Nỗi Buồn Hoa Phượng (Thanh Sơn – Lê Dinh)

Trong dòng nhạc xưa về tuổi học trò, ca khúc để lại ấn tượng sâu đậm nhất có lẽ là bản “Nỗi buồn hoa phượng” của nhạc sỹ Thanh Sơn & Lê Dinh. Với giai điệu mượt mà và ca từ lãng mạn, “Nỗi buồn hoa phượng” đã làm lay động hàng triệu con tim tuổi hoa niên qua nhiều thế hệ. Hôm nay , nhân dịp một mùa hè sắp về, DongNhacXua.com trân trọng giới thiệu nhạc phẩm bất hủ này. 

Cũng xin mạn phép nói thêm, hầu hết chúng ta biết tác giả của bài nhạc này là nhạc sỹ Thanh Sơn. Tuy nhiên trong tờ nhạc xuất bản trước năm 1975, nhạc sỹ Thanh Sơn lại ghi thêm tên nhạc sỹ Lê Dinh vào phần tác giả. Chúng tôi không có đủ tư liệu để biết được nhạc sỹ Lê Dinh đã đóng góp như thế nào vào “nỗi buồn man mác” . Mong quý vị xa gần có cao kiến xin cung cấp thông tin cho DongNhacXua.com

Nỗi buồn hoa phượng (Thanh Sơn - Lê Dinh). Ảnh: HopAmViet.com
Nỗi buồn hoa phượng (Thanh Sơn – Lê Dinh). Ảnh: HopAmViet.com

noi-buon-hoa-phuong--1--thanh-son--hopamviet.com--dongnhacxua.com noi-buon-hoa-phuong--2--thanh-son--hopamviet.com--dongnhacxua.com noi-buon-hoa-phuong--3--thanh-son--hopamviet.com--dongnhacxua.com

NỖI BUỒN MANG TÊN “HOA PHƯỢNG”
(Nguồn: bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 30.06.2011)

“Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn. Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương. Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi, phút gần gũi nhau mất rồi, tạ từ là hết người ơi…”, những ca từ này đã trở nên quen thuộc với rất nhiều người.

Vâng, quen lắm! Bởi tiếng hát Thanh Tuyền đã song hành cùng với ca khúc Nỗi buồn hoa phượng suốt gần nửa thế kỷ. Đây là một trong rất nhiều ca khúc của nhạc sĩ Thanh Sơn viết về đề tài tuổi học trò. Nhạc sĩ đã từng tâm sự với người viết: “Thời niên thiếu, nhà tôi nghèo lại đông con nên tôi phải bỏ học giữa chừng để mưu sinh. Phải bỏ học, tôi tiếc lắm, cho nên quãng đời rất đẹp của tuổi học trò cứ lưu trong ký ức của tôi với những kỷ niệm xao xuyến. Tôi trang trải những kỷ niệm ấy vào ca khúc…”. Thế nên, ai cũng ngỡ rằng Nỗi buồn hoa phượng cũng chỉ là một ca khúc nằm trong mảng đề tài này và chẳng có gì đặc biệt…

Nhạc sĩ nhớ lại: Năm 1951, cậu học trò Lê Văn Thiện (tên thật của nhạc sĩ Thanh Sơn) học trường Trung học Hoàng Diệu (Sóc Trăng) đã “hết sức quan tâm” đến cô bạn cùng lớp. Cô ấy khá nhí nhảnh, dễ thương, có cái tên ngồ ngộ: Nguyễn Thị Hoa Phượng. Vì thế các thầy cô và bạn bè trong trường không bao giờ gọi tên cô “gọn lỏn” bằng một chữ “Phượng”, mà lúc nào cũng là “Hoa Phượng” một cách vừa thân thương vừa trân trọng. Hoa Phượng là con của một gia đình công chức từ Sài Gòn về làm việc tại Sóc Trăng.

Nhạc sĩ Thanh Sơn hồi tưởng: “Hai đứa học chung được hơn một năm (hai niên khóa), tình cảm đang dần trở nên thắm thiết thì bất ngờ mùa hè năm sau Hoa Phượng cho biết gia đình cô đã được điều chuyển về lại Sài Gòn. Trước ngày chia tay, Hoa Phượng có tìm gặp tôi nơi sân trường để nói lời từ biệt. Hai đứa buồn xo, chẳng nói gì nhiều, chỉ lặng nhìn nhau… Khi tôi hỏi xin địa chỉ để sau này liên lạc thì nàng cúi xuống nhặt một cánh phượng trao cho tôi, nói: “Em tên là Hoa Phượng, mỗi năm đến hè nhìn hoa phượng nở thì hãy nhớ đến em…”. Từ đó chúng tôi bặt tin nhau!

