gặp nhau, Hoàng Nguyên yêu đắm đuối cô con gái ông Phạm Ngọc Thìn và cuối cùng trở thành rể của gia đình ân nhân trên. Nhạc khúc Thuở Ấy Yêu Nhau ra đời trong khoảng thời gian nầy:
“Thuở ấy yêu nhau anh làm thơ Thuở ấy yêu nhau em đợi chờ, Dòng nước Hương Giang trôi lặng lờ Chưa biết chi giận hờn và chưa biết sầu mộng mơ…
…Và người lên xe hoa Từ giã bến sông dài! Để đến hôm nay tôi ngồi đây Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy. Người ơi, thơ ngây đã lỡ rồi Khi ta xa nhau rồi, tôi xin chép lại vần thơ”.
Ca khúc bày tỏ nỗi niềm của chàng nhạc sĩ với người con gái đã có đứa con với chàng ở Côn Sơn, được gia đình đưa về sinh sống bên dòng Hương Giang. Chàng đã bắt được liên lạc với nàng nhưng nàng đã chịu đắng cay với niềm đau phụ tình nên không thể hàn gắn mối tình mang đậm vết thương. Nàng tạo lập cuộc đời mới với người đàn ông khác.
Trở lại Sài Gòn, Hoàng Nguyên nhận Ngọc Thuận làm vợ. Và, chàng dù biết qua bằng hữu về tính “lãng mạn, đa tình” của người vợ nhưng định mệnh mang đến hệ lụy và oan nghiệt trớ trêu với cuộc đời, đành chấp nhận. Thiên tình sử xảy ra giữa chàng nhạc sĩ và nhà báo, Tổng thư ký tờ Kỷ Nguyên Mới, tác giả TSNK và cũng là tác giả tác phẩm bằng xương bằng thịt, nhường tác quyền cho chàng nhạc sĩ trông nom. Và tiếp nối với người tình, chủ nhân “tổ hợp GIÓ”.
Thế nhưng, Ngọc Thuận lại rất ghen tuông. Khi biết được ẩn tình của ca khúc Thuở Ấy Yêu Nhau, nàng đã tức giận, đốt nhiều sáng tác viết tay của Hoàng Nguyên, không muốn người chồng bị cắm sừng còn vướng mắc hình ảnh người tình xưa cũ nào trong cung đàn nét nhạc.
Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường được thuyên chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng. Ban nhạc Hương Thời Gian của Anh Việt giao cho Hoàng Nguyên làm trưởng ban, phần kỷ thuật và hòa âm do Nguyễn Hậu (em ruột của Nguyễn Hiền) đảm nhận. Hương Thời Gian xuật hiện trên Truyền thanh & Truyền hình đã thu hút khá đông thính giả mộ điệu.
Thế rồi, “Trong một chuyến công tác bằng xe Jeep ở miền Đông, Hoàng Nguyên qua đời tại dốc 47 Vũng Tàu bằng tai nạn xe hơi năm 1972” (LTD – TSNK). Hoàng Nguyên vĩnh viễn ra đi vào cõi miên viễn lúc vừa 40, được chôn cất ở nghĩa trang đô thành, để lại vợ và 3 con.
Năm 1973, nhóm thân hữu Hoàng Nguyên gồm nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Anh Việt, Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài cho xuất bản tuyển tập nhạc của nhóm thân hữu nói trên để phổ biến, lấy tiền xây mộ bia cho Hoàng Nguyên.
Hoàng Nguyên sáng tác rất nhiều nhạc phẩm, đã một thời vang vọng, nét nhạc lời ca nhẹ nhàng, duyên dáng, trử tình, đam mê… vương vấn đau thương.
Nhạc khúc Tà Áo Tím đã làm sống dậy hình ảnh yêu kiều, thướt tha của chốn thần kinh bên dòng sông Hương, núi Ngự:
“Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang Tôi gặp một tà áo tím Nhẹ thấp thoáng trong nắng hương Màu áo tím sao luyến thương Màu áo tím sao vấn vương…
…Mặc thời gian dìu đôi cánh biếc Mặc dòng sông dịu nghiêng luyến tiếc Mặc chiều thu buồn như hối tiếc…
Tôi mơ màu áo, ước mong sao áo màu khép kín tin nhau… …Người áo tím qua cầu, và áo tím phai mầu Để dòng Hương Giang hờ hững cuốn nơi nào!”.
Trong ca khúc Cho Người Tình Lỡ, tỏ bày tâm trạng của người nghệ sĩ cho cuộc tình ngang trái, lỡ làng:
“Anh giờ đây như là chim Rã rời cánh, biết bay phương trời nao! Em giờ đây như cành hoa Cho tả tơi đong đưa ngọn gió nào… Thế là hết nước trôi qua cầu Đã chìm sâu những tháng ngày đam mê, Thôi đành quên những thương yêu đầu Như là yêu, với nay đã quá xa!.”
