Bài bolero đầu tiên trong âm nhạc Việt (Vũ Đức Sao Biển)

Trong một bài viết trước đây, DongNhacXua.com đã giới thiệu bản “Nắng chiều” của nhạc sỹ Lê Trọng Nguyễn. Hôm nay, nhân dịp đầu Xuân Bính Thân 2016, chúng tôi mạn phép nhạc sỹ Vũ Đức Sao Biển để chia sẽ bài viết của anh đăng trên báo Xuân Thanh Niên năm nay về bài hát bất hủ này.

Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

nang-chieu--1--le-trong-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com nang-chieu--2--le-trong-nguyen--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

BÀI BOLERO ĐẦU TIÊN TRONG ÂM NHẠC VIỆT NAM
(Nguồn: bài viết của nhạc sỹ Vũ Đức Sao Biển đăng trên tạp chí Thanh Niên Xuân 2016)

Một câu hỏi đặt ra là nhạc sĩ nào đưa dòng âm nhạc ấy vào nền âm nhạc Việt để viết bài bolero đầu tiên.

Bolero phát xuất từ Tây Ban Nha, do nhạc sĩ Sebastiano Carezo sáng tạo năm 1780, vốn là điệu nhạc nhảy. Điệu nhạc du nhập các nước châu Âu, được các nhạc sĩ viết nhạc cổ điển như Chopin (Ba Lan, 1810 – 1849), Bizet (Pháp, 1838 – 1875) và Debussy (Pháp, 1862 – 1918) sử dụng viết các chương trong các hòa tấu khúc và nhạc kịch của mình. Trong nhạc cổ điển, bolero được viết đầy tính quy luật, tính hàn lâm nên không được quan tâm nhiều. Ngược lại, bolero du nhập các quốc gia vùng Caribe và Nam Mỹ được đón nhận nồng nhiệt bởi nó gần gũi với kiểu chơi nhạc lãng mạn, phóng khoáng của người Mỹ Latin. Nó trở thành âm nhạc của quần chúng.

Bolero Mỹ Latin là một thứ giai điệu phóng khoáng và trữ tình. Nhạc sĩ hai nước Cuba và Mexico có công phát triển bolero, biến tấu nó với các điệu thức tương tự viết theo phép ký âm 4/4, tạo ra hẳn một dòng nhạc bolero mới; xôn xao hơn, rực rỡ hơn, lãng mạn hơn và đậm chất Latin. Dòng nhạc bolero này bao gồm các điệu bolero, rumba, rumba bolero, mambo, calypso, baiao; kể cả tango, tango habanera, chachacha. Mẫu số chung là kiểu viết nhạc 4/4 tương tự nhau; chỗ khác nhau là cách chơi, cách xử lý ca khúc.
Bolero du nhập Việt Nam những năm 1950. Nền tân nhạc non trẻ của Việt Nam đã nhanh chóng thẩm thấu điệu thức ấy, biến nó thành hẳn một dòng nhạc tình ca. Một nhạc sĩ tài hoa kiêm nhà nghiên cứu âm nhạc đã viết thành công bài rumba bolero đầu tiên, sau này trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20. Đó là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ca khúc Nắng chiều.

Nhạc sỹ Lê Trọng Nguyễn. Ảnh: ThanhNien.com.vn
Nhạc sỹ Lê Trọng Nguyễn. Ảnh: ThanhNien.com.vn

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn tên thật là Lê Trọng, sinh năm 1926 tại Quảng Nam, hội viên của Hội Tác giả, nhạc tác gia và nhà xuất bản âm nhạc Pháp (Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de Musique – SACEM). Chữ “Nguyễn” trong bút danh của ông là họ của người mẹ. Nhà ông là Trường tư thục Hoàng Hồ nằm trên đường Nhật Bản (cũ), sau này đổi tên là đường Cường Để và nay là đường Trần Phú trong khu phố cổ Hội An (Quảng Nam).

Lê Trọng Nguyễn viết Nắng chiều năm 1952. Hình tượng gợi cảm xúc trong ca khúc này là một cô gái dịu dàng người gốc Quy Nhơn (Bình Định) đang ở cùng cha mẹ tại Hội An. Ca khúc được thu thanh lần đầu tiên năm 1953 bằng đĩa than 33 tours do Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn) sản xuất với tiếng hát của danh ca Minh Trang. Chính Lê Trọng Nguyễn soạn hòa âm và phối khí cho dàn nhạc chơi bài này.

Thật không ngờ, bài tình ca viết với điệu thức rumba bolero đầu tiên lại có sức chinh phục và cuốn hút người nghe đến vậy. Nắng chiều được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn, Đài Pháp Á (đường Hàm Nghi, Sài Gòn) và Đài phát thanh Huế. Lúc bấy giờ, người ta chỉ được nghe nhạc qua sóng phát thanh từ radio; nhà nào sang lắm mới có được máy pick up hát đĩa than. Nhiều thế hệ ca sĩ sau bà Minh Trang như Quỳnh Giao, Mai Hương, Kim Tước, Hà Thanh và các ông Anh Ngọc, Ngọc Long cùng hát Nắng chiều và cũng được người yêu nhạc tán thưởng.

Lê Trọng Nguyễn viết Nắng chiều đúng quy chuẩn của một ca khúc, xét về mặt nhạc pháp. Ca khúc được viết với cung sol trưởng; mỗi ô nhịp 4/4 rất ít nốt nên tiết tấu khoan thai, vận dụng nhịp ngoại tài tình, chuyển âm giai rất phong phú. Đặc biệt, đoạn điệp khúc được ông biến tấu qua mi thứ – âm giai tương đương cùng bộ khóa, nên giai điệu ca khúc rất mềm mại và đẹp. Âm hình cấu tạo của ca khúc gồm đoạn A (A1 + A2) + B (B1 + B2) + A’ (giống như A2). Cấu trúc ca khúc cổ điển nhưng nội dung lại hàm chứa nét nhạc hiện đại và lãng mạn như phong cách rumba bolero Mỹ Latin.

Ca từ của Nắng chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, tỏ rõ tác giả là con người từng thẩm thấu một cách sâu đậm văn chương Việt Nam: “Qua bến nước xưa lá hoa về chiều/Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa/Khi đến cuối thôn chân bước không hồn/Nhớ sao là nhớ đến người ngày xưa… Anh nhớ xót xa dưới tre lá ngà/Gợn buồn nhìn anh, em nói mến anh/Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi/Nhớ em dịu dàng nắng chiều ngừng trôi”.

Bạn để ý đấy, một bài tình ca rất lãng mạn nhưng không hề có động từ “yêu” hay danh từ “người yêu” nào trong đó. Ngay cô gái ngày ấy cũng chỉ được mô tả là “Gợn buồn nhìn anh em nói mến anh” chứ không nói “yêu anh”, bởi nói “yêu anh” thì nghe phàm tục quá! Đúng ra, có một chỗ tác giả viết “Hình bóng yêu kiều kề hoa tím, biết đâu mà tìm” nhưng “yêu kiều” ở đây là tính từ mất rồi. Tình ý của ca khúc thật nhẹ nhàng nhưng quá đỗi sâu lắng, say đắm, nhớ nhung.

Bản nhạc được các nhà xuất bản An Phú (Sài Gòn), Tinh Hoa (Sài Gòn) và Tinh Hoa (Huế) in ra nhiều lần thành bài rời; mỗi lần in khoảng 3.000 bản. Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch bài hát sang ca từ tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà cũng đã gặp ông, hát và thu thanh với ca từ tiếng Quan thoại do Thận Chi viết; tựa đề ca khúc là Tịch dương. Cả hai nữ danh ca này có vẻ như rất mến mộ Lê Trọng Nguyễn. Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái và tiếng Khmer với nhiều ca sĩ hát, trở thành một bài Á châu tình ca!

Vậy đó, Nắng chiều với phong cách rumba bolero đầu tiên đã trở thành bài tình ca đẹp nửa sau thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Nó thoát hẳn phong cách xôn xao, rực rỡ và khá nhanh của dòng bolero Mỹ Latin; tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Về sau này, Lê Trọng Nguyễn tiếp tục lối sáng tác ấy để viết hai ca khúc Bến giang đầu (Nắng chiều 2) và Chim chiều không tổ. Hai ca khúc này đều viết với cung re trưởng; chất bolero thật đậm nét. Ông còn là người dung nạp tài hoa các điệu nhạc đặc trưng của Mỹ và đảo Hawaii như jazz, blue, boston rock, slow để viết những bài tình ca khác.

Các nhạc sĩ hòa âm sau này đã hòa âm cho ca sĩ hát Nắng chiều với các điệu khác nhau như rumba, bolero, calypso, baiao hoặc nhanh hơn chút nữa thì chachacha. Từ năm 1955 trở đi, miền Nam phát triển một hệ tình ca mới chủ yếu sử dụng dòng bolero làm chủ đạo. Nhạc sĩ Trúc Phương (Nguyễn Thiện Lộc) đẩy bolero chậm lại hơn nữa, dung hợp với phong cách dân ca Nam bộ sáng tác một loạt bài tình ca bolero cung thứ với ca từ rất lạ, được xem là “vua bolero” Sài Gòn. Nhiều nhạc sĩ khác cũng đồng thời dùng bolero viết tình ca, hình thành hẳn một dòng nhạc bolero trữ tình, đặc sắc, gần gũi với đông đảo người nghe nhạc.

Vũ Đức Sao Biển

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Nhánh Lan Rừng (Thế Hiển)

DongNhacXua.com xin được tiếp nối dòng nhạc xuân bằng bản “Nhánh lan rừng” của nhạc sỹ Thế Hiển. Ra đời cách đây đúng 40 năm, ca khúc này như một nhành lan âm thầm góp chút hương sắc cho vườn nhạc Xuân nhiều màu sắc của tân nhạc Việt Nam.

Phong lan rừng. Ảnh: http://samtuoingoclinh.com
Phong lan rừng. Ảnh: http://samtuoingoclinh.com

“NHÁNH LAN RỪNG” MÃI NỞ
(Nguồn: bài viết của tác giả Minh Nga đăng trên nld.com.vn)

Ở tuổi ngoài 50, NSƯT Thế Hiển vẫn còn hăm hở mang lời ca, tiếng hát đi khắp nơi để xoa dịu nỗi đau cho những mảnh đời bất hạnh, trở thành nhịp cầu kết nối những số phận không may.

Nhạc sỹ Thế Hiển.
Nhạc sỹ Thế Hiển.

Ra đời gần tròn 26 năm, ca khúc Nhánh lan rừng của nhạc sĩ Thế Hiển không chỉ là một hồi ức đẹp về một loài hoa, một bài hát sinh ra trong thời hoa lửa mà đã trở thành một thương hiệu của những hành trình từ thiện đầy ắp tình người. Ở tuổi ngoài 50, Thế Hiển vẫn còn hăm hở mang lời ca, tiếng hát đi khắp nơi để xoa dịu nỗi đau cho những mảnh đời bất hạnh.
 