NS Thanh Sơn và vợ ông Lê Thị Hương lúc trẻ. Ảnh: ThanhNien.com.vn
NS Thanh Sơn và vợ ông Lê Thị Hương lúc trẻ. Ảnh: ThanhNien.com.vn

Ba năm sau (1955), Lê Văn Thiện phải bỏ học giữa chừng để chen chân vào cuộc mưu sinh. Anh quyết định lên Sài Gòn, trước là tìm kiếm việc làm, sau nữa nhen nhóm cơ hội tìm lại “người xưa”. Phiêu dạt giữa chốn phồn hoa đô hội, với không ít bầm dập, tủi hờn nhưng rồi nhờ tính tình hiền lành, siêng năng, anh thanh niên tên Thiện cũng may mắn lọt vô cánh cổng của một nhà trọc phú, dù chỉ làm gia nhân với mức lương khá hậu hĩnh so với thời giá lúc đó: 150 đồng/tháng. Mê nhạc, lại được lòng ông chủ cho nên anh được phép tranh thủ những giờ rảnh để theo học lớp nhạc của nhạc sĩ Lê Thương.

Dạo ấy, mỗi năm Đài phát thanh Sài Gòn đều có tổ chức cuộc thi “Tuyển lựa ca sĩ”, điều đó đã nhen nhóm vào lòng chàng trai “ở đợ” một khát vọng đổi đời. Năm 1959, Lê Văn Thiện “liều mạng” đăng ký dự thi tuyển lựa ca sĩ với nghệ danh Thanh Sơn qua bài hát “Chiều tàn” của Lam Phương. Đến bây giờ anh vẫn còn nhớ từng thành viên giám khảo, đó là những nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Võ Đức Thu, Nghiêm Phú Phi. Ngồi ghế chánh chủ khảo là nhạc sĩ Thẩm Oánh. Cái sự “liều mạng” đã được sao hộ mệnh chiếu mạng: thí sinh Thanh Sơn đoạt giải nhất! Phần thưởng là chiếc máy radio và cây đàn guitar. So với phần thưởng của các giải âm nhạc bây giờ thì quá “hẻo”, nhưng chừng đó cũng đủ đưa Thanh Sơn lên tận… núi xanh! Quan trọng hơn, giải thưởng này chính là đòn bẩy đưa anh vào thế giới ca nhạc. Anh từ giã “nghề” gia nhân để đến với “Ông hoàng Tango” (tức nhạc sĩ Hoàng Trọng). Chính xác là giờ đây ca sĩ Thanh Sơn đã được ban nhạc Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng mời về cộng tác. Không chỉ có thế, giọng hát của anh còn được nhiều nơi chào mời (bây giờ gọi là “chạy sô”)…

Thời gian này Thanh Sơn bắt đầu tập tành sáng tác. Ca khúc đầu tay của anh là bài Tình học sinh (1962), nhưng bài hát này chẳng tạo được chút dư âm. Thế rồi một buổi trưa đi ngang qua một ngôi trường đang mùa phượng nở, những kỷ niệm của thuở học trò có thấp thoáng bóng dáng của Nguyễn Thị Hoa Phượng ùa về… và ca khúc Nỗi buồn hoa phượng ra đời năm 1963. Nhạc sĩ tâm sự: “Tôi tìm thấy cảm xúc bởi sắc màu đỏ thắm của hoa phượng mỗi khi hè về. Bài hát này tôi viết về một cuộc tình học trò rất đẹp. Lời chia tay của cô bạn gái cùng trường đã khiến tôi xao xuyến, bâng khuâng. Màu hoa phượng như những giọt máu đỏ tươi minh chứng một cuộc tình chung thủy… Bài hát lập tức được chấp nhận và mọi người yêu thích, làm động lực cho tôi chuyên tâm vào sáng tác. Có thể nói đó là “thời hoàng kim” của tôi, bởi tiền tác quyền lúc đó tôi nhận khoảng 6.000 đồng mỗi tháng. Nó không chỉ giúp gia đình tôi vượt qua nghèo khó mà sau đó tôi còn mua được nhà, xe, cưới vợ… Nói một cách nào đó, “hoa phượng” là ân nhân của gia đình tôi”.

Khi Nỗi buồn hoa phượng được tiếng hát cao vút của nữ ca sĩ Thanh Tuyền tải lên sóng phát thanh, ngay lập tức nó tạo được hiệu ứng, đi đâu cũng nghe người ta hát… Từ đó, Thanh Sơn bỏ hẳn nghiệp ca hát để chuyên tâm sáng tác. Từ thành công của Nỗi buồn hoa phượng, có “đà” ông sáng tác một loạt ca khúc cũng lấy đề tài từ mảng tình cảm học trò: Ba tháng tạ từ, Lưu bút ngày xanh, Hạ buồn, Thương ca mùa hạ, …

Hà Đình Nguyên

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Diệt Phát Xít (Nguyễn Đình Thi)

Trong những ngày đầu tháng năm này (08-09/05/2015), thế giới đang kỷ niệm Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, cuộc chiến được cho là khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại.  Chiến Tranh Thế Giới II gắn liền với một chủ nghĩa Phát Xít cực đoan, phi nhân tính mà đứng đầu là nước Đức Quốc Xã.