Niềm cay đắng, bi thương đó, cùng với sự nuối tiếc để trang trải, tha thứ cho nhau, thấp thoáng trong tình khúc Đừng Trách Gì Nhau:
“Ôi! trời làm giông tố, Để người thầm trách người sao hững hờ khôn nguôi. Ôi! nửa đời gió sương Mà còn đắng cay, mà còn chua xót vì nhau…
…Oán trách nhau chi, bơ vơ nhiều rồi, xót xa nhiều rồi”.
Khi khoác áo chiến y, Hoàng Nguyên sáng tác nhiều nhạc phẩm về hình ảnh người chiến sĩ, tình ca Lá Rụng Ven Sông là một trong những bản tango hay nhất vào thập niên 60 & 70:
“Thương ai ngoài sương gió Đời lính chiến gian lao Đêm đêm nhìn tay súng Lòng nghĩ tới mai sau Thương ai vì sông núi Mà khoác áo chinh y Thương ai vẫn thương ai. Thương ai, đã thương ai rồi Dù tháng năm dần trôi Dù lá hoa tàn phai Lòng nầy vẫn nhớ thương ai…”
Trong chinh chiến, người chiến binh vẫn mang nặng tình cảm chan chứa, lãng mạn giữa cảnh ngăn cách tiền tuyến, hậu phương được gởi gấm trong nhạc phẩm Sao Em Không Đến:
“Đời tôi từ ngày khoác áo chiến binh Lên đường, biết rằng lòng nầy đã bớt vấn vương Chiều nay, lòng chợt thấy nhớ thương em Thương về mái tóc êm đềm Buông dài phủ kín hồn anh…”
* *
Mùa hè 1971, ba tháng quân trường bên cạnh nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Cả hai, theo học Khóa III Trung cấp CTCT tại Trường ĐH.CTCT ở Đà Lạt. Anh đảm nhận Ủy viên Văn nghệ, tôi phụ trách Ủy viên Báo chí. Trở lại thành phố mù sương, với anh, được trở về chốn cũ ở thập niên 50, với tôi ở thập niên 60. Cùng chung căn phòng, anh em chúng tôi thường viện cớ công tác sinh hoạt văn nghệ, báo chí nên được cơ may ưu đãi, trốn học để la cà, bát phố. Chúng tôi có bốn người thường ngồi ở Thủy Tạ trên hồ Xuân Hương cho lãng quên đời. Hình ảnh và tên tuổi Hoàng Nguyên rất thân quen với Đà Lạt vì vậy khi anh liên lạc để tổ chức văn nghệ cho khóa, được nhiều bóng hồng đáp ứng. Tính tình, điềm đạm, ít nói, không thích phê phán, chỉ trích người vắng mặt, anh sống nhiều với nội tâm, chỉ lắng nghe, ít đả phá. Khi đề cập đến những khuôn mặt nhạc sĩ bạn như Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Hiền… anh chỉ nhắc đến những bản nhạc hay của họ được nhiều người ưa thích.
Đối diện quân trường có trường nữ Trung học Bùi Thị Xuân, thời gian liên lạc cho chương trình văn nghệ anh có “mối giao cảm” với hai cô giáo, trong đó có Ấu Lăng (em ruột của Bùi Tín). Điểm hẹn của chúng tôi, thông thường ở Thủy Tạ, khi có chuyện riêng tư tâm tình với nhau, ngồi trong nhà kiếng, bằng hữu ngoài cuộc đọc thơ Vũ Hoàng Chương “lũ chúng tôi lạc loài năm bảy đứa” ngồi ngoài nhìn sương đêm, hồ nước.
Thuở đó, tôi vẫn luyện chưởng, nghe nhạc cổ điển và thường kể những mối tình hoa mộng qua ngòi bút của Kim Dung. Một buổi tối, ngồi nhậu ở Câu Lạc Bộ, nghe Dương Hùng Cường đang theo học khóa Căn Bản CTCT nói về cuộc tình đầy bi thương mà Hoàng Nguyên chấp nhận, tôi mới vỡ lẽ. Thảo nào, những lúc nhìn anh, thoáng hiện nỗi u buồn xa vắng mênh mông. Tôi hiểu niềm đau thương, khắc khoải trong anh như chấp nhận định mệnh oan khiên đành cam chịu như lời Virgile: “La femme est toujours un être inconstant et changeant” (Đàn bà luôn luôn là người nhẹ dạ và thay đổi).
Thời gian thấm thoát trôi qua với bao biến thiên tình đời và nhân thế. Giờ dây, bên bờ đại dương, trong bốn anh em, đêm đêm café tán ngẫu, thân quen với tác giả có chung cuộc tình ngang trái, nghe nhạc, nhắc lại kỷ niệm xa xưa như lời ca anh viết “cuộc tình nào không thương đau anh ơi, đừng trách nhau chi”!.
Anh đã ra đi biền biệt, lời ca nét nhạc vẫn còn để lại cho nhân thế thưởng thức. Tiếc rằng, thời gian qua, nhiều trung tâm sản xuất Cassette, CD, Video… không tôn trọng nhạc sĩ sáng tác, chỉ để tên ca sĩ, trong đó có nhiều nhạc phẩm của anh. Tiếng hát Xuân Thu với Ai Lên Xứ Hoa Đào, Anh Khoa qua Bài Thơ Hoa Đào, Hà Thanh trong Thuở Ấy Yêu Em, Tà Áo Tím, Jo Marcel với Lá Rụng Ven Sông… gắn bó với tình ca của Hoàng Nguyên qua năm tháng.
