Trong bài trước chúng ta đã nói đến phong trào ca nhạc học đường đã làm một bệ phóng quan trọng cho phong trào nhạc trẻ của Sài Gòn năm xưa. Tuy nhiên dòng nhạc còn non trẻ này sẽ khó có điều kiện cất cánh và trở thành một hiện tượng trong sinh hoạt văn nghệ của giới trẻ ngày đó nếu thiếu vắng các kỳ đại nhạc hội. DòngNhạcXưa xin mạn phép giới thiệu tiếp bài viết của nhà báo Lê Văn Nghĩa về hoạt động đại nhạc hội giới trẻ này.
Ban nhạc The Strawberry Four thập niên 70: Đức Huy, Tùng Giang, Tuấn Ngọc và Billy Shane
Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Tưng bừng đại hội nhạc trẻ
Có thể nói không ngoa rằng dòng nhạc trẻ Việt Nam được hình thành từ các ban nhạc học đường trước năm 1975, mà ngày đó gọi là các ban “kích động nhạc”. Để thế hệ trẻ sau này có thêm tư liệu về các ban nhạc học trò, DòngNhạcXưa xin tiếp tục chủ đề nhạc trẻ Sài Gòn qua một bài viết của nhà báo Lê Văn Nghĩa.
Elvis Phuong và ban Rockin’ Stars. Ảnh: tapchinghesi.com
Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Học trò và ‘kích động nhạc’
Ban nhạc The Black Caps. Từ trái sang: Minh Phúc, Ngọc Tùng, Billy Hùng, Quốc Huy. ẢNH: TƯ LIỆU
Vào thập niên 60 – 70 của thế kỷ trước, cùng sống chung ở Sài Gòn với cổ nhạc và tân nhạc trữ tình là… kích động nhạc. Nói đến các ban kích động nhạc là nói đến “tập hợp” những chàng trai, cô gái yêu thích nhạc nước ngoài, có giai điệu mạnh, giậm giựt, kích động của nhạc rock & roll.
Đây là một ban nhạc trẻ tiêu biểu thời ấy: 4 người, tóc dài, ăn mặc theo trào lưu hippie, chơi trống, organ và đàn. Họ vừa đàn, vừa hát những bản nhạc nước ngoài thịnh hành. Hình ảnh những chàng trai cầm ghi ta điện “te” – hai chân quỳ trên sàn sân khấu, người ngả ra phía sau – thường thấy trên các sân khấu với những điệu twist, bebop, mashed… là hình ảnh có tính biểu tượng cho các ban kích động nhạc.
Quay về với phong trào nhạc trẻ của Sài Gòn thưở trước, DòngNhạcXưa xin trân trọng giới thiệu gương mặt của nghệ nhân Lâm Hào, ông vua chế guitar điện ngày nào cùng vài thông tin thú vị về một thời nhạc trẻ của Hòn Ngọc Viễn Đông, qua một bài viết của nhà báo Lê Văn Nghĩa.
Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Ông vua làm đàn guitar điện ở Chợ Lớn
Một ban kích động nhạc đúng chuẩn phải có “bèo” lắm là 2 cây đàn guitar
điện: một lead, một bass hoặc accord.
Tìm được cây đàn điện thời ấy là trăm nghìn gian nan vì phải nhập cảng từ Mỹ với giá không chịu nổi. Rất may đã xuất hiện một nhân tài sản xuất guitar điện, đó là ông Lâm Hào.
Một khi đã “trót nghe” âm thanh mộc mạc của chiếc máy Akai thì chúng ta khó lòng từ bỏ được cái thú ngồi thưởng thức những bản nhạc xưa được phát ra từ hai cuộn băng quay vòng đầy mê hoặc. DòngNhạcXưa giới thiệu một bài viết của tác giả Trang Nguyên để người yêu nhạc có thêm tư liệu về thú nghe nhạc bằng máy Akai.
Nhà văn Hồ Đắc Vũ cũng là một “tín đồ” nghe nhạc máy Akai – Ảnh: HDV
Ông bạn lớn tuổi của tôi phán rằng, uống cà phê mà không có nhạc thì coi như chỉ là giải khát trò chuyện suông với bạn bè. Cho nên cà phê có nhạc đi cùng dù từ bất kỳ loại máy hát nào, từ máy dĩa than, băng cối (magnetophone), cassette hay CD, DVD cho đến nhạc sống thì mới đúng bài bản của người sành điệu. Trong các loại, máy băng cối thường gọi chung chung là Akai nghe đã lỗ tai hơn tất cả. Âm thanh trung thực, trong trẻo: bổng ra bổng, trầm ra trầm rõ từng tí một. Hồi cuối thập niên 1960 trên đường du học từ Mỹ về ghé qua Nhật Bổn, thấy cửa tiệm trong phi trường có bán dàn máy hát, ông vét sạch tiền túi mua trọn dàn máy hiệu Akai khệ nệ mang về.