Một hình tượng đẹp

Năm 1986, Thế Hiển cùng nhóm xung kích Đoàn Ca múa nhạc Bông Sen đi biểu diễn phục vụ bộ đội tình nguyện Việt Nam tại mặt trận 479 ở Campuchia. Tuy chỉ có 10 ngày cùng sống và hát biểu diễn với anh em chiến sĩ nhưng cũng chính tại đây, Thế Hiển nhận ra tinh thần lạc quan, yêu đời và những mơ ước đơn sơ, giản dị của người lính chiến đấu xa quê hương.
 
Thời ấy, ở rừng Siem Reap, hoa lan đua nhau nở, nhất là giữa những vách núi chênh vênh 2 bên bờ suối. Sau những giờ hành quân, chiến sĩ rủ nhau đi tìm nhánh lan rừng đẹp nhất về treo quanh lán trại. Anh vẫn nhớ như in có một chiến sĩ quê ở TPHCM khoe: “Anh Hiển ơi! Em sắp được về phép rồi. Lúc đó, em sẽ mang nhánh lan rừng về tặng cho người yêu. Em ước mơ và chờ mong được trở về TP vào mùa xuân này”.
 
Hình ảnh nhánh lan rừng vẫn sống, vẫn ra hoa giữa rừng cây chết cháy vì bom đạn và câu chuyện xúc động của người lính trẻ đó đã khiến Thế Hiển xúc động, những giai điệu của Nhánh lan rừng từ đó ùa về trong nguồn cảm hứng dạt dào: “Về thăm thành phố náo nức mùa xuân. Ba lô trên lưng đơn sơ nhánh lan rừng. Có người chiến sĩ áo vương bụi đường xa, đi giữa dòng người trên phố phường đông vui”.

Hình ảnh chiến sĩ mang ba lô cài nhánh lan rừng náo nức đi về TP giữa mùa xuân thật đẹp và ý nghĩa. Nó tượng trưng cho niềm tin yêu, sự lạc quan vào một ngày mai sum họp. Thế nhưng, chiến tranh ác liệt, có được bao người lính mang nhánh lan rừng về sum họp với gia đình, với người yêu? Có những người đã nằm xuống, mãi lỡ hẹn với mùa xuân, với mối tình đẹp như nhánh lan rừng. Song Thế Hiển không đưa hình ảnh này vào bài hát vì muốn giữ một tinh thần yêu đời, lạc quan để làm món quà động viên cho người lính: “Gửi muôn lời hát trong tâm tư người lính trẻ, vẫn hẹn ngày trở về trọn vẹn bao ước mơ…”.

Những hành trình không mỏi

Người ta gọi Thế Hiển là nhạc sĩ của lính và hè phố khi có hàng loạt sáng tác về đời lính gian khổ cũng như những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Để có được những ca khúc đầy sức sống ấy, trái tim Thế Hiển đã bao lần trăn trở trước những phận đời mà mình bắt gặp trên mỗi chặng đường đi qua.
 
Năm 1991, Thế Hiển ra Hà Nội gặp những đứa trẻ lang thang, cơ nhỡ sống bằng nghề đánh giày, bán vé số, những em bé nằm co ro bên vỉa hè, góc phố giữa đêm mưa giá rét… và ca khúc Dấu chấm hỏi đã ra đời. Một lần đến thăm thương binh ở Quân y viện 175, bài hát Những giọt nước mắt từ đôi mắt không còn được viết dành tặng cho những người thương binh không còn đôi mắt lành lặn.
 
Không chỉ có những sáng tác đồng cảm với số phận con người, Thế Hiển còn ôm đàn hát với những mảnh đời bất hạnh trên khắp đất nước. Còn nhớ live show xuyên Việt mang tên Nhánh lan rừng qua các tỉnh – thành của anh, diễn ra khoảng năm 2004 – 2005 đã giúp đỡ cho rất nhiều bà mẹ Việt Nam anh hùng, học sinh, sinh viên, trẻ em nghèo khó…

Sau thành công của Nhánh lan rừng, hành trình xoa dịu nỗi đau của Thế Hiển được tiếp tục bằng chương trình Những khúc tâm ca đường phố. Chương trình không nằm ngoài mong muốn đóng góp vào quỹ từ thiện của các tỉnh – thành nơi chương trình đi qua.

Người ta gọi Thế Hiển là “Nhánh lan rừng nở mãi” bởi hôm nay đã bước qua tuổi 50 nhưng người nhạc sĩ – ca sĩ này vẫn còn sung sức, đầy đam mê, nhiệt huyết để tiếp tục những hành trình nhân văn của mình. Là ủy viên ban chấp hành Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật TPHCM từ năm 1998 đến nay, Thế Hiển đều đặn tham gia các chương trình từ thiện, đến các mái ấm, trường học, ôm đàn ngồi ca hát vô tư, hồn nhiên với mọi người. Những cuộc hành trình không mệt mỏi là vậy nhưng Thế Hiển vẫn khiêm tốn cho rằng âm nhạc của mình chỉ là một chiếc cầu nhỏ, nối nhịp giữa lòng hảo tâm và những số phận không may mắn cần được hỗ trợ và đáp đền trong xã hội.

Nói về hành trình từ thiện, Thế Hiển chưa bao giờ nghĩ mình sẽ dừng lại lúc nào, không biết khi nào kết thúc. Bởi “Nhánh lan rừng” Thế Hiển vẫn còn khát khao cất vang lời ca, tiếng hát; bởi những tấm lòng nhân ái vẫn luôn đồng hành ủng hộ những việc làm của anh để mang đến cho đời những niềm vui. Vì thế, dấu chân người nhạc sĩ của những phận đời lam lũ sẽ còn in ở rất nhiều nơi anh đi qua.

Bài và ảnh: Minh Nga

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Mùa Xuân Bên Cửa Sổ (Xuân Hồng – Song Hảo)

Tiếp nối dòng nhạc ngày xuân, DongNhacXua.com trân trọng giới thiệu một bản tình ca lãng mạn ra đời trong thời bao cấp đầy khó khăn: “Mùa xuân bên cửa sổ” của nhạc sỹ Xuân Hồng. Cũng là về chiến tranh, về người lính nhưng trong ca khúc của nhạc sỹ Xuân Hồng, phỏng theo ý thơ của Song Hảo, chúng ta chì thấy toát lên tình yêu đôi lứa, hòa trong bức tranh đầm ấm ngày xuân.

Ảnh: HopAmViet.com
Ảnh: HopAmViet.com

NỤ HÔN TRONG CA KHÚC CỦA NHẠC SỸ XUÂN HỒNG
(Nguồn: chieulang.com.vn)

Ở phương Tây, nam nữ yêu nhau có thể hôn nhau ở bất cứ đâu mà họ muốn. Ở Việt Nam thì không như vậy. Họ hôn nhau, trao cho nhau tình cảm yêu đương ở một không gian riêng, thầm kín, tế nhị chứ không phải tự nhiên như người phương Tây. Nếu như một cô gái nào đó được hôn trước mặt mọi người họ sẽ thấy thẹn thùng, mắc cỡ. Chính vì thế việc đưa hình ảnh nam nữ hôn nhau vào trong tác phẩm làm cho các nghệ sĩ phải cân nhắc. Trong văn học, điện ảnh, các tác giả thường đưa “nụ hôn” vào trong tác phẩm của mình nhưng chắc chắn mỗi tác giả đều phải cân nhắc, chắt lọc hình ảnh sao cho hợp lí. Vì nụ hôn là một trong những biểu hiện tình cảm cao nhất của con người. Trong ca khúc âm nhạc của nước ta từ xưa tới nay ( tính tới năm 1985- thời điểm mà ca khúc Mùa xuân bên cửa sổ của nhạc sĩ Xuân Hồng ra đời) nếu nhắc đến nụ hôn thì cũng nói xa xa gần gần: yêu em mặn nồng, đôi môi ngọt ngào, nụ hôn nồng ấm…chứ ít  người mạnh dạn đưa  “nụ hôn”vào trong tác phẩm như trong Mùa xuân bên cửa sổ của nhạc sĩ Xuân Hồng: “Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau.“

nhac-sy-xuan-hong--chieulang.com.vn--dongnhacxua.comCó thể có nhiều người trước đó sáng tác ca khúc có đề cập đến nụ hôn, nhưng vì ít phổ biến rộng rãi ít được chú ý như cái cách của nhạc sĩ Xuân Hồng.Vì vậy, một giai điệu đẹp kết hợp với hình ảnh nam nữ hôn nhau trong ca khúc này được khơi gợi như một bức tranh đẹp- bên cửa sổ có đôi trai gái yêu nhau, trao cho nhau nụ hôn cháy bỏng, tình yêu của một anh lính và một cô công nhân trẻ, trong niềm vui, niềm hạnh phúc của mùa xuân đất nước. Mọi người hát và ca ngợi tình yêu đẹp, trong sáng của người lính theo cách riêng của nhạc sĩ Xuân Hồng. Vì thế  nên mọi người chú ý. Vì được chú ý nên không tránh khỏi việc mọi người khen chê, bình phẩm. Cũng nhắc đến nụ hôn trong bài Cây đàn ghi ta của đại đội ba của ông: “Khi chia tay nhau lên đường chiến đấu/ Bao người yêu  dấu tiễn bước chân/ Nhớ bao tấm lòng, chiếc hôn thắm nồng./ Để lại bao nỗi nhớ mênh mông…” nhưng cũng không được chú ý, bàn luận nhiều như nụ hôn trong ca khúc Mùa xuân bên cửa sổ của nhạc sĩ Xuân Hồng-thơ Song Hảo.

Nhạc sĩ Xuân Hồng tên thật là Nguyễn Xuân Hồng sinh ngày 12 tháng 12 năm 1928 ở Tây Ninh. Những người biết nhạc của ông, yêu nhạc của ông gọi ông là Nhạc sĩ của mùa xuân. Ông có 3 tác phẩm viết về xuân: Xuân chiến khu, Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh và Mùa xuân bên cửa sổ.Với ba ca khúc về mùa xuân ra đời trong ba hoàn cảnh, không gian khác nhau nhưng đều toát lên một điểm chung là tinh thần lãng mạn, lạc quan cách mạng của ông.

