DòngNhạcXưa tiếp tục giới thiệu hai phòng trà ca nhạc Sài Gòn xưa là Queen Bee và Maxim’s do Khánh Ly và Hoàng Thi Thơ khai thác với hai phong cách khác nhau.
DòngNhạcXưa xin được phép tiếp nối loạt bài về phòng trà ca nhạc Sài Gòn xưa với một bài viết của nhà báo Lê Văn Nghĩa, đề cập đến phong trào nhạc trẻ của Sài Gòn ngày trước.
Ban nhạc The Strawberry Four, khoảng năm 1969-1970. Từ trái qua: Đức Huy, Tùng Giang, Tuấn Ngọc và Billy Shane. Ảnh: amnhac.fm
Phòng trà ca nhạc Sài Gòn xưa: Nhạc trẻ vào phòng trà
Dòng Nhạc Xưa xin mời quý vị yêu nhạc trở về với phòng trà Tự Do tọa lạc tại số 80 đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) qua bài 4 trong loạt bài của ký giả Lê Văn Nghĩa.
Phòng trà ca nhạc Sài Gòn xưa: Mặt trăng và mặt trời ở phòng trà Tự Do
Với một lực lượng ca sĩ, ban nhạc hùng hậu và nổi tiếng, cộng với lợi điểm nằm giữa trung tâm thành phố, phòng trà Tự Do của ông Ngô Văn Cường xuất hiện đều trên các mặt báo lúc đó.
Trước năm 1954, nhiều ca nhạc sỹ đã nhen nhóm hình thành phong trào phòng trà ở đất Bắc. Sau 1954, theo làn sóng di cư, những nghệ sỹ gốc Bắc tiếp tục phát triển và làm rực rỡ các phòng trà ca nhạc ở miền Nam tự do. Chúng tôi xin nối tiếp loạt bài viết có giá trị của ký giả lão thành Lê Văn Nghĩa để giới thiệu nhạc sỹ Phạm Đình Chương và phòng trà Đêm Màu Hồng huyền thoại.
Nói đến phòng trà ca nhạc đất Sài Gòn, người yêu nhạc xưa không thể không nhắc đến Jo Marcel, một nghệ sỹ đa tài. Vừa là một nhạc công, vừa là một ca sỹ có chất giọng trầm ấm nhưng ông cũng là một nhà tổ chức âm nhạc và quản lý phòng trà nổi tiếng bậc nhất của làng nhạc Việt. [dongnhacxua.com] xin tiếp nối chủ đề này qua bài viết của nhà báo Lê Văn Nghĩa.
Góp một phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của dòng nhạc xưa là các phòng trà ca nhạc. [dongnhacxua.com] xin mạn phép đăng lại loạt bài viết rất có giá trị của ký giả Lê Văn Nghĩa để thế hệ trung niên sinh sau 1975 như chúng tôi hay các thế hệ trẻ hơn hình dung phần nào về đời sống âm nhạc của một Sài Gòn xưa.
Trong Tình đời , một ca khúc của nhạc sĩ Minh Kỳ vẫn còn phổ biến đến bây giờ, có nhắc đến phòng trà và nỗi niềm cô ca sĩ: “Khi biết em mang kiếp cầm ca/Đêm đêm phòng trà/Dâng tiếng hát cho người người/Bỏ tiền mua vui/Hỏi rằng anh ơi/Còn yêu em nữa không”…
Ánh hoàng hôn đã được rất nhiều nhạc sỹ ghi lại trong trong âm nhạc qua không ít nhạc phẩm bất hủ . DòngNhạcXưa xin mạn phép đăng lại một bài viết của tác giả Trần Chí Phúc về hai bản “Nắng chiều” của Lê Trọng Nguyễn và “Đường xưa lối cũ” của Hoàng Thi Thơ.