DòngNhạcXưa xin bắt đầu giới thiệu loạt bài viết với nhiều tư liệu quý giá về sự thành và phát triển của nền tân nhạc Việt Nam của nhà báo – nhạc sỹ Nguyễn Thụy Kha. Trước ông, đã có nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đề cập đến chủ đề này. Trong cương vị một trang web mang tính tổng hợp và lưu trữ thông tin, chúng tôi không có điều kiện để kiểm chứng tất cả những gì các tác giả viết. Tuy nhiên, trong sự hiểu biết có giới hạn, DòngNhạcXưa sẽ chắt lọc và thẩm định để cố gắng cung cấp cho thế hệ trẻ dữ liệu hữu ích về dòng nhạc xưa. Một lần nữa, xin mạn phép sử dụng tài liệu và trân trọng những đóng góp của nhạc sỹ Nguyễn Thụy Kha.
Nhìn lại 100 năm âm nhạc Việt Nam, Báo Người Lao Động khởi đăng loạt bài của nhà báo – nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha về những nhạc sĩ tiêu biểu góp phần làm nên sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam, trên các số báo ra ngày thứ bảy hằng tuần
Bây giờ, khi ở thời điểm qua thế kỷ mới được 17 năm, nhìn lại 100 năm trước, cũng là thời điểm bước qua thế kỷ mới (thế kỷ XX) được 17 năm, thấy rõ một bước tiến xa của âm nhạc Việt Nam qua 100 năm.
Bảy đường xâm nhập của âm nhạc phương Tây
Ngày đó, vào năm 1917, tình hình âm nhạc của nước nhà ra sao? Khi ấy, người Pháp vào Việt Nam đã hơn nửa thế kỷ. Sự bành trướng mãnh liệt của âm nhạc phương Tây đi theo bước chân thực dân vào Việt Nam bằng 7 con đường khác nhau.
Con đường đầu tiên là xâm nhập dưới hình thức tôn giáo. Trong các trường học của nhà thờ Thiên Chúa giáo (còn gọi là trường dòng) đều có ban hát lễ và học trò đều được học nhạc. Bởi thế, nhiều thầy dòng người Việt Nam đã đặt lời Việt cho các bản thánh ca nước ngoài, sáng tác những bài ca tôn giáo bằng tiếng Việt như thầy dòng Ta đê Đỗ Văn Liu, linh mục Đoàn. Giáo dân còn được học kèn để lập nên dàn kèn của giáo xứ.
Album “Dư âm” gồm những bản nhạc tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam thời kỳ đầu
Được mệnh danh là một trong “tứ trụ nhạc vàng” (cùng với Duy Khánh, Hùng Cường và Nhật Trường), Chế Linh, với chất giọng thật lạ và phong cách biểu diễn tự nhiên, đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong dòng nhạc Việt. DòngNhạcXưa xin trân trọng giới thiệu tiếng hát của người ca sỹ gốc người Chàm, qua một bài của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & đời sống” .
Chế Linh, người ca sĩ từng có một thời được coi như một hiện tượng trong dòng nhạc Boléro mà theo ngôn ngữ bình dân mộc mạc gọi là nhạc sến. Nhạc Sến ở đây phải được hiểu một cách đứng đắn là dòng nhạc mang tính cách phổ thông, được phổ biến rất lớn rộng trong quần chúng, khi thì mặn nồng nàn tình cảm với những cuộc tình đôi lứa, khi thì đậm đà tình tự quê hương với những tâm bình bình dị chân chất, như tâm hồn của những người dân Việt binh thường. Đó là thời điểm những năm 60-70, khi nền tân nhạc Việt Nam đang trong thời kỳ bộc phát mạnh mẽ.
Trong niềm tiếc thương nhạc sỹ Tô Thanh Tùng, DòngNhạcXưa xin đăng một bài viết với nhiều thông tin có giá trị của tác giả Thành Lâm về những năm tháng cuối đời của nhà nhạc sỹ.