Ca khúc Mùa xuân bên cửa sổ được sáng tác năm 1985. Đất nước ta vẫn trong thời bao cấp. Những năm đầu của thập niên 80, việc đưa từ Nụ hôn vào trong tác phẩm thơ, tác phẩm Âm nhạc là điều hiếm thấy, không hề đơn giản tí nào, việc cho nhân vật của mình hôn nhau, dù là ở trong nhà của họ, bên cửa sổ của họ và dù ở đâu chăng nữa   cũng vẫn là một việc làm khá… táo bạo trong tình hình nước ta vẫn còn nặng tư tưởng phong kiến, một hai “gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc”.Việc hôn nhau bình thường trước mặt mọi người đã không xảy ra thì trong ca khúc cũng rất khó thể hiện. Thế mà tác giả nữ Song Hảo mạnh dạn đưa vào thơ Nụ hôn cháy bỏng của một mối tình có thật vào trong thơ thật tự nhiên và lãng mạn. Để rồi Nụ hôn ấy bắt nhịp cùng với Âm nhạc của nhạc sĩ Xuân Hồng làm nên một ca khúc để đời: Mùa xuân bên cửa sổ ­-Bài hát đến nay ( gần 30 năm )vẫn được nhiều người yêu mến, nhiều thí sinh chọn ca khúc này để dự thi trong các cuộc thi hát..

 Từ Nụ hôn đã từng làm cho tác giả thơ bị phê bình  còn nhạc sĩ Xuân Hồng bị chê là …thô thiển, kém tế nhị trong sáng tác. Trong quán cà phê, nếu chủ quán mở bài hát này, có người nghe bụm miệng cười, đỏ mặt ( không biết đang mắc cỡ hay nghĩ gì đó ), hoặc nói …nhạc gì kì vậy…Có người còn mỉa mai tác giả : “Ai thích hôn thì cứ hôn, việc đó mà cứ bô bô cái mồm, chẳng ra thể thống gì nữa, hắn là cái thá gì mà khi hôn bắt người khác phải… im lặng. ”

Ảnh: http://duongthienhuong2012.blogspot.com
Ảnh: http://duongthienhuong2012.blogspot.com

Mặc dù có một thời, một số người nào đó chê bài hát, hay ngượng khi hát, khi nghe  ca khúc này nhưng quả thực những chê bai đó thật thiển cận.  Ca khúc Mùa xuân bên cửa sổ đã góp phần làm nên tên tuổi nhạc sĩ Xuân Hồng. Đánh dấu một giai đoạn sáng tác mới của ông trong thời kì đất nước đổi mới , góc nhìn của văn nghệ sĩ cũng thoáng hơn, mới mẻ hơn. Hầu hết những người có chuyên môn cao về Âm nhạc đều khâm phục tài phổ thơ của nhạc sĩ Xuân Hồng. Thực ra, với Mùa xuân bên của sổ không thể nói là phổ thơ mà phỏng thơ mới đúng. Câu chữ trong bài thơ khác với câu chữ trong ca khúc nhưng vẫn giữ được ý của bài thơ, chấp cánh cho thơ của Song Hảo đến gần với khán giả hơn.

Như trên đã nói, nhạc sĩ Xuân Hồng chỉ mượn hai câu thơ đầu và ý thơ để làm nên tác phẩm. Cái tài của ông trong việc chắt lọc ý thơ, sáng tác các ca từ theo cảm xúc thật của mình mà không làm mất cái tinh thần chính của bài thơ. Ngược lại, cách dùng từ của ông, âm nhạc của ông đã làm cho bài thơ bay lên, đẹp như một đóa hoa tỏa hương ngan ngát. Đây là đoạn thơ trong bài thơ Bên cửa sổ của nữ thi sĩ Song Hảo mà nhạc sĩ Xuân Hồng mượn để chấp cánh cho cảm hứng sáng tác đoạn mở đầu ca khúc này:

 “Cao cao bên cửa sổ
Có hai người hôn nhau
Hai người rất trẻ
 Hãy im nghe
 Rì rầm đường phố
 Bên cửa sổ có hai người hôn nhau
 Đêm chín rồi
 Rất khẽ

 Trăng ơi ghen nhé
 Có hai người yêu nhau
 Hoa dạ lý
Dâng hương
 Đêm nay
 Hoa tinh tường hơn cả
 Nhớ nghe hoa
 Mùi hương thật khẽ…”.

Và  đây là đoạn ca từ trong ca khúc:

“Cao cao bên cửa sổ
 Có hai người hôn nhau
 Đường phố ơi hãy yên lặng
Để hai người hôn nhau
 Chim ơi đừng bay nhé
Hoa ơi hãy tỏa hương
 Và cây ơi lay thật khẽ
 Cho đôi bạn trẻ đón xuân về”.

 Đối chiếu hai đoạn thơ và nhạc, ta thấy phần nhạc gọn ghẽ hơn, khi đọc lên ta thấy vẫn giữ cấu tứ của thơ, đủ sức khái quát những gì mà tác giả thơ muốn đặt ra nhưng chắc chắn giàu nhạc cảm hơn nhiều.  

Từ bài thơ Bên cửa sổ của nữ thi sĩ Song Hảo, nhạc sĩ Xuân Hồng đã viết nên một bản tình khúc chan chứa tình đời. ” Mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng. Cuộc đời còn có cả những nụ hôn” Bài hát có hai đoạn đơn, viết bởi nhịp 2/4 giọng rê thứ hòa  thanh có biến âm.

Giai điệu của bài hát được viết với tốc độ chậm rãi, tha thiết, nhẹ nhàng và rất duyên dáng. Người hát thường thể hiện bài này với điệu slowrock sâu lắng vì có nốt đen kết hợp với chùm ba đơn. Giai điệu của ca khúc còn hay ở chỗ tác giả dùng nhiều dấu hóa bất thường, nhiều dấu luyến láy …tạo nên giai điệu mềm mại, uyên chuyển để thể hiện tình yêu cháy bỏng của lứa đôi. Ở đoạn 1, tác giả dung âm hình chủ đạo rất đơn giản,với cách thể hiện tình cảm nhẹ nhàng, tự sự, sâu lắng. Sang đoạn 2 – đoạn phát triển-giai điệu đột nhiên nhảy lên một quãng 8 với một nốt trắng kéo dài sang nốt móc đơn ( 2 phách rưỡi) tạo cho người nghe một cảm giác khác thường, thoải mái, gây sự chú ý đặc biệt: Khi mặt trận bình yên anh lính về thăm phố, cô gái vừa tan ca/ Họ hẹn nhau và chờ nhau, cùng khát khao hạnh phúc/ Họ đón nhau và mùa xuân cũng theo về….Giai điệu tiếp tục phát triển thành cao trào rồi giải quyết cao trào một cách tinh tế và kết thúc ở âm chủ của điệu thức. Ôi hạnh phúc đâu chỉ có cơm ngon và áo đẹp, mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng, cuộc đời còn có cả những nụ hôn…

Tôi sinh ra và lớn lên ở thời bình. Chiến tranh như một huyền thoại, một truyền thuyết đối với tôi nhưng được biết về một mối tình của môt anh lính và cô công nhân qua ca khúc của cố nhạc sĩ Xuân Hồng đối với tôi là một niềm hạnh phúc lớn. Là một trong những thế hệ đi sau ông trong lĩnh vực sáng tác luôn khâm phục tài năng phổ thơ của ông, tinh thần lạc quan, lãng nạn của ông. Đặt biệt học tập ông cách dùng từ sao cho tự nhiên, giàu hình ảnh và nhạc cảm.  Nhạc sĩ Xuân Hồng viết ca khúc này trong một hoàn cảnh đất nước đã yên bình, ông đã mở rộng tầm nhìn, bắt nhịp cho nguồn cảm hứng mới để viết nên ca khúc lãng mạn làm say đắm lòng người. Ông là người đầu tiên mạnh dạn đưa từ “nụ hôn” vào trong ca khúc của mình một cách tự nhiên, ngọt ngào và quyến rũ.

Thu Hường 

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Mùa Xuân Đến Rồi Đó (Trần Chung)

Vào khoảng những năm 1980, khi Việt Nam còn trong thời bao cấp và cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, những cậu bé như chúng tôi vẫn còn rất vô tư và mong đợi Xuân về để chỉ được đi lượm pháo và “ăn thịt heo cho thật đã”. Ngày đó, những món bánh kẹo mà bây giờ con cái chúng tôi cho là quá bình thường cũng trở thành những món đặc sản. Dẫu rằng mỗi thời mỗi khác, chúng ta khó mà kéo lùi bánh xe lịch sử, tuy nhiên qua DongNhacXua.com chúng tôi muốn thế hệ trẻ phần nào cảm nhận được những gì gọi là lịch sử để qua đó tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc Việt Nam chúng ta.

NHẠC SỸ TRẦN CHUNG VÀ BÀI HÁT “EM ƠI, MÙA XUÂN ĐẾN RỒI ĐÓ”
(Nguồn: BaoBinhDinh.com)

Năm 1976, nhạc sĩ Trần Chung đi công tác ở các tỉnh phía Nam và có dịp tiếp xúc với các bạn trẻ là thanh niên xung phong. Tiếp xúc với đối tượng ấy, Trần Chung cảm thấy ở họ một sức sống sôi nổi và mãnh liệt, hồn nhiên, yêu đời. Họ rất thích ca hát. Những bài hát hay viết về họ mà họ ưa thích chưa nhiều.

em-oi-mua-xuan-den-roi-do--kenhsinhvien.vn--dongnhacxua.com

Trần Chung nghĩ ngay đến một bài hát không hẳn viết riêng cho các bạn thanh niên xung phong mà là viết về sức sống, tuổi trẻ của họ. Anh mong muốn bài ca ấy sẽ được họ yêu thích.

Lần gặp gỡ ấy qua đi. Chẳng mấy chốc mà năm mới sắp đến. Thiên nhiên rậm rịch một sức sống mới. Trần Chung lại nghĩ đến những bạn trẻ ngày nào, với nhiều kỷ niệm. Bỗng nhiên trong anh tuôn trào ra mạch âm nhạc:

Em ơi mùa xuân đến rồi đó

Thắm đỏ ngàn hoa sắc mặt trời

Dưới hình thức người con trai nói với người con gái, bài hát “Mùa xuân đến rồi đó” ra đời như một bản tình ca. Chàng trai nói với cô gái nhiều điều về cuộc đời, đất nước, về những chuyện rộng lớn tưởng như ít liên quan đến họ mà thực ra lại rất thiết thực với cuộc sống, với hạnh phúc, công việc của họ. Cuộc đời riêng gắn với cuộc đời chung:

Nghe không gian mênh mông trong lời ca yêu thương đến với muôn đời, xuân ước vọng ngàn năm lại tới

Rồi:

Qua bao nhiêu đau thương thấy mùa vui theo chim én lướt bay về

Ríu rít ngang trời, chim hót chào bàn tay dựng xây trên tầng cao

Mùa xuân đến rồi đó không có ý nói nhiều đến một mùa xuân cụ thể. Tác giả không dừng lại miêu tả những cảnh sắc mùa xuân như trong truyện Kiều:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Trong bài hát, những “ngàn hoa thắm đỏ”, những “chim én lướt bay về” chỉ cốt tạo không khí, gợi một chút ít xuân, điều cốt yếu là tác giả nói đến sức sống mãnh liệt, dồi dào, tiềm tàng của tuổi trẻ, nói đến mùa xuân với ý nghĩa khái quát tượng trưng. Mùa xuân là biểu tượng của sự sống, của sức vươn lên, trỗi dậy.