Mong một ngày nào đó, có muôn ngàn cánh Hoa Anh Đào phủ lên mộ anh, tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa trong nghệ thuật nhưng gặp bao ngang trái trong cuộc đời.
Trong quá trình tìm tài liệu về nhạc sỹ Hoàng Nguyên, tác giả của “Ai lên xứ hoa đào” nổi tiếng, [dongnhacxua.com] bắt gặp một thông tin thú vị: ông chính là người anh và cũng là người thầy đã dìu dắt nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 bước vào con đường âm nhạc. Chúng tôi xin mạn phép đăng lại bài viết của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9.
Hoàng Nguyên vĩnh viễn ra đi đã gần phần tư thế kỷ, gửi lại cho đời không ít những tác phẩm đáng trân trọng, bởi nét nhạc tài hoa và ca từ thấm đậm, buồn man mác. Có lẽ trong long những người yêu nhạc sẽ mái mái vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp … “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi ! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ …”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc ‘Anh Đi Mai Về‘ này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.
Anh đi mai về (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Với tôi, Hoàng Nguyên như vẫn còn ở đâu đó quanh đây và những kỷ niệm với anh còn như mới hôm qua… Anh Hoàng Nguyên – Cao Cự Phúc của tôi. Tôi gặp anh lần đầu tiên cách nay hơn 40 năm, khi đang học Trường Yersin ở Đà Lạt, thành phố thơ mộng sau này đã đi vào các tác phẩm vượt thời gian của anh. Dạo đó, biết tôi là một chú học trò mê âm nhạc có chút năng khiếu, Hoàng Nguyên đã để tâm chăm sóc. Chủ Nhật hàng tuần, anh vào trường nội trú đón tôi ra ”nhà” anh chơi và ân cần truyền đạt cho tôi những kiến thức ban đầu về âm nhạc. “Nhà” anh ở thật ra chỉ là một căn phòng đơn sơ, trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt. Một hôm, tôi rất bất ngờ và hạnh phúc được anh “mời” tham gia ban nhạc phát thanh của anh. Đó là lần đầu tiên tôi bước vào “nghề ca nhạc”, năm 1956.
Năm đó, Hoàng Nguyên đang phác thảo ca khúc Bài Thơ Hoa Đào:
“Chiều nào dừng chân phiêu lãng, Khách đến đây thấy hoa đào vương lối đi…”
Tôi hân hạnh là người ái mộ đầu tiên được anh đàn và hát cho “nghe thử” những âm điệu lời ca lãng đãng sương khói núi đồi của Bài Thơ Hoa Đào. Tôi vẫn nhớ như vừa ra khỏi giấc mơ còn tươi rói: chúng tôi ngồi co ro trong căn phòng nhỏ của anh; bên ngoài trời cao nguyên xam xám và mưa nhỏ. Đằng kia, những cánh hoa đào vừa lìa cành theo cơn gió bất chợt … Hỏi “Chắc anh đã chọn Đà Lạt làm quê hương ?”. Đôi mắt u hoài sau cặp kính trắng của anh hình như chợt xa khuất hơn: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng …”.
Bài thơ hoa đào (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Vâng, Hoàng Nguyên chỉ “ghé chân” – như anh viết “dừng chân phiêu lãng” nơi phố núi mù sương này một quãng thời gian ngắn nhưng cũng đủ để anh viết nên hai ca khúc tiêu biểu về một vùng đất thơ mộng dễ yêu: Bài Thơ Hoa Đào và Ai Lên Xứ Hoa Đào, hai ca khúc bất hủ đã làm rung động trái tim nhiều thế hệ người yêu nhạc, mãi mãi gắn chặt nghệ danh của anh với địa danh nổi tiếng này.
“Ai lên xứ hoa đào, dừng chân bên hồ nghe chiều rơi. Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều Xuân mây êm trôi. Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ …”
Bẵng đi một thời gian, chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn khảng đầu thập niên 70. Lúc ấy, tôi đã đi vào lĩnh vực ca diễn và Hoàng Nguyên đã bị động viên vào binh chủng Quân cụ chế độ cũ. Như một số các nghệ sĩ khác cùng thời, buổi sáng anh thường đến uống cà phê ở nhà Thanh Thế, đường Nguyễn Trung Trực. Nghe nói dạo đó tình cảm gia đình anh gặp chuyện không vui. Anh trở nên u uất hẳn và có lẽ vì thế anh đã rất thích bài hát Summertime có âm sắc blues-jazz trầm mặc đang thịnh hành và được phát thường xuyên ở nhà hàng Thanh Thế. Tác phẩm Cho Người Tình Lỡ của anh ra đời khoảng thời gian đó, chịu phần nào âm hưởng khắc khoải của Summertime.