Làng điện ảnh Việt Nam vừa chia tay một trong số những đạo diễn tài ba nhất, có đóng góp nhiều nhất trong việc hình thành của nền điện ảnh Miền Nam và đào tạo nhiều thế hệ diễ viên tài danh: Lê Mộng Hoàng. Điều đáng nói là trong rất nhiều bộ phim của ông, điện ảnh và âm nhạc đã giao thoa với nhau để chắp cách cho nhiều ca khúc đi sâu vào lòng người: bản “Tình lỡ” của Thanh Bình trong phim “Nàng”, bản “Nắng chiều” của Lê Trọng Nguyễn trong bộ phim cùng tên, “Vĩnh biệt mùa hè” của Thanh Tùng trong bộ phim cùng tên, v.v. DòngNhạcXưa xin thay mặt những người yêu nhạc kính mong linh hồn ông sớm an nghỉ miền cực lạc!
Vĩnh biệt đạo diễn nổi tiếng của điện ảnh miền Nam Lê Mộng Hoàng
Đạo diễn Lê Mộng Hoàng, một tên tuổi lớn của điện ảnh miền Nam đã qua đời ở tuổi 88 vào lúc 3 giờ sáng 23.2 tại nhà riêng trên đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận (TP.HCM) sau một thời gian nằm viện.
Đạo diễn Lê Mộng Hoàng sinh năm 1929 tại Huế. Ông sang Pháp du học ngành âm nhạc, sau đó là điện ảnh. Về Việt Nam, ông thực hiện bộ phim đầu tay Bụi đời dựa trên tập truyện Những hòn sỏi của Võ Đình Cường vào năm 1957.
Sau đó, ông tiếp tục đạo diễn nhiều phim điện ảnh trước năm 1975 như Vụ án tình, Nàng, Chiều kỷ niệm, Mãnh lực đồng tiền, Con gái chị Hằng, Gánh hàng hoa, Ly rượu mừng, Xin đừng bỏ em, Năm vua hề về làng… Trong đó, bộ phim Nàng với diễn xuất của diễn viên Thẩm Thúy Hằng và Trần Quang đã đoạt Tượng vàng tại Đại hội Điện ảnh Á châu ở Đài Loan lần thứ 17. Sau năm 1975, ông vẫn tiếp tục làm nhiều phim như Tình khúc 68, Ngọn lửa thành đồng, Bản tình ca…
Đạo diễn Lê Mộng Hoàng (trái) và diễn viên Trần Quang
Nhắc đến những giọng ca vàng của sân khấu ca nhạc Sài Gòn xưa, chúng ta không thể không nhắc đến bốn giọng nam mà đã được giới yêu nhạc phong cho danh hiệu “tứ trụ”: Duy Khánh (1936 -2003), Hùng Cường (1936 – 1996), Nhật Trường – Trần Thiện Thanh (1942 – 2005) và Chế Linh. Ba trong số đó đã vĩnh viễn giã từ trần gian, chỉ còn mỗi Chế Linh cũng đã ở vào hàng “trưởng lão”. DòngNhạcXưa xin trân trọng giới thiệu qua bốn giọng ca lừng danh qua một bài viết vừa sưu tầm được.
Tôi là một đứa 9x đời giữa. Ba mẹ vốn có máu xê dịch và yêu văn nghệ, thế nên tôi may mắn lớn lên trong giai điệu da diết của những bản nhạc tiền chiến và nhạc vàng được phát xuyên suốt trên các chuyến xe đường dài lên rừng, xuống biển. Vậy là tôi nghiễm nhiên nghiện luôn dòng nhạc “buồn ngủ” này. Nhắc đến nhạc xưa, không thể không kể đến bốn trụ cột của nền nhạc vàng – nhạc tiền chiến thời bấy giờ hay còn gọi là “Tứ Trụ” gồm: Hùng Cường, Duy Khánh, Nhật Trường và Chế Linh.
1. Hùng Cường
Hùng Cường được sinh ra để làm nghệ thuật! Trong bộ Tứ Trụ nhạc vàng, ông được xem là “chân trụ” đa tài nhất bởi bên cạnh vai trò ca nhạc sĩ, ông còn là một nghệ sĩ cải lương, kịch sĩ kiêm tài tử điện ảnh.
Anh nhớ trong xóm có một anh lớn biết đàn guitar và người này đã dạy cho anh những nốt nhạc đầu tiên. Thời đó mua một cây đàn guitar khá mắc tiền và Trường