Chủ đề âm nhạc của bài hát xuất hiện bằng những âm hình khá đơn giản, chủ yếu là những nốt đen kế tiếp trong nhịp 2/2 nhưng khi hát lại ngắt chứ không liền mạch tạo nên một hiệu quả rậm rịch, rạo rực, biểu hiện mùa xuân thiên nhiên đang đến, sức sống của tuổi trẻ đang dồi dào.

Phần sau, tiết tấu có nhanh, theo nhịp đến hối hả, mùa xuân và tuổi trẻ đang sung mãn.

…Nghe không gian mênh mông trong lời ca yêu thương đến với muôn đời…

Mùa xuân 1978, tác giả giới thiệu bài hát trên làn sóng phát thanh. Bài hát Mùa xuân đến rồi đó đã nhanh chóng đến với quần chúng. Rạo rực, sôi nổi, không ồn ào, không lên gân. Ngắn gọn, giản dị nhưng vẫn sâu sắc, dễ hát mà đường nét giai điệu lại mới mẻ.

Mùa xuân đến rồi đó lại vang lên mỗi dịp xuân về một cách rạo rực, xốn xang…

Khả Xuân

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Hoa Cỏ Mùa Xuân (Bảo Chấn)

Ra đời vào thập niên 1990, “Hoa cỏ mùa xuân” của nhạc sỹ Bảo Chấn đã góp thêm vào vườn nhạc xuân một bông hoa riêng, lung linh sắc màu. Giai điệu nhanh, vui tươi và lời ca dung dị, nhạc sỹ Bảo Chấn đã thổi một làn gió mát vào “hơi thở mùa Xuân”. Nhân dịp Xuân Bính Thân 2016, DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu “Hoa cỏ mùa xuân” và kính chúc quý vị xa gần một mùa Xuân an khang, thịnh vượng.

HOA CỎ MÙA XUÂN
(Nguồn: bài viết của tác giả congacon đăng trên agriviet.com)

“Này là cỏ non rất mềm/Này mùa xuân rất hiền/Này là hoa rất thơm…”.

Không rõ người khác có cảm nhận như thế nào khi nghe ca khúc “Hoa cỏ mùa xuân” của nhạc sĩ Bảo Chấn, riêng tôi, mỗi khi lời của ca khúc ấy cất lên, tôi có cảm giác như mình đang thong dong giữa mảnh đất quê nhà, khi mùa xuân về đầy sắc màu của cỏ hoa, đầy hương vị ngọt ngào của hương đồng gió nội.

Quê tôi, một vùng quê của miền Trung chập chùng với những ngọn đồi nối tiếp nhau, ngọn cao, ngọn thấp. Đó là vùng quê nghèo, đất cằn cỗi, mùa hạ nắng như lửa đốt, đông về gió lạnh từ núi thổi ra tê tái thịt da. Ấy thế mà xuân về, những loại cây cỏ xanh mượt cùng biết bao loài hoa đủ màu, trắng, vàng, hồng, tím ngoài cánh đồng mênh mông gió cứ đua nhau nở như có lời hẹn trước. Trên những con đường, những bờ ruộng chỉ mấy tháng trước còn đầy bùn do lũ lụt, thế mà vào đầu tháng Chạp, từ trong lòng đất, bao nhiêu mầm non đã nhú lên. Những lùm hoa cỏ qua mùa rét giờ cũng thay áo, phủ lên mình bộ cánh mới, nõn nà.

hoa-co-mua-xuan--1--agriviet.com--dongnhacxua.com

Tôi dám đoán chắc rằng, trên thế giới này, không có nhà khoa học nào thống kê được ở những cánh đồng, ở những bờ bụi của các làng quê có bao nhiêu loài hoa nở vào mùa xuân. Khó, khó lắm, vì quá nhiều! Có những loài hoa mà một cánh có đến ba hoặc bốn màu, trông lộng lẫy, đó là hoa giằng xay. Có những loài hoa đêm về tỏa hương thơm ngát cả lối đi như hoa dủ dẻ đang vừa hé nụ. Có loài hoa nở trắng trên những mảnh đất dọc lối đi như hoa xuyến chi hay nở vàng thành đám bên triền sông như hoa cúc dại, thành rừng như hoa lau hoặc hoa đuôi chồn…

Đi giữa rừng hoa cỏ của mùa xuân ở làng quê là đi giữa muôn sắc màu và giữa muôn mùi hương lạ hòa quyện vào nhau, mộc mạc, thanh khiết. Chưa kể mỗi loài hoa còn mang trong mình một câu chuyện cổ tích hay một truyền thuyết đậm màu sắc dân gian. Này đây, một chàng trai nhà nghèo yêu một cô gái nhà giàu, nhưng duyên không thành vì nhà gái đòi lễ cưới quá lớn để rồi khi bi kịch diễn ra, đôi trai gái qua đời đã biến thành hoa xuyến chi. Này đây, có tiên nữ trên thượng giới một lần đánh rơi chén ngọc, bị đày xuống trần gian, biến thành hoa trân châu kiêu sa…

Tuổi thơ tôi đi qua những mùa hoa cỏ đậm màu cổ tích ấy. Thú vị biết bao, những buổi chiều chạy nhảy bên những sườn đồi hay những thửa ruộng ngan ngát hương thơm. Trên kia là trời xanh vời vợi với những cánh én đã qua mùa trú đông, bay về chao liệng, và chung quanh là muôn trùng những loài hoa cỏ của mùa xuân.

hoa-co-mua-xuan--2--agriviet.com--dongnhacxua.com

Dù rằng chốn đô thành ngày nay, mỗi độ Tết về, các loại hoa quý hiếm được bày bán khắp các đường phố nhưng mấy ai từng sống ở các làng quê lại không nhớ về những mùa hoa cỏ, những mùa hoa chốn hương đồng gió nội như nhà thơ Quang Sang từng viết:

… Có bao loài hoa chúng mình chưa thuộc tên
nhưng mãi hiện lên khi mùa xuân tới
ơi, những loài hoa của nhớ nhung vời vợi
của thời tuổi thơ chân đất bên đồng
của những chiều chạy nhảy ở bến sông
nghe bờ bên kia tiếng trống thập thùng vào mùa lễ hội…

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

30 năm nhạc phim Tây Du Ký (1986 – 2016)

Chỉ còn vài ngày nữa là chúng ta đón một mùa xuân mới, Xuân Bính Thân 2016. Nhân tết con Khỉ, DongNhacXua.com xin giới thiệu đến quý vị nhạc phim “Tây Du Ký”, phiên bản 1986 mà theo thiển ý của chúng tôi là bản phim về Tôn Ngộ Không hay nhất cho đến thời điểm này.

CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ NHẠC PHIM TÂY DU KÝ
(Nguồn: vtc.vn)

Nhắc đến Tây Du Ký phiên bản 1986, nhiều người nhớ đến ca khúc chủ đề phim ‘Xin hỏi đường ở nơi đâu’, thế nhưng mấy ai biết sự thiệt thòi của cha đẻ ca khúc này.

tay du ky nhac sy 'Xin hỏi đường ở nơi đâu' thể hiện được sự vất vả gian nan của thầy trò Đường Tăng trên đường đi thỉnh kinh.
‘Xin hỏi đường ở nơi đâu’ thể hiện được sự vất vả gian nan của thầy trò Đường Tăng trên đường đi thỉnh kinh.

Mỗi khi kết thúc một tập phim Tây du ký, người xem lại được hòa trong điệu nhạc háo hức hoan ca: ‘Anh hành lý trên vai, tôi thì dắt ngựa. Ngày đón bình minh lên, chiều đưa tiễn hoàng hôn. Mặc gió rét gầm vang, không ngại hiểm nguy cất bước… ‘.

Điệp khúc cùng lời ca dễ thuộc khiến khán giả thực sự gắn bó với bài hát cũng như bộ phim Tây Du Ký. Tuy nhiên, phần đa chỉ biết đến ca sỹ Tưởng Đại Vy là người thể hiện còn vị nhạc sỹ sáng tác thì ít người chú ý.

Ông chính là nhạc sỹ Hứa Kính Thanh nổi tiếng Trung Quốc với hơn 100 ca khúc nhạc phim mang đậm phong cách dân tộc với sự hài hòa nhạc đương đại.

Trong đó, Xin hỏi đường ở nơi đâu trong bộ phim Tây Du Ký được coi là ca khúc thành công nhất của nhạc sỹ Hứa. Ca khúc này đồng thời đã mở ra trào lưu kết hợp nhạc điện tử với nhạc dân tộc cũng như dàn nhạc hợp xướng trong phim ảnh.

Trái ngược với phần nhạc không lời mở đầu phim, ca khúc cuối phim với ca từ hàm ý và da diết khiến người xem cảm nhận được nỗi vất vả trên hành trình đi thỉnh kinh của bốn thầy trò Đường Tăng.

Có thể nói, Xin hỏi đường ở nơi đâu tới nay đã trở thành phần âm nhạc mang tính tiêu chuẩn của phim Tây Du Ký.

Nhạc sĩ Hứa Kính Thanh, cha đẻ ca khúc chủ đề phim Tây Du Ký.
Nhạc sĩ Hứa Kính Thanh, cha đẻ ca khúc chủ đề phim Tây Du Ký.

Cơ duyên đến với đoàn Tây Du Ký

Mùa Đông năm 1983, Hứa Kính Thanh khi đang ngồi trên xe từ nhà đến cơ quan bỗng bật lên trong đầu hai ca câu: ‘Bốn mùa xuân hạ thu đông xoay chuyển, nếm trải bao nỗi cay đắng ngọt bùi’. Sau này, hai câu trên đã trở thành trung tâm và cao trào của bài hát Xin hỏi đường ở nơi đâu.

Hứa Kính Thanh ngó đầu ra cửa xe, trên trời hoa tuyết lất phất bay, chàng trai trẻ khi đó đã tự hỏi, đời con người có tiền thì nên, không tiền thì sẽ khác, mục đích cuộc sống của con người rút cuộc là gì… Từ suy nghĩ đó, ông đã bật ra lời ca ‘Bốn mùa xuân hạ thu đông xoay vần’.