“Nhớ mà chi, đau thương qua rồi Thương mà chi, xót xa cũng đắng cay…”
Năm 70, bài Không của tôi được Khánh Ly thu vào đĩa 45 vòng do Hàng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất, mặt sau có bài Cho Người Tình Lỡ do Thanh Lan hát. Ngày hãng đĩa trao tặng đĩa hát nói trên cho chúng tôi, Hoàng Nguyên thân mật vỗ vai tôi, thì thầm:”Mau quá Ánh hỉ ? Mới ngày nào ở Đà Lạt, anh em mình nói chuyện âm nhạc nhập môn, bây giờ Ánh đã có bài thu đĩa với anh…”. Vẫn là ngôn phong của một người anh ân cần, trìu mến ! Hoàng Nguyên còn để lại một tác phẩm khác, được yêu mến không kém các ca khúc đã có của anh, mà anh viết về xứ Huế, quê anh: Tà Áo Tím.
“Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang Tôi đã gặp một tà áotím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương Mầu áo tím sao luyến thương…”
Hoàng Nguyên đột ngột chia tay với không gian âm nhạc của chúng ta một buổi sáng năm 1973 trong một tai nạn giao thông khi anh từ Vũng tàu trở về Sài Gòn. Ở độ tuổi 50 chín muồi rung động và từng trải cuộc đời. Tôi thầm nghĩ, nếu Hoàng Nguyên chưa vội ra đi chắc chắn ca mục của anh sẽ còn nối tiếp bằng những ca khúc dịu dàng, thanh thoát trong đó nỗi u hoài được nâng lên thành những vần thơ trong vắt…
Đà Lạt có lẽ là một trong những địa danh được ưu ái nhất trong dòng nhạc xưa. Nổi bật trong số rất nhiều tác phẩm về thành phố cao nguyên là bản “Ai lên xứ hoa đào” của nhạc sỹ Hoàng Nguyên. Nhạc sỹ Hoàng Nguyên sinh năm 1932 tại Quảng Trị và mất năm 1973 tại Vũng Tàu trong một tai nạn xe hơi. Chúng tôi không có thông tin về hoàn cảnh sáng tác của bản “Ai lên xứ hoa đào” nhưng chắc rằng những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950 đã tạo niềm càm hứng cho nhạc sỹ Hoàng Nguyên cho ra đời tác phẩm này.
Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Đà Lạt, cũng giống một vài đô thị ở Việt Nam, là một trong những vùng đất được rất nhiều nhạc sỹ yêu mến và bởi vậy, rất nhiều ca khúc hay viết về nơi này. Một trong những nhạc sỹ viết về Đà Lạt hay nhất, ấn tượng nhất là Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ tài hoa đoản mệnh.
Xuân cao nguyên. Ảnh: Minh Ngọc
Những ca khúc tuyệt vời ông viết về Đà Lạt được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ gắn bó với thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên Hoàng Nguyên.
Nhạc sỹ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh ra ở Quảng Trị vào năm 1932. Theo nhiều thăng trầm của cuộc sống, đầu những năm 1950 ông lên Đà Lạt dạy học ở trường Bồ Đề. Chính những năm gắn bó với nghề gõ đầu trẻ, ông đã có thời gian thỏa mãn thú đam mê âm nhạc của mình. Ca khúc đầu tiên của ông viết về Đà Lạt là ca khúc Bài thơ hoa đào. Có lẽ bởi tới từ vùng đất khô nóng, lần đầu tiên chạm mặt vào hơi sương lạnh, ngắm nhìn màu hoa đào mơ màng, rực rỡ, Hoàng Nguyên đã bật ra xúc cảm để viết những ca từ ca ngợi loài hoa đặc trưng nhất của phố sương: hoa đào.
Chiều nào dừng chân phiêu lãng Khách đến đây thấy hoa đào vương lối đi
Nhưng dù cảm hứng được nảy sinh từ hoa hay sương, nó vẫn không khỏi gắn với tuổi xuân, với tình yêu, với những dáng thiếu nữ áo dài xinh đẹp của phố núi.
Màu hoa in dáng trời Tình hoa in dáng người
Sau một vài năm sống và dạy học ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên đã tích đủ tình yêu, sự gắn bó và cảm hứng để viết lên một trong những ca khúc tuyệt vời nhất, ca khúc mà dường như ai cũng biết về Đà Lạt: Ai lên xứ hoa đào. Chắc hẳn rằng, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, tình yêu của chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã vang lên những lời thúc giục, đòi hỏi thốt lên những lời tình nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe.
Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ
Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.
Không chỉ có “Ai lên xứ hoa đào” và “Bài thơ hoa đào” viết cho Đà Lạt, Hoàng Nguyên còn “Đà Lạt mưa bay” dành cho phố núi. “Đà Lạt mưa bay” vẫn mang dáng dấp một Hoàng Nguyên tài hoa, đa tình với những dáng hình thiếu nữ dịu dàng “Sương mù chiều vương trên làn tóc rối”.