Cố nhạc sĩ Tô Thanh Tùng: Cuối đời, về lại nơi bắt đầu
Nhạc sĩ Tô Thanh Tùng, ngưởi con của quê hương Hồng Ngự, Đồng Tháp
Những ngày cuối đời, ông muốn về lại Sa Đéc- nơi mà từ đó ông đã có một mối tình son cùng 3 cô con gái. Ông về, vì muốn được nằm lại bên cạnh người vợ đầu tiên- người chưa một lần có lời oán trách ông…
Những năm cuối đời, bệnh tình của Tô Thanh Tùng trở nặng do di căn ung thư qua gan, xương. Cố nhạc sĩ được các con chuyển về ở hẳn ở Sa Đéc, Đồng Tháp. Nơi đây cũng chính là quê vợ của Thu Vân – giọng ca miệt vườn ngày nào ông đã từng yêu, và cũng là người đầu tiên thể hiện ca khúc Giã từ của ông khiến nhiều người say đắm. Mối tình đó mang đến cho ông 3 cô con gái, và đó cũng là những người chăm sóc ông những ngày cuối đời.
Nhân dịp Trung Thu về, DòngNhạcXưa xin hân hạnh giới thiệu vài bản nhạc xưa đặc sắc viết cho ngày Tết Thiếu Nhi qua một bài viết của tác giả Cung Mi đăng trên sbtn.tv.
Đón Rằm Tháng Tám cùng các bản nhạc Trung Thu trước 1975
Hằng năm, cứ vào độ những ngày cận rằm tháng Tám, khắp nơi ở Việt Nam lại thấy cảnh các em thiếu nhi nô nức đón Tết Trung Thu. Nào là lồng đèn, nào là bánh dẻo, bánh nướng…
Dù đã xa quê hương hơn 40 năm, người Việt ở hải ngoại vẫn cố gắng duy trì phong tục cổ truyền đón tết Trung Thu cho thế hệ con em sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Và một trong những thứ không thể thiếu trong ngày Tết nhi đồng, đó là các bài hát Trung Thu sáng tác từ trước 1975. Cũng như rất nhiều bài nhạc thuộc nhiều chủ đề khác, nhạc Trung Thu của Miền Nam vẫn là một mảng văn hóa giá trị, chưa thể lãng quên trong tâm hồn của nhiều người Việt.
Trong sinh hoạt nhạc trẻ trước 1975 và nhất là tại hải ngoại sau này, Công Thành đã để lại những dấu ấn khó phai mờ về khả năng ca hát cũng như MC và tổ chức biểu diễn. DòngNhạcXưa xin đăng một bài viết của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & Đời sống” để giới thiệu đôi song ca và cũng là cặp vợ chồng nổi tiếng: Công Thành và Lynn.
Có một dạo vai trò MC đã lấn át vai trò chính của anh là một ca sĩ. Đó là trường hợp của Công Thành, một nam ca sĩ có một quá trình hoạt động rất lâu dài, bắt nguồn từ những năm đầu của thập niên 60, khi nhạc Rock gây một ảnh hưởng rất lớn mạnh nơi giới trẻ. Ngoài một quá trình gần gũi với ca nhạc, với lãnh vực “show business”, Công Thành còn là một tiếng hát đa dạng trong phần trình bày những nhạc phẩm Pháp, Anh và Việt Nam rất vững vàng.
Ngoài ra, anh còn là ca sĩ Việt Nam duy nhất đã có dịp trình diễn với những ban nhạc ngoại quốc tại khắp các thành phố lớn ở Úc Châu cũng như tại hầu hết những quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Chính do những chi tiết đặc biệt như vậy nên thiết tưởng việc dành cho Công Thành một bài viết đề cập đến những hoạt động của anh là một điều cần thiết.
Thường thì giới mộ điệu biết đến Hoàng Giác qua “Mơ hoa” và “Ngày về”. Thế nhưng sự nghiệp sáng tác của nhà nhạc sỹ đa dạng về thể loại và phong phú về nội dung hơn nhiều. DòngNhạcXưa xin giới thiệu một bài viết của tác Nguyễn Trương Quý để quý vị xa gần có thêm tư liệu.
Hoàng Giác: Lòng nhủ thầm đàn đứt dây tơ
(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Trương Quý đăng trên tuoitre.vn ngày 2017-09-16)
TTO – Trong số những nhạc sĩ đóng góp nên đời sống phồn thịnh của âm nhạc Hà Nội giai đoạn 1945-1954, Hoàng Giác có một lượng bài hát được ấn hành và phổ biến đáng kể.
NS Hoàng Giác và vợ năm 2017 – Ảnh: Nguyễn Trương Quý
Khác với ấn tượng rằng ông chỉ có đôi bài Mơ hoa, Ngày về viết trong những năm
1944-1946 là dấu ấn, Hoàng Giác thực sự là một nhân vật năng động của dòng nhạc lãng mạn nối dài sau Cách mạng Tháng Tám.
Ông góp phần làm nên diện mạo của âm nhạc đô thị Hà Nội thời tạm chiếm.