Khi tới cơ quan, Hứa liền viết một mạch xong phần còn lại của ca khúc. Tổng thời gian ông hoàn thành Xin hỏi đường ở nơi đâu chỉ chưa đầy 20 phút.

Sau khi bộ phim Tây Du Ký phát sóng, bài Xin hỏi đường ở nơi đâu khi đó đã được truyền thông bình chọn là một trong 10 ca khúc vàng. Tuy nhiên, đơn vị tổ chức không thể tìm được người nhận giải để trao giải thưởng đặt biệt này.

Về sau, đài truyền hình Bắc Kinh đã tìm ra người nhạc sỹ đó chính là Hứa Kính Thanh, đồng thời trao phần thưởng cho ông.

Ca khúc lận đận và nguy cơ bị hủy

Năm 1986, nhân viên biên tập nhạc của đoàn phim đã hẹn gặp Hứa Kính Thanh để thông báo, lãnh đạo đài trung ương không muốn sử dụng ca khúc Xin hỏi đường ở đâu. Lý do đưa ra: ‘Tây Du Ký là một trong Tứ đại danh tác. Nếu dùng nhạc điện tử để sáng tác nhạc Tây Du Ký thì không phù hợp’.

Từ trái qua: Lục Tiểu Linh Đồng, Hứa Kính Thanh, Dương Khiết và Trì Trọng Thụy.
Từ trái qua: Lục Tiểu Linh Đồng, Hứa Kính Thanh, Dương Khiết và Trì Trọng Thụy.

Hứa Kính Thanh tới Cửu Hoa Sơn và tìm gặp nữ đạo diễn Dương Khiết tâm sự rằng ông đã bỏ nhiều công sức và tâm huyết để sáng tác nhưng giờ lại bị hủy nên rất buồn và tiếc nuối.

Nữ đạo diễn tỏ ra giận dữ, vội viết một bức tâm thư cho lãnh đạo đài, đưa Hứa Kính Thanh chuyển về cho cấp trên. Bản thân Dương Khiết rất thích ca khúc Xin hỏi đường ở nơi đâu, vì vậy bà quyết đấu tranh giữ lại bài hát đến cùng.

Sau nhiều lần tác động, cuối cùng lãnh đạo đài đã dồng ý giữ lại ca khúc Xin hỏi đường ở nơi đâu của Hứa Kính Thanh làm ca khúc chủ đề cuối phim Tây Du Ký.

Thù lao bèo bọt và chuyện bản quyền

Hứa Kính Thanh từng có lần gặp gỡ ca sỹ thể hiện ‘đứa con tinh thần của ông’ – nam danh ca Tưởng Đại Vy. Qua chuyện trò thân mật, Tưởng Đại Vy cho biết, mỗi lần tham gia một sự kiện văn nghệ và thể hiện ca khúcXin hỏi đường ở nơi đâu, ông đều nhận được cát-xê khoảng 250.000 NDT (854 triệu đồng).

Tính trung bình mỗi tháng ít nhất Tưởng cũng tham gia khoảng 20 sự kiện. Nghe vậy cũng khiến nhạc sỹ Hứa cảm thấy chạnh lòng, bởi ông không hề nhận được một đồng thù lao bản quyền nhạc sỹ.

Nhạc sỹ Hứa Kính Thanh từng nhận được tiền bản quyền cho ca khúc Xin hỏi đường ở nơi đâu, tuy nhiên số lần ông nhận được tiền như vậy không phải nhiều, thậm chí khá bèo bọt.

Hiệp hội âm nhạc từng gửi cho Hứa khoảng hơn 300 NDT (khoảng 1 triệu đồng hiện tại) tiền bản quyền để được phép sử dụng ca khúc. Con số này so với giá cát-xê mà Tưởng Đại Vy nhận được là một trời một vực.

Nhạc sĩ Hứa Kính Thanh (phải) trùng phùng nam nghệ sĩ Lục Tiểu Linh Đồng
Nhạc sĩ Hứa Kính Thanh (phải) trùng phùng nam nghệ sĩ Lục Tiểu Linh Đồng

Từng có luật sự ngỏ lời giúp Hứa Kính Thanh đòi lại công bằng, với hy vọng mang lại chút thu nhập cho vị nhạc sỹ đã bước vào độ tuổi thất thập cổ lai hy. Tuy nhiên, nhạc sỹ đã từ chối với lý do: ‘Tôi và Tưởng Đại Vy đều là chỗ quen biết bao năm, mặt mũi nào mà đi làm chuyện như vậy’.

Ngoài ra, nhạc phim Tây Du Ký cũng được nhiều người hâm mộ tải về từ các trang mạng chia sẻ nhạc trực tuyến, trong khi nhạc sỹ Hứa chỉ nhận được duy nhất một lần khoản thù lao bản quyền ca khúc là 8.000 NDT (27 triệu đồng).

Đây là tổng số tiền của hơn 50 trang mạng cộng lại, trong đó có một trang trả với số tiền 2 tệ 7 xu (khoảng 9.200 đồng): ‘Khi đó tôi đã nói, tải về không phải trả tiền cho tôi, chỉ cần gửi cho tôi bao thuốc lá là được rồi’, vị nhạc sỹ hiền lành nói.

Thời kỳ vàng son và 17.000 đồng

Thời gian Tây Du Ký được phát sóng trên truyền hình cách đây hơn 20 năm, Hứa Kính Thanh với tư cách nhạc sỹ sáng tác ca khúc Xin hỏi đường ở nơi đâu nhận khoản thù lao là 250 NDT (854.000 đồng)/tập.

Tổng cộng 25 tập ông nhận được 6.250 NDT (21 triệu đồng) – khoản tiền được coi là vô cùng lớn so với thời kỳ bấy giờ (những năm 80).

Khi ghi âm xong Xin hỏi đường ở nơi đâu, đoàn phim trả cho đội ngũ âm nhạc mỗi người 5 NDT (17.000 đồng), mọi người vui sướng lắm nhưng không ai nghĩ bài hát sẽ nổi tiếng’.

Ngoài ra, khi bộ phim Tây Du Ký được chiếu hoàn tất năm 1986, Hứa Kính Thanh đã gửi lời ca khúc Xin hỏi đường ở nơi đâu cho tạp chí Tiếng ca Thiên Tân nhưng bị trả lại.

Lý do được tổng biên tập tạp chí này đưa ra là: ‘Ca khúc này bị hoài nghi là có tinh thần không lành mạnh’. Sau đó Hứa tiếp tục gửi ca khúc cho tạp chí Đời sống âm nhạc ở Thẩm Dương và được đăng ngay tức thì.

Hứa Kính Thanh chụp hình lưu niệm cùng Trì Trọng Thụy trong thời gian ông có mặt cùng đoàn Tây Du Ký.
Hứa Kính Thanh chụp hình lưu niệm cùng Trì Trọng Thụy trong thời gian ông có mặt cùng đoàn Tây Du Ký.

Ca khúc Xin hỏi đường ở nơi đâu được nhạc sỹ Hứa Kính Thanh soạn nhạc, trong khi phần lời do nhạc sỹ Diêm Túc soạn. Ngoài ca khúc trên, nhạc sỹ Hứa Kính Thanh còn sáng tác một số các ca khúc khác cho phim như Thiên Trúc thiếu nữ, Trư Bát Giới cõng nàng dâu.

Sau khi gắn bó với đoàn phim Tây Du Ký của đạo diễn Dương Khiết, hơn hai mươi năm sau, nhạc sỹ Hứa Kính Thanh tiếp tục được đạo diễn Trương Kỷ Chung mời hợp tác soạn nhạc cho Tân Tây Du Ký (2009), ca khúc ở cuối phim vẫn mang tên Xin hỏi đường ở nơi đâu, nam ca sỹ Đao Lang là người thể hiện chính.

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Mẹ già như chuối chín cây (Mừng Tuổi Mẹ – Trần Long Ẩn)

Lấy cảm hứng từ hai câu ca dao:
“Mẹ già như cưới chín cây,
Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi”,
nhạc sỹ Trần Long Ẩn đã bổ sung vào dòng nhạc Việt một sáng tác có giá trị về tình mẫu tử. Đây cũng là nhạc phẩm được hát rất nhiều vào mỗi dịp Xuân về. Hôm nay  23 tháng chạp Ất Mùi (01.02.2016), trước thềm năm mới, DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu bản “Mừng tuổi Mẹ” của nhạc sỹ Trần Long Ẩn.

Mừng tuổi Mẹ (Trần Long Ẩn). Nguồn: tkaraoke.com
Mừng tuổi Mẹ (Trần Long Ẩn). Nguồn: tkaraoke.com

MẸ GIÀ NHƯ CHUỐI CHÍN CÂY
(Nguồn: gxthanhtamhonai.com )

“Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!”. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta, không thể nói hết bằng lời.

me-gia-nhu-chuoi-chin-cay--gxthanhtamhonai.com--dongnhacxua.com

Tình mẹ, một tình cảm thiêng liêng, cao quý luôn hiện hữu trong mỗi người con dành cho đấng sinh thành của mình. “Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!”. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta, không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi, ở đâu thì đúng thật, không ai tốt, chăm sóc, lo lắng cho chúng ta bằng chính cha mẹ…

Mọi người chúng ta ai cũng được sinh ra và lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ hiền. Vẫn biết bên mình có biếtt bao nhiêu người thân yêu – đến trường ta có bạn bè thân thương, có ngôi trường thương mến, có thầy cô kính yêu hằng ngày vỗ về, dạy dỗ … nhưng chắc chẵn có ai không cảm nhận được tình yêu thương đầy ắp, nồng ấm của người mẹ hiền đi theo ta đến suốt cuộc đời là cao cả nhất.

Tình yêu đó cứ lớn dần theo năm tháng, đến bây giờ khi bước chân vào trường trung học phổ thông ta mới phần nào hiểu được tình yêu thiêng liêng của mẹ.

Một sớm mai thức dậy, ta đã cảm nhận được bàn tay mẹ hiền ôm ấp đêm qua, giờ đây lại chuẩn bị nắm cơm buổi sáng trước lúc ta đến trường. Khi ta vào lớp, bàn tay mẹ lại tần tảo nắng mưa ngoài nương rẫy lo cho ta buổi cơm thường nhật, từng manh áo ấm trong những tiết trời lập đông. Cứ thế, tình mẫu tử luôn hiện hữu, cứ mãi che chở, mơn trớn, vỗ về, yêu thương, trìu mến trên mỗi nẻo đường con đến lớp.