Đào Đà Lạt. Ảnh: Phan Văn Em
Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên quen mà lạ. Quen bởi những gì ông nhắc tới đều là những điều đặc trưng nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Lạ bởi những hình ảnh thân quen ấy được nhìn qua lăng kính một tâm hồn lãng mạn, một “người phiêu lãng” như ông tự nhận về mình. Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông cũng không khác, nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự. Giữa tuổi hoa niên cháy bỏng, ông đã trao hết tài năng thiên phú vào những ca khúc dâng tặng thành phố mù sương, nơi ông neo bước trên đường lữ hành xa tít.
Năm 1956, bởi những biến cố bất ngờ Hoàng Nguyên rời Đà Lạt và dường như, theo lời nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9, người em và là học trò thân thiết của ông, người được ông dìu dắt trong thời gian dạy học ở trường Bồ Đề, ông ít có dịp quay lại phố núi. Nhưng tình yêu trong ông dành cho thành phố mù sương, nơi lưu giữ những kỷ niệm đẹp nhất thuở hoa niên thì không bao giờ phai nhạt. Vẫn thoảng đâu đó trong những ca khúc ông viết trong hoàn cảnh khác, tâm trạng khác chút mơ màng của phố núi. Ông ra đi rất sớm trong một tai nạn, khi tuổi chưa chớm 50, dừng lại quãng đời phiêu du trong cuộc đời và trong âm nhạc. Năm 2013 là tròn 40 năm ngày Hoàng Nguyên lìa xa cõi thế nhưng những ca khúc của ông còn mãi. Và nhất là, khi dâng lên câu hát “Ai lên xứ hoa đào”, người Đà Lạt không quên Hoàng Nguyên cũng như hàng triệu trái tim yêu âm nhạc không quên ông, người nhạc sỹ đã dành cho Đà Lạt những ca khúc tuyệt vời.
[dongnhacxua.com] đã nhận nhiều hồi âm của người yêu dòng nhạc xưa về bản “Thành phố buồn” của Lam Phương. Đúng là Đà Lạt có nhiều tên gọi khác và một trong số đó là “thành phố sương mù”, như tên của một sáng tác rất hay của nhạc sỹ Huỳnh Anh (1932-2013). Nhạc sỹ Huỳnh Anh thì không xa lạ với người yêu nhạc nhưng có một điều chắc ít ai biết được là trong gần 40 năm ở hải ngoại, ông chỉ cho phổ biến đến công chúng vài tác phẩm: một trong số đó là bản “Rừng chưa thay lá” phổ từ thơ Hoàng Ngọc Ân mà chúng tôi đã giới thiệu trước đây và nhạc phẩm thứ hai là “Thành phố sương mù” mà [dongnhacxua.com] giới thiệu hôm nay.
Những ngày cuối tháng 12/2014, DòngNhạcXưa có dịp trở lại Đà Lạt để tham gia đêm nhạc của vài anh chị thân hữu. Đã đến và đi nhiều lần nhưng cá nhân chúng tôi lần nào cũng lưu luyến Đà Lạt, thành phố với nhiều tên gọi: “thành phố mộng mơ”, “thành phố ngàn hoa”, … Với những ai yêu nhạc xưa thì nhắc đến Đà Lạt không thể không nói đến một cái tên khác: “thành phố buồn”. Đó cũng chính là tên của bản nhạc bất hủ của nhạc sỹ Lam Phương.
Thành phố buồn (Lam Phương). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Nhạc sĩ Lam Phương – Ảnh: Bến Thành Audio-Video cung cấp.
Trong chuyến thăm Mỹ vào tháng 7 vừa qua, người viết đã có dịp nghe bạn bè nhạc sĩ Lam Phương kể về cuộc sống của ông tại miền nam California – Mỹ. Sức khỏe người nhạc sĩ tài hoa này giờ không được tốt nữa và cả giọng nói của ông cũng không còn rõ như xưa nên người viết đành gửi lại ông câu hỏi. Sau khi sức khỏe ổn định, ông đã trả lời qua email.
Nghe nói ông đã trải qua đợt tai biến, hiện tại sức khỏe của ông thế nào?
Ở cái tuổi hơn bảy bó rưỡi rồi, lại bị ảnh hưởng tai biến, nên sức khỏe của tôi cũng không thể nào như người bình thường được. Hiện nay, nhờ trời thương cùng bà con quan tâm, nên sức khỏe của tôi vẫn ở tình trạng… lúc mưa lúc nắng, đi đứng khập khễnh, nói năng vấp váp vậy thôi.
Nhạc sĩ Lam Phương có rất nhiều bài hát được yêu mến. Nhưng có lẽ với ông, bài viết năm 15 và 17 tuổi (Chiều thu ấy, Kiếp nghèo) hẳn đã để lại nhiều dấu ấn nhất. Vì đâu một người trẻ như ông lúc đó lại có thể viết nên những nỗi niềm sâu sắc như vậy?
Lớn lên giữa tình trạng đất nước chiến tranh đã tạo cho tâm hồn con người những rung động bi quan. Do đó, những sáng tác đầu đời của tôi cũng phản ánh tâm trạng thua thiệt. Và dĩ nhiên, đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong cuộc đời sáng tác của mình.