Tình mẹ tràn đầy như mặt nước hồ thu buổi sớm mà vẫn chân chất, mộc mạc, gần gũi tinh tươm tựa trang giấy học trò. Có lẽ khi con người còn chưa biết mặt chữ thì tình mẫu tử đã thể hiện đủ đầy, lung linh như ánh trăng rằm trong những câu ca dân gian xưa. Nay trên tất cả các phương tiện trao đổi thông tin, nghệ thuật, hình ảnh người mẹ lại càng được tôn vinh hơn nhưng chắc vẫn chưa bao giờ đủ để nói lên sự hy sinh và tình yêu người mẹ dành cho ta.

Từ tấm bé, khi biết cảm nhận cuộc đời, tình mẹ luôn dần lớn lên bên con theo năm tháng…

“ Ầu ơ … ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi, Khó đi mẹ dắt con đi…”

Câu hát ru con bất ngờ của nhà ai hàng xóm trong đêm sâu quạnh quẽ của miền quê có lẽ cũng đủ đưa ta theo nguồn yêu thương của tình mẹ bao la! Tình mẹ thể hiện mọi nơi trên trái đất này với bất kỳ không gian nào. Một sớm mai trong bài giảng của Thầy ở lớp, vẫn còn nhớ như in câu hò đầm ấm, du dương mà mênh mông tình mẫu tử:

“Hò ơ! Mẹ già như chuối chín cây, Gió lay mẹ rụng… gió lay mẹ rụng … con phải mồ côi!”

Buổi chiều về, đem cảm xúc này thổ lộ với Ba, con lại nghe Ba sụt sùi tiếc thương đã một lần lầm lỡ khi vô tình để mẹ buồn lúc tuổi thời cắp sách. Ba rất sợ mồ côi chăng? Có lẽ thế! Mồ côi với tình yêu thiêng liêng bất tận! mồ côi bàn tay chăm bẵm tự buổi sơ sinh! Mồ côi sự chở che từ tấm bé! Mồ côi ngay cả lúc đã là người lớn như Ba! Mồ côi sự nuông chiều trong thời thơ dại! Mồ côi cả trong buổi xế chiều!… Ba chỉ ngậm ngùi đọc câu ca dao xưa cũ:

 “Công cha như núi Thái sơn.
 Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Ta chợt rùng mình sợ hãi thật sự nếu trên đời này, ta hay bất kỳ ai lỡ thiếu vắng đi một tình yêu thương của mẹ hiền!

Một đêm sốt xoàng thôi ta đủ biết mẹ chẳng bao giờ yên giấc, bàn tay mẹ nhẹ nhàng sờ trán thăm khám nhiệt độ, đắp chăn, tất tả lo thuốc men, rồi mẹ nấu lá xông mà khi nhỏ ta cứ ngỡ nồi lá xông là thuốc thần để con hết bệnh!

“Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

Cơn sốt của con đã là cơn lửa đốt lòng mẹ! Cơn ho của con chắc đã làm khuôn mặt mẹ thêm hằn những vết chân chim!

Hình ảnh người mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, chở che! Cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? Khi lỡ ngã đau, ai lên tiếng xít xoa? Cảm nhận được nổi đau lúc này là ai ngoài mẹ? Ai mừng vui nhất khi ta cất tiếng nói bi bô? Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt dõi theo đầy lo lắng của mẹ hiền! Và có ai tả được ánh mắt mừng vui của mẹ mỗi khi ta được điểm mười ?

Giờ đây, khi ngồi trên ghế nhà trường với những trang sách mới thơm tho như còn phảng phất mùi hương lúa mới đồng quê và những giọt mồ hôi tảo tần của mẹ, với bộ trang phục màu xanh hôm nay đây chắc không thiếu đi niềm hy vọng cho con nên người tự miền quê xa lắc! Khi phố lên đèn ta chắc mẹ mới rời công việc đồng áng, thoăn thoắt bước chân về nhà dưới làn sương đêm mà mẹ chưa một lần ta thán!

Còn nhớ như in những lúc học bài khuya, mẹ vẫn thức cùng con và ngồi bên may vá, khâu lại từng chiếc khuy, đắp bạ từng mãnh vai áo đã sờn. Ngồi bên con, chắc mẹ sợ con thức khuya không đủ sức mai dậy sớm đến trường, mẹ lại tất tả lo cho con từng ly nước cam ngọt lịm tình yêu thương. Đến khi con chim nhạn lạc bầy kêu sương đâu đó giữa không gian miên mang của đêm miền quê xứ Quảng, con lại lo rằng để mẹ cùng thức quá khuya làm sao ngày mai mẹ tiếp tục ra đồng dưới nắng?

Cũng đã có nhiều lần phạm lỗi, sau cái nhìn nghiêm khắc của mẹ, ta vẫn nhận được sự vỗ về bằng những lời khuyên mộc mạc, chân tình nhưng lắng sâu nỗi bao dung. Mỗi lần như vậy, con như lớn thêm lên, cứng cáp hơn lên và tự hứa với lòng sẽ không bao giờ phạm lỗi. Ta có biết đâu tuổi thơ vẫn cứ êm đềm trôi đi trong lúc lưng mẹ ngày thêm còng xuống theo dấu ấn nghiệt ngã của tháng năm, lỗi lầm xưa con e rằng chưa có dịp nào chuộc lại, tóc mẹ lại trắng thêm khi ta chưa kịp nên người!

Ngày tựu trường phổ thông trung học chuyên, hai mẹ con rụt rè trên phố như không khí “ngày tựu trường đầu tiên” của Thanh Tịnh. Trong trang phục của quê nghèo lạ lẩm tại góc phố phồn hoa nhưng con vẫn cảm nhận được sự rắn rỏi, cứng cáp của mẹ để con vững tin mà tiếp xúc môi trường mới mẻ. Có ai đó thì thầm xót xa, ái ngại nhưng có gì đâu? Người ta có thể có nhiều thứ hơn nhưng con vẫn tin rằng con đã có một gia sản quí nhất trên đời chưa chắc ai sánh kịp đó là tình mẹ của con!

Hôm nay trên chiếc xe đạp mẹ mua cho con vẫn còn thơm mùi sơn mới, con đến trường trong niềm hân hoan như đang trong vòng tay mẹ, con đã tiếp cận môi trường mới, thầy cô mới, bạn bè mới trong veo tuổi thơ học trò, con chắc vẫn không bao giờ thiếu sự lo lắng, nhớ thương của người mẹ hiền tần tảo.

Cuộc đời mẹ là cả một đời mãi hy sinh cho con, tình yêu của mẹ dành cho con mênh mông như trời biển vẫn như câu ca dao xưa đó thôi: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, và nước trong nguồn vẫn luôn chảy mãi như để tình mẹ luôn tồn tại vĩnh hằng!

Giờ đây, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tưởng như báo đáp công ơn trời biển của mẹ bằng cả sự quyết tâm học hành của con! Con hứa với mẹ con sẽ giữ mãi màu xanh đồng phục của con bên cạnh bạn bè con, của trường con luôn trong sáng như niềm tự hào của chính con, như niềm hy vọng ngọt ngào vô tư của mẹ hiền dành cho con.

Mẹ ơi! Tình mẹ thật bao la! Con chỉ là đứa bé thích luôn được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân con nên người, góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.

Tác giả : Cô học trò nhỏ, con gái của độc giả Trần Thị Sương, đang học lớp 10 chuyên Hóa Trường THPT chuyên Lê Quí Đôn (Đà Nẵng)

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Anh Còn Nợ Em: Cố Thi Sỹ Phạm Thành Tài & Nhạc Sỹ Anh Bằng

“Anh còn nợ em” là một trong những sáng tác cuối cùng của nhạc sỹ Anh Bằng. Bản này lần đầu tiên được giới thiệu ở hải ngoại vài năm trước và đã tạo ra một tiếng vang lớn. Sau đó hầu hết các ca sỹ theo đuổi dòng nhạc xưa đều ít nhất một lần thử giọng và giới thiệu “Anh còn nợ em” đến với rộng rãi công chúng yêu nhạc. Thế nhưng không phải người yêu nhạc nào cũng biết đằng sau giai điệu mượt mà là một bài thơ rất mộc mạc và giàu cảm xúc của cố thi sỹ Phạm Thành Tài, một nhà thơ xứ Trầm Hương (Khánh Hòa – Phú Yên). DongNhacXua.com xin mạn phép đăng lại bài viết của nhà thơ Mai Quang để quý vị xa gần có thêm tư liệu.

"Anh còn nợ em" với thủ bút của nhạc sỹ Anh Bằng tặng cho bà quả phụ Phạm Thành Tài.
“Anh còn nợ em” với thủ bút của nhạc sỹ Anh Bằng tặng cho bà quả phụ Phạm Thành Tài.
Bài thơ "Anh còn nợ em"
Bài thơ “Anh còn nợ em”. Nguồn: CoThomMagazine
Núi Nhạn (thành phố Tuy Hòa), địa danh đã xuất hiện trong bài thơ "Anh còn nợ em".
Núi Nhạn (thành phố Tuy Hòa), địa danh đã xuất hiện trong bài thơ “Anh còn nợ em”.

ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ QUÁ CỐ PHẠM THÀNH TÀI & TẬP THƠ ‘TÌNH EM CÒN ĐÓ’
(Nguồn: thi sỹ Mai Quang đăng trên TranThiNguyetMai.wordpress.com)

Phạm Thành Tài (1932-1997), quê hương ông, Quận Ninh Hòa thuộc miền Trung Việt, thùy dương cát trắng, xứ Trầm Hương (tỉnh Khánh Hòa). Ông từng là giảng sư đại học tại Đalat. Định cư tại Hoa kỳ 1991. Tốt nghiệp Bác sĩ Đông y/Hoa kỳ OMD 1995.
Làm thơ viết văn từ 1955.
Ngoài các tác phẩm Y học, về Văn học, ông đã để lại 3 tác phẩm: Tình Yêu Em Còn Đó (Thơ); Hương Gây Mùi Nhớ (Thơ); Hoa Đào Năm Ngoái (Tập truyện).
Ông mất tại Nam California ngày 06 tháng 7 năm 1997.

Tình Yêu Em Còn Đó. Tập Thơ. Nhà XB TH. Sông Bé 1990 in 1000 cuốn khổ 12×19. Bìa họa sĩ Đằng Giao. Tựa nhà văn Sơn Nam.
Tình Yêu Em Còn Đó. Tập Thơ. Nhà XB TH. Sông Bé 1990 in 1000 cuốn khổ 12×19. Bìa họa sĩ Đằng Giao. Tựa nhà văn Sơn Nam.

Như tác giả minh định ở trang trong thi tập, đây là: Tập Thơ Tình.
Tình yêu đôi lứa. Tình yêu quê hương. Rải rác có những bài thơ, cảnh vật bên ngoài được phóng rọi (hay qui chiếu?) cảnh lứa đôi (nhân cách hóa) quấn quít dĩ định bên nhau. Ở đó là dòng sông khuya, là cung thuyền, là tiếng khua của nhịp chèo. Là biển, sóng, cánh buồm. Là linh khí Đất Trời – Núi Sông nuôi lớn Giọt Tình.