Rất nhiều người đã yêu say đắm bài Thành phố buồn. Phải chăng ông viết cho một người ‘đặc biệt’?
Không hẳn như vậy. Năm 1970, tôi theo Ban văn nghệ Hoa tình thương lên Đà Lạt trình diễn. Trước vẻ trầm lặng của một thành phố chập chùng đồi núi, sương mù bao quanh những con đường dốc quanh co, cùng nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn, tôi đã viết nên Thành phố buồn. Đây là một trong những ca khúc có số lượng xuất bản rất cao.
Được biết ngày xưa ông rất nghèo. Đến lúc nào thì ông vượt qua được cảnh túng thiếu? Có phải nhờ âm nhạc mà ông thoát nghèo và lạc quan hơn?
Cuộc đời tôi nhiều buồn hơn vui, thời gian nghèo khó cũng không phải là ít. Do đó, sáng tác của tôi có thể cũng chỉ là cái bóng của thân phận mình. Đứng về phương diện vật chất thì tôi đã tạm dễ thở được 5 năm từ năm 1970 – 1975. Nhưng sau đó lại tiếp tục với kiếp nghèo.
Có một thời gian nhạc của ông không buồn mà lại vui với Bài tango cho em, Cỏ úa, Ngày hạnh phúc… Đó có phải là thời điểm ông… yêu lại lần nữa nên thấy đời vui?
Như tôi trình bày ở trên, sáng tác của tôi thường thể hiện những tình cảm chân thành trong tình yêu và trước hoàn cảnh đời sống. Các ca khúc như bạn nói cũng chỉ là những bông hoa màu sắc đính trên tấm thảm tâm hồn của người nghệ sĩ sáng tác ở thời điểm đó mà thôi. Hơn nữa, những sáng tác âm nhạc của tôi luôn thể hiện tuần tự theo những khúc quanh trên đời sống của tôi như vừa lớn lên, mới biết yêu thì có: Chiều thu ấy, Chờ người, Kiếp nghèo; Tình cảnh an bình, hạnh phúc thì có: Trăng thanh bình, Khúc ca ngày mùa, Nắng đẹp miền nam… Đến khi tình cảm bị rụng rơi thì có: Cỏ úa, Thu sầu, Tình chết theo mùa đông…
Được biết ông từ Mỹ sang Pháp định cư rồi lại trở về Mỹ. Trong 10 năm qua ông có hạnh phúc không?
Di chuyển nơi ăn chốn ở, dù là của người nghệ sĩ, cũng bình thường mà thôi. Mặc dù không gian có đổi thay, thời gian có biến chuyển, nhưng tình yêu nghệ thuật vẫn âm ỉ trong tôi. Và nơi trái tim tôi, luôn tồn tại những nhịp đập yêu thương. Hạnh phúc nhất mà lúc nào tôi cũng cảm thấy là luôn được nhiều người thương cảm mình và yêu thích tác phẩm của Lam Phương.
Nghe nói Bến Thành Audio -Video đang dự định mời ông về làm live show đầu tiên tại Việt Nam vào cuối năm. Ông có dự định trở về?
Tháng 12 vừa qua, tôi có đi Úc trình diễn, nhưng đó là chuyện về trước. Giờ, tôi đã lớn tuổi rồi, không bao lâu nữa đã bát thập niên, lại thêm đi đứng khó khăn, ngồi xe lăn thường trực, nói năng chậm chạp, có lẽ sẽ khó tham dự được live show do Bến Thành Audio-Video tổ chức. Về hay không về thì lòng tôi lúc nào cũng không nguôi nghĩ về quê cha đất tổ, đến những người thân thương, những khán thính giả, bạn bè bằng hữu quý mến mình. Tôi cầu mong an lành và hạnh phúc thường trực ở với mọi người.
Nhạc sĩ Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng. Ông sinh ngày 20.3.1937 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ông bắt đầu sáng tác từ năm 15 tuổi. Ngoài âm nhạc, ông còn cộng tác với Ban kịch Thẩm Thúy Hằng và Ban kịch Sống của kịch sĩ Túy Hồng. Trước khi bị tai biến mạch máu não ông sống tại Mỹ, sau đó ông sang Pháp và năm 1995 ông về sống tại Mỹ với sức khỏe có phần yếu đi. Ông có đến hơn 200 tác phẩm được khán giả yêu mến. Trong đó có nhiều bài được người yêu nhạc thuộc nằm lòng: Chiều thu ấy, Kiếp nghèo, Từ ngày có em về, Tình đẹp như mơ, Thao thức vì em (Em là tất cả), Thành phố buồn, Bài tango cho em, Biển tình, Chỉ có em, Cỏ úa, Đèn khuya, Duyên kiếp, Em đi rồi, Giọt lệ sầu, Khóc thầm, Lạy trời con được bình yên, Xin thời gian qua mau, Ngày hạnh phúc…
Trong không khí Giáng Sinh vẫn còn đây đó, [dongnhacxua.com] xin trân trọng giới thiệu bản “Mùa Sao Sáng” của nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông, cũng chính là tác giả Phượng Linh của “Bóng nhỏ giáo đường” nổi tiếng mà chúng tôi đã có lần đề cập.