Người viết đang có trên tay tập Tình Em Còn Đó (một trong hai ấn bản hiếm hoi do gia đình còn lưu giữ, quí tặng). Nhân đây cũng xin phép được gởi lời cám ơn bà quả phụ Phạm Thành Tài (nhũ danh Lê Bảo Chánh) và bà Thúy Liễu (em họ của nhà thơ), đã giúp cho người viết có được một số tư liệu liên quan. Đọc thơ Ông, có vài cảm nhận, nhận xét sau:

-Thi Tập tập trung những bài thơ cực ngắn, 4 câu là đa phần. Mỗi câu cũng thường cũng cực ngắn, 4 chữ, 5 chữ:

Biển giận ai, sóng dữ
Sóng hờn ai, nước đầy
Gió về ru mộng cũ
Chiều nay em ngủ say
.
(Giận Hờn/T.E.C.Đ tr.13)

Và v.v…

Đa số bài thơ trong tập ngắn gọn và cô đọng như vậy.
Người viết có cảm giác, ông rất sở trường về lối thơ dùng ít câu, ít chữ để chuyên chở cảm hứng của mình. Từng cái dấu phẩy (,) dấu chấm (.) ( như những ký âm lặng)… đều đóng một vai trò trong diễn dạt, biểu cảm. Ông rất khéo gói chữ, nêm ý, neo vần một cách tự nhiên (không đẽo gọt). Đó là những câu, những chữ, những dấu đã được cô, chắt tinh tuyền. Bút pháp này gợi lên sự liên tưởng đến nội lực, nội tâm, phong thái và cá tánh của tác giả lúc sinh thời.

– Thể hiện tự nhiên và tài tình trong tổng hợp những mặt chừng như là mâu thuẫn nhau:

.Phóng túng/Chừng mực (hòa lẫn):

Hai đứa bên nhau trong rừng vắng
Gió lá rì rào vây quanh…
Anh nhặt giùm em bên suối vắng
Những sợi thông vàng vương tóc xanh…

Em ơi, cho dẫu tình cách mặt
Chớ có trông hình để bóng xa

Giữa thư yêu, anh tặng em kỷ vật
Một sợi thông vàng vương tóc xanh!…

(Kỷ Vật/T.E.C.Đ.tr.75)

.Cổ kính/ Cách tân (dung hợp):

Mai bỏ anh em về. Sao
Hoa thôi nở. Và áo nữa
Thôi bay. Nắng thôi đỏ… Lửa
Tàn thôi cháy bước xôn xao.

(Em Bỏ Anh/T.E.C.Đ. tr.55)

Vẫn một mình một mình thôi. Em chỉ
Một cánh hoa cô đơn. Một cánh chim
Lìa tổ. Một con đường trăng soi. Bóng lẻ
Một mình mình thôi. Anh hiểu em…

(Anh Hiểu/T.E.C.Đ tr.57)

.Thực/ Ảo (đan xen):

Ngang vườn chợt vắng áo em phơi
Nhớ xao xác lá ngóng mây trời
Mong như dây thép trơ ngoài nắng
Chim sẻ giăng chờ chẳng muốn bay…

(Áo Trắng/T.E.C.Đ. tr.50)

Hoặc:

Em về rồi anh đợi
Hẳn em đâu quên chờ
Xin tóc em một sợi
Thay mây trời, se tơ…

(Xin Em Sợi Tóc//T.E.C.Đ.tr.42)

Và v.v…

-Tuyệt đại đa số những bài thơ trong thi tập, đều có 2 từ “anh” và “em” (Nam và Nữ):

Chiều nay mây mơ mộng
Trôi về phía biển xa
Ước gì anh là sóng
Soi em mấy biển xa…

(Mây/T.E.C.Đ. trang 12)

Còn nhiều, nhiều nữa như vậy!

-Tình Yêu đôi lứa, hình như đâu dâu cũng thấm đẫm và sung mãn trong thơ ông. Ông đã phóng chiếu Tình Yêu ra vạn vật, ra ngoại cảnh, nhân cách hóa như đôi Nam –Nữ đang âu yếm, quấn quít nhau (một ràng buộc dĩ định?) Ví dụ đơn cử ở đây, cảnh Tháp Bà (Ponagar), soi bóng trên dòng Sông Cái, có Cầu Bóng nối qua đôi bờ. Đó là nơi có lẽ đã bao lần ông qua lại, trên quê hương “thùy dương cát trắng” thân thương của mình:

Anh là Tháp, anh nhìn em ngủ
Em là sông, em nằm gối chân anh
Gió Tháp, sông trôi đôi bờ thủ thỉ
Em là Sông Cái, anh Tháp Chàm…

Cầu Bóng đón em- Cánh tay anh đó
Sóng eo thon- vòng nối dôi bờ
Kìa nụ hôn anh hay mặt trời chói đỏ
Nụ hôn thật dài trên dòng chảy như mơ…

(Phát Cảnh/T.E.C.Đ. tr.96).

Phần Kết:

Trích lời Tựa của nhà văn Sơn Nam, mượn làm phần kết:

Người khó tánh có thể yên tâm: Tình yêu lứa đôi trong “Tình Em Còn Đó” đã chan hòa hữu cơ trong tình đất nước, quê hương. Phải chăng đó là tâm sự lớn của một nhà thơ đầy sinh lực….”

Người viết mong được bạn đọc lưu tâm, đón nhận phần Giới thiệu này. Thơ Phạm Thành Tài sẽ góp vài nét đan thanh vào nền thi ca Việt chăng? Mong thay!

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Nhạc sĩ Vinh Sử: ‘Bao nhiêu bản nhạc, bấy nhiêu nhân tình!’

Trong những ngày cuối năm 2015 và đầu năm 2016, được biết sức khỏe của nhạc sỹ Vinh Sử không tốt, DongNhacXua.com xin thay mặt anh chị em nghệ sỹ và người yêu nhạc gởi đến ông lời chúc sức khỏe và mong ông bớt phải gánh chịu đớn đau do căn bệnh ung thư quái ác hành hạ.

nhan-co-cho-em--0--vinh-su--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com nhan-co-cho-em--1--vinh-su--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com nhan-co-cho-em--2--vinh-su--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

NHẠC SỸ VINH SỬ: ‘BAO NHIÊU BẢN NHẠC, BẤY NHIÊU NHÂN TÌNH’
(Nguồn: tác giả Thúy An – Dân Việt viết trên MotTheGioi.vn ngày 2016-01-06)

“Nhưng tôi không cặp với nhiều người cùng lúc. Hết yêu người này tôi mới đến với người kia”.
Có lẽ vì bản tính ông đào hoa, cũng có lẽ vì trái tim nghệ sĩ trong ông dễ rung cảm trước nhiều bóng hồng nên những người phụ nữ đã cùng ông nên duyên cũng lặng lẽ rời xa. Nhạc của ông vì thế buồn càng chất chứa, sầu càng đong đầy.

Ở tuổi xế chiều và bị ung thư, nhạc sĩ Vinh Sử sống một mình trong căn nhà hơn 10m2. Ảnh: MotTheGioi.vn
Ở tuổi xế chiều và bị ung thư, nhạc sĩ Vinh Sử sống một mình trong căn nhà hơn 10m2. Ảnh: MotTheGioi.vn

Nhân dịp được vinh danh trong chương trình Sol Vàng vào ngày 9.1 tới trên VTV9, nhạc sĩ Vinh Sử đã phân trần về thói trăng hoa với bốn bà vợ và những câu chuyện về cuộc sống lúc thăng, lúc trầm của mình.

Vinh Sử thời trẻ. Ảnh: MotTheGioi.vn
Vinh Sử thời trẻ. Ảnh: MotTheGioi.vn

Vì mê nhạc nên đời lênh đênh

Với danh xưng “vua nhạc sến”, nhạc sĩ Vinh Sử không chỉ mang nhạc bolero đi sâu vào lòng công chúng mà ông còn là bậc thầy trong việc tạo nên tên tuổi hàng loạt ca sĩ hàng đầu làng nhạc Việt. Bí quyết của ông là gì?

Tôi không có bí quyết gì đặc biệt. Dòng nhạc này vốn đã trữ tình, ngọt ngào nên dễ đi vào lòng người, đặc biệt là giới bình dân. Đỉnh cao của dòng nhạc này tại Việt Nam là vào những năm 1960 – 1970, với rất nhiều ca khúc được thu âm và phổ biến dưới dạng băng cassette cũng như đĩa nhựa như Nhẫn cỏ cho em, Nỗi buồn hoa phượng…
Đầu thế kỉ 21, dòng nhạc này hồi sinh khi hàng loạt các ca sĩ hải ngoại về nước. Bên cạnh đó, các sao trẻ như Đàm Vĩnh Hưng, Lệ Quyên cũng chọn bolero để hát, để ra album. Đây cũng chính là cơ hội khiến bolero phá cách khi có chất của pop, của nhạc sàn, nhạc điện tử… khiến kéo khán giả trẻ lại gần.

Theo ông, lý do gì khiến bolero sau nhiều năm lép vế trước nhạc Âu Mỹ, giờ đã trở lại mạnh mẽ trong đời sống âm nhạc hiện đại như một minh chứng cho sức sống mạnh mẽ của dòng nhạc bị cho là ủy mị này?

Bolero được yêu thích chủ yếu nhờ ca từ đơn giản và dân dã, giai điệu dễ nhớ, dễ bắt nhịp và dễ hát, và đặc biệt là sự đa dạng trong đề tài, phần lớn là những câu chuyện về tình yêu và cuộc sống, rất ý nghĩa nhưng cũng rất buồn.

Được mệnh danh là “vua nhạc sến”, âm nhạc Vinh Sử gắn bó với dòng nhạc quê hương mang tính đại chúng. Với hơn 60 năm sáng tác, tác phẩm của ông bây giờ là cả một “kho” đồ sộ với cả trăm bài đều là những bản nhạc thất tình. Vì như thế mà người ta càng tò mò về cuộc sống trước đây của ông…

Thời hoàng kim của tôi là những Nhẫn cỏ cho em, Gõ cửa trái tim, Người phu kéo mo cau… Đó là trước năm 1975, với tiền tác quyền từ các ca khúc này đủ để tôi tậu xe hơi, nhà lầu.
Thế nhưng, tuổi thơ tôi không trải hoa hồng. Cha mẹ là những người lao động bình dân, làm phu đồn điền cao su cho Pháp, lưu lạc vào miền Đông Nam Bộ trong thập niên 1940. Sau này gia đình tôi về Sài Gòn sống bằng nghề làm bún và tôi được sinh ra trong một xóm lao động nghèo.