Mùa sao sáng (Nguyễn Văn Đông). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
“ Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo nhưng tin có Chúa ngự trên cao. Mùa sao sáng năm xưa lại về đêm sinh nhật Chúa, Sao người năm xưa quên lời hứa chưa về (hò 1). Chạnh nhớ ngày xưa đôi bóng giao kề (hò 2). “
Nghệ sĩ Mộng Tuyền xuống câu hò 1 vọng cổ trong tiếng chuông nhà thờ đổ ngân vang, cô chắp tay ngước nhìn về hang đá có tượng Đức Mẹ và Chúa hài đồng nằm trên máng cỏ, rồi cô ém hơi bỏ nhỏ hát tiếp câu hò 2 trong tiếng đàn ghi-ta-phím-lõm hào hoa của Văn Vĩ, hòa với đàn kìm của Năm Cơ, và tiếng vĩ cầm của Hai Thơm cùng “quyện” với nhau trong bài ca Tân Cổ giao duyên “Mùa Sao Sáng”. Sân khấu rạp hát Quốc Thanh, Sài Gòn trước 1975 như bùng nổ trong tiếng vỗ tay tán thưởng, nhưng tim mọi người thì chùng xuống như lịm đi, khi cô đào đẹp nhứt nhì sân khấu cải lương có nghệ danh là Mộng Tuyền, huy chương vàng giải Thanh Tâm 1963, quỳ trước tượng đài Đức Mẹ, nước mắt cô ràn rụa chảy dài trên đôi má trong ánh sáng lung linh của hai hàng bạch lạp trên ngôi cao Thánh mẫu. Trong tiếng nhạc dập dìu trầm bổng của 6 câu vọng cổ, nàng kể chuyện thời chinh chiến, có hai người yêu nhau cùng trao lời hẹn ước trong đêm Giáng Sinh. Bên hang đá Bê Lem, nụ hôn vội vã chia tay người yêu trong thời binh lửa, chàng trai trẻ khoác chiến y ra đi biền biệt từ đêm Giáng Sinh năm xưa, đã mấy mùa sao rồi chưa quay trở lại! Mùa Giáng Sinh năm nay, nàng vẫn đứng chờ bên gác chuông xưa nghe điểm hồi chuông nửa đêm, mỏi mòn trông đợi người yêu qua mấy lần sinh nhật Chúa. Tiếng đàn cò Năm Cơ cầm chịch dẫn dắt Ban cổ nhạc khi nhặt khi khoan, quăng bắt đẩy đưa nhau từ câu 1 sang qua câu 2 vọng cổ, tiếng vĩ cầm Hai Thơm lộng lẫy, khi hơi Nam khi hơi Oán, trên nền nhạc ngũ cung. Lúc danh cầm ghi-ta Văn Vĩ nhấn nhá chuyển sang cung thương thì Năm Cơ chân đạp “song lang”, tiếng mõ vang lanh lảnh báo tin sắp chuyển giao cho Ban tân nhạc Lê văn Thiện sẵn sàng bắt nhịp khi ca sĩ xuống “xề”. Khi đó, ca nữ Mộng Tuyền tiến sát lại gần hang Bê Lem, đèn sân khấu quét ngang người, nàng nức nở hát từ dây Đào cổ nhạc hò 5 chuyển sang qua ca tân nhạc với Ban Lê văn Thiện: “Đêm nay tôi nhớ người chưa trở lại. Chênh chếch mùa sao lạc loài. Ôi! Những mùa sao lẻ đôi. Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào, Thương những mùa sao hồng đào. Ôi! Những mùa sao cách xa.”
Sân khấu bềnh bồng như trôi dạt trong ánh sáng nhiệm mầu đêm Thánh lễ, khán giả đắm chìm trong tiếng đàn Tam tấu cổ nhạc Văn Vĩ, Năm Cơ và Hai Thơm là những đệ nhất danh cầm cổ nhạc cải lương miền Nam thời đó, cùng quăng bắt nhau, tung hứng cho nhau thật điệu nghệ, trong khi Ban tân nhạc Lê văn Thiện chờ lúc cao trào, chụp bắt, rượt đuổi Ban cổ nhạc, khi trao qua khi nhận lại, hình thành một cấu trúc nghệ thuật mới của thời đại 1960-1970, định danh là Tân cổ giao duyên. Theo mạch nhạc hết câu 5 rồi chuyền sang qua câu 6 vọng cổ, ca sĩ và hai ban Tân và Cổ nhạc như quyện vào nhau, mắt không rời nhau, khi vào Tân khi ra Cổ, nghệ sĩ Mộng Tuyền lúc thì song hành, khi thì bứt phá, rồi đợi khi Ban cổ nhạc xuống xề 24, và Ban tân nhạc “chầu” thêm nhịp 25, ca sĩ vào nhịp 26 với lời thơ áo não trong đêm Giáng Sinh thời chinh chiến: “ Người đi từ Giáng sinh xưa Mong về tương ngộ giữa mùa hội sao. Niềm tin xóa hết thương đau, Mùa sao đất Việt, mùa sao thanh bình.”