Nhưng nghe nói, gia đình ông có thu nhập khá tốt khi chuyển sang làm bún?

Đúng rồi. Khi chuyển sang làm bún, ba tôi vì ham làm mà rất giàu, giàu nhất xóm nhưng ông lại rất tiết kiệm, bóp mồm bóp miệng, không dám ăn thứ mình thích, không dám mua cái mình muốn. Đến cả ra đường khát nước cũng không dám mua uống mà chịu khát chờ về nhà.
Tính ba cũng rất kỳ. Con cái mới 9, 10 tuổi đã cho đi học nghề để kiếm tiền. Nhà có 4 anh chị em nhưng chỉ có tôi được ăn học.
Thế nhưng cũng lạ, những người theo nghề ba giờ đều giàu, chỉ có tôi mê nhạc nên đời lênh đênh.

Gia đình không có ai theo nghệ thuật, mọi người lại đi làm kiếm tiền từ sớm, ông có thể kể về kỷ niệm khiến ông trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng?

Tôi là người rất ương ngạnh, không nghe lời ba mẹ, chỉ làm những gì mình thích. Dù được cho ăn học đàng hoàng nhưng 15 tuổi tôi lại bỏ học để theo đuổi sở thích sáng tác nhạc.
Đây cũng là khoảng thời gian tôi chịu nhiều ánh nhìn hoài nghi từ chính gia đình và mọi người xung quanh. Vì ba tôi mù chữ nên không ai tin tôi. Đến nỗi khi nổi tiếng rồi mọi người vẫn nghĩ tôi đi ăn cắp nhạc của người ta.

Con đường đến với âm nhạc của nhạc sĩ Vinh Sử nhiều gian nan. Ảnh: MotTheGioi.vn
Con đường đến với âm nhạc của nhạc sĩ Vinh Sử nhiều gian nan. Ảnh: MotTheGioi.vn

Bản nhạc đầu tiên bị ném vào sọt rác

Ông không theo học trường lớp về âm nhạc, làm thế nào để ông có thể sáng tác được?

Âm nhạc như có sẵn trong máu tôi từ kiếp trước rồi. Tôi không được học nhạc trước đấy nhưng sau khi quyết định đến với nhạc, tôi đi học và mua nhiều loại sách hướng dẫn cách sáng tác. Sau một năm, tôi bắt đầu sáng tác và tất cả các tác phẩm đều nói về sự chia ly, mất mát của tình yêu đôi lứa.
Để có những tác phẩm như mọi người biết, tôi đã trải qua nhiều chuyện mà nghĩ đến đã thấy xấu hổ. Sáng tác là một chuyện, được ra mắt hay không là chuyện khác.
Trước khi sáng tác, tôi từng trộm tiền của ba má để chơi bời với giới nghệ sĩ nổi tiếng thời đó, nhất là những người làm phát thanh ở Sài Gòn. Tôi còn to gan bán cả căn nhà ba má cho được khoảng 300 – 400 ngàn để ăn uống, chơi bời.
Đến khi hết tiền, tôi giấu người thân và đến xin sống với một người bạn đạp xíc lô trong một con hẻm nhỏ. Cuối cũng ba má cũng phát hiện ra và ông bà tức giận đến mức gọi công an tới bắt tôi.
Nhưng tôi vẫn không từ bỏ đam mê. Còn nhớ lúc đó, Chế Linh đã ghi lại cho tôi bài Yêu người chung vách. Tối đến tôi thường mang ra lề đường, nơi bán hàng quán nhiều và mở lớn tiếng, mọi người khen hay. Thấy vậy tôi mang đi bán cho một nhà phát hành nhạc ở đường Nguyễn Trung Trực nhưng người chủ chỉ kêu về đợi.
Vài ngày sau tôi trở lại thì thấy cuốn băng của mình trong sọt rác. Tôi đã không dám cúi xuống lượm vì xấu hổ mà phải dùng đôi dép đang đi, kẹp lại mang giấu.

Yêu người chung vách có thể coi là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông, ông đã làm cách nào trong khi nó đã bị ném trong sọt rác?

Tôi đã chịu nhiều tổn thương và bị coi thường, có lẽ đó cũng là thử thách vì may mắn là, không lâu sau đó, tôi gặp được trưởng ban văn nghệ Đài phát thanh Sài Gòn và bản nhạc đầu tay này của tôi được phát miễn phí suốt một tuần trên đài lúc đó.
Ngay lập tức, tôi nhận được rất nhiều hoa của khán giả gửi về và khen tặng. Cả người quăng bản nhạc của tôi vào sọt rác là ông Minh Phát cũng tìm đến và ra giá nhất quyết đòi mua lại để phát hành.
Vì từng bị lừa cả căn nhà nên tôi dè chừng mọi người hơn. Sợ người ta ăn gian kê thêm số đĩa của mình nên khi đi in băng tôi cứ lén lút để ý.

Vậy là từ đây, âm nhạc đã mang đến cho ông cả danh tiếng và tiền bạc?

Thời hoàng kim nhất của tôi là trước năm 1975. Số tiền tác quyền từ các ca khúc đủ để tôi tậu xe hơi, nhà lầu. Tôi cảm ơn trời vì đã cho tôi cứ chắp bút bài nào là nổi tiếng bài đó. Những bản nhạc sáng tác thời mới tập tành làm nhạc sĩ như Nhẫn cỏ cho em, Người phu kéo mo cau, Hai bàn tay trắng… cũng được mọi người đón nhận. Tôi bỗng trở nên nổi tiếng và được gọi là “vua nhạc sến”.
Nhưng, lúc đó tôi nghĩ, có tiền thì phải tiêu, phải ăn nhậu và tôi sa đà vào những cuộc ăn chơi, mỗi đêm chi cả chục lượng vàng ở những nhà hàng sang trọng bậc nhất Sài Gòn.

Bên cạnh những lời đồn ông tiêu tiền như nước, ông còn nổi tiếng là đào hoa vì yêu nhiều…

Tôi thích yêu người đẹp để khi thất tình dễ có cảm hứng sáng tác. Tôi không yêu người xấu. Tôi có bao nhiêu bài nhạc thì có bấy nhiêu người tình, cả viết cho vợ nữa. Nhưng tôi không cặp với nhiều người cùng lúc. Hết yêu người này tôi mới đến với người kia.
Tôi từng bị đồn một lúc ở với nhiều bà. Tôi có phải thần thánh đâu mà làm được vậy.

Ngoài âm nhạc và người tình, ông còn được nhắc đến nhiều vì có đến bốn bà vợ. Ông thấy mình là người may mắn?

Tôi có bốn bà vợ các con đủ trai gái nhưng ở tuổi xế chiều và đang bị ung thư đại tràng, tôi sống một mình trong căn nhà hơn 10m2. Thỉnh thoảng cô vợ thứ ba có tới thăm. Sau khi bỏ tôi, cô ấy lấy chồng khác nhưng chồng cô ấy mất rồi.
Không phải con cái không quan tâm mà do tôi thích ở một mình. Chúng gọi điện hỏi thăm hoài còn khiến tôi bực mình. Tôi cũng già rồi nên sống tay trắng như giờ cũng được, vì chết rồi đâu có mang được theo.

Nghe nói sức khỏe của ông có tiến triển hơn nhiều và ông cũng có nhiều bản nhạc muốn ra mắt?

Nói thế này cũng không sai, nhờ bệnh tật, sức khỏe yếu mà tôi ở nhà và viết được nhiều hơn. Hiện tôi có hơn 200 bản nhạc chưa ra mắt.
Tôi rất vui khi biết sắp tới chương trình Sol Vàng tới đây tặng riêng tôi một đêm nhạc mang tên Vinh Sử – Gõ cửa trái tim. Chương trình này ngoài những ca khúc quen thuộc, tôi cũng gửi đến khán giả một số sáng tác mới. Hi vọng danh ca Giao Linh, Ngọc Sơn, Chế Thanh, Đàm Vĩnh Hưng, Ngô Khả Tú, Tuấn Vỹ, Mai Quốc Huy… sẽ truyền tải hết được những tâm tình của tôi đến với khán giả.

Cảm ơn ông về những chia sẻ!

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Ơn Nghĩa Sinh Thành (Dương Thiệu Tước)

Nếu như ‘Lòng Mẹ” của Y Vân là bản nhạc hay nhất về tình mẹ thì có thể nói không ngoa rằng “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của Dương Thiệu Tước (1915 – 1995) là ca khúc hay nhất về tình mẫu tử. Trước một thực tế đáng buồn là tân nhạc Việt Nam càng ngày càng ít đi những sáng tác lay động về công ơn của bậc sinh thành, DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của cố nhạc sỹ Dương Thiệu Tước để các thế hệ sau tiếp tục giữ vững truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt.

Ơn Nghĩa Sinh Thành (Dương Thiệu Tước). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Ơn Nghĩa Sinh Thành (Dương Thiệu Tước). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

on-nghia-sinh-thanh--1--duong-thieu-tuoc--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com on-nghia-sinh-thanh--2--duong-thieu-tuoc--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

ĐÔI NÉT VỀ NHẠC SỸ DƯƠNG THIỆU TƯỚC
(Nguồn: wikipedia)

duong-thieu-tuoc--wikipedia--dongnhacxua.comDương Thiệu Tước (19151995) là một nhạc sĩ tiền chiến nổi tiếng và được coi là một trong những nhạc sĩ tiền phong của tân nhạc Việt Nam.

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915, quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định.

Thuở nhỏ ông học ở Hà Nội, trong thập niên 1930 ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh… Dương Thiệu Tước cũng là người có sáng kiến soạn nhạc “bài Tây theo điệu ta”, những nhạc phẩm đầu tay của ông thường được viết bằng tiếng Pháp. Mặc dù theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý: „Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền”.

Ông vào miền Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy lục huyền cầm/Tây Ban cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau ngày nước Việt Nam thống nhất năm 1975, nhạc của ông bị cấm đoán và ông cũng bị mất chỗ dạy học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại ĐứcHoa Kỳ.

Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Ông bà sống hạnh phúc trong 30 năm, có với nhau 5 người con là: Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh (ca sĩ hải ngoại), Vân Dung, Vân Hòa, Vân Khanh [1].

Sau năm 1975 do bệnh tật nên ông ở lại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978 bà Minh Trang cùng các con định cư ở nước ngoài.

Đầu thập niên 1980 ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh và được bà chăm lo cho tuổi về chiều.

Ông mất ngày 1 tháng 8 năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Gần đây, sau thời đổi mới, nhạc của ông đã được phép lưu hành lại trên cả nước Việt Nam.

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.