Bài Tân cổ giao duyên Mùa Sao Sáng của soạn giả Đông Phương Tử đã ra đời trong thời binh lửa như thế, khi khắp miền Nam đã có mất mát, tang thương. Thuở đó, không khí chiến tranh lan tràn đến từng nhà, gia đình nào cũng có người thân vào quân đội. Những buổi chia tay, những giờ hò hẹn ngắn ngủi trên sân ga, trên bến tàu đưa tiễn người vào quân trường hay đi ra mặt trận, đã thấm đẩm vào thơ ca và âm nhạc. Bản Tân cổ giao duyên Mùa Sao Sáng nhanh chóng lan truyền từ sân khấu đến các Đài Phát Thanh và Truyền Hình rồi thâu vào băng và đĩa nhạc 45 tours. Miền Nam thời đó, nhứt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở các tỉnh Cần Thơ – Bạc Liêu vốn là cái nôi của bài ca Vọng cổ hoài lang của Cao văn Lầu, các ban đờn ca tài tử miền sông nước này bị mê hoặc cuốn hút trước một làn điệu canh tân mới mẻ, đã chung tay tiếp sức cho bài Tân cổ giao duyên bay xa. Mộng Tuyền, nghệ sĩ cải lương sân khấu vừa là minh tinh màn bạc, nổi tiếng tài sắc trong vở tuồng cải lương Dương Quí Phi và An Lộc Sơn, bạn diễn với Thanh Nga, Ngọc Giàu của đoàn Thanh Minh, đặc biệt với vai diễn để đời là sơn nữ Klai trong vở tuồng Mưa Rừng, Mộng Tuyền đã mang lại cho khán giả niềm say mê qua các bài tân cổ giao duyên Thầm Kín, Ngày Xưa Anh Nói, Thương Về Mùa Đông Biên Giới, Mùa Sao Sáng v v của soạn giả Đông Phương Tử, một bút danh của Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông. Rất tiếc, chất lượng âm thanh của đĩa 45 tours sau thời gian 45 năm không còn được như xưa (tuy nhiên, một số bản nhạc sẽ được đăng trong trang này để làm tài liệu).
Hôm nay là 25/12, khắp nơi hân hoan chào đón một mùa Giáng Sinh lại về. Hòa trong niềm vui đó, [dongnhacxua.com] xin giới thiệu bản “Cao cung lên” của nhạc sỹ Hoài Đức, tức linh mục Giuse Lê Khắc Triệu. Đây có thể nói là một trong những bản nhạc về Giáng Sinh nói riêng và Thánh Ca nói chung đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam.
Cao cung lên (Hoài Đức – Nguyễn Khắc Xuyên). Ảnh: tkaraoke.com
CAO CUNG LÊN & NHẠC SỸ LINH MỤC HOÀI ĐỨC (Nguồn: dotchuoinon.com)
Nhạc sỹ Hoài Đức, tức linh mục Giuse Le Đức Triệu. Ảnh: wikipedia.com
Bản thánh ca nổi tiếng của Việt Nam: “Cao cung lên” được sáng tác bởi Linh mục nhạc sĩ Hoài Đức từ năm 1945.
Thực ra bản nhạc này là sáng tác của hai người. Lm Hoài Đức soạn nhạc và lời phần I, còn lời của những phiên khúc sau là của Lm.Nguyễn Khắc Xuyên.
Lm. Hoài Đức tên thật là Lê Đức Triệu (1923 – 2007) quê quán Nam Định.
Linh mục Hoài Đức (cha Triệu) có thời gian dài từng sống ở BanMêThuột (từ 1969- 1975), làm quản lý tài sản Nhà Chung Ban Mê Thuột, thuở Đức Cha Nguyễn Huy Mai đang cai quản Giáo phận.
Theo lời cha Triệu, thời điểm 1940 chưa có thánh ca bằng tiếng Việt. Những bài hát trong phụng vụ đều bằng tiếng…Latinh. Thánh lễ, chầu Thánh thể phải hát hay đọc bằng tiếng Latinh. Những bài hát đều lấy từ cuốn “Paroissien Romain” hay ” Cantus Pro Festis Solemnioribus” hoặc “Cantus Officiorum in Cantus Greoriano”.
Đôi khi được hát nếu không bằng tiếng Latinh thì bằng tiếng Pháp, chủ yếu lấy từ cuốn “Cantiques de la Jeunesse”.
Sau 1940 mới xuất hiện những ca khúc Việt Nam hoàn toàn.
Như vậy bài hát “Cao cung lên” được coi như mở đầu cho dòng nhạc thánh ca Việt Nam. Một bản nhạc xưa mà còn mãi ngân vang mỗi độ Giáng sinh về, và mỗi độ nghe lại ca khúc này, lòng ta tựa hồ rộn rã tiếng chuông ngân…