Cùng với hàng tỷ con tim yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới DongNhacXua.com xin giới thiệu bản “Diệt Phát Xít” của cố nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi để qua đó thế hệ trẻ hình dung phần nào về lịch sử của dân tộc, qua đó có nhận định đúng hơn về giá trị của hòa bình, dân chủ và tự do.

Diệt Phát Xít (Nguyễn Đình Thi). Ảnh: BaiCaDiCungNamThang.net
Diệt Phát Xít (Nguyễn Đình Thi). Ảnh: BaiCaDiCungNamThang.net

CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ BÀI HÁT ‘DIỆT PHÁT XÍT’ CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI
(Nguồn: vov.vn)

Mỗi lần xa quê hương, xa đất nước mà nghe nhạc hiệu “Diệt phát xít” trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) thì lòng tôi cứ xốn xang, bồi hồi. Tôi đã đôi lần trải qua những thời khắc đáng nhớ ấy, nên càng yêu mến tiếng nói quê hương, tự hào về nó.

Trong thời gian công tác ở Đài TNVN, tôi được vài lần gặp gỡ với ông Nguyễn Đình Thi – Tác giả của bài hát “Diệt phát xít” khi đến trò chuyện với anh chị em biên tập văn nghệ. Vốn là người “nhà Đài” từ những ngày đầu mới thành lập, như lời Tổng biên tập Trần Lâm giới thiệu, nên buổi gặp gỡ nào cũng thân mật, chân tình. Có lẽ vì vậy mà ông đã trải lòng mình, kể nhiều chuyện vui buồn, những lo âu của nghề biên tập cũng như trên bước đường nghệ thuật của một nhà văn hóa lớn đầy tài hoa về văn, thơ, họa, nhạc, kịch…

Nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi (Ảnh: Văn Nghệ Quân Đội)
Nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi (Ảnh: Văn Nghệ Quân Đội)

Tôi đã hỏi ông về sự ra đời của bài hát “Diệt phát xít”. Nguyễn Đình Thi như nhớ lại rồi chậm rãi kể: “Khoảng năm 10 tuổi, bố tôi bắt tập đàn Nguyệt, dần dà đánh thạo được mấy bài Cổ Bản, Tứ Đại Cảnh, Lưu Thủy… Thấy hay hay, tôi học thêm đàn Mandolin và đánh được mấy bản nhạc Tây. Tôi học lý thuyết từ sách dạy nhạc của trường Tiểu hoc Pháp do bố mẹ mua. Tôi tự học nhạc bằng nghe nhiều hơn, có lẽ vì vậy mà tôi viết nhạc không nhiều.

Vào đầu năm 1945, đời sống của Hà Nội rất thê thảm. Cả nội ngoại thành người chết đói la liệt. Tôi chưa nhìn thấy cảnh đó bao giờ. Chúng tôi chưa đến nỗi chết, nhưng cũng đói vàng mắt, mềm người.

Hồi đó, tôi và một số anh em hoạt động trong hội Văn hóa Cứu Quốc nhận được chỉ thị của Trung ương về Nhật, Pháp bắn nhau. Chỉ thị đó như kêu gọi, như thúc giục. Truyền đơn của Việt Minh và các tờ báo như Cờ Giải Phóng, Cứu Quốc được truyền tay nhau đọc. Phong trào cướp kho thóc, phá nhà giam, cướp vũ khí của địch từ ngoại thành và các vùng phụ cận dội đến. Tin về khu giải phóng Việt Bắc, tin về quân đội Liên Xô đánh quân Phát xít ở châu Âu thua tơi bời, đang dồn vào tận hang địch.

Chúng tôi thấy rõ bọn Phát xít sắp bị tiêu diệt. Ở ta thì quân phiệt Nhật sắp ngã gục. Thời cơ nổi dậy của các dân tộc đang đến. Những cái tôi viết hồi bấy giờ là trong không khí như vậy. Hai chữ Phát xít hầu như ai cũng nghĩ đến, cũng nói đến. Anh Văn Cao, anh Đỗ Nhuận là hai bạn học và cùng hoạt động ở Hải Phòng, nay cùng tham gia viết và in báo Độc Lập.

Một hôm, chúng tôi bàn nhau mỗi người viết một bài hát cách mạng để đáp ứng yêu cầu của phong trào. Ít hôm sau, chúng tôi đã có ‘Tiến quân ca’ (Văn Cao), ‘Du kích ca’ (Đỗ Nhuận). Tôi nghe nói ở trong Nam, anh Lưu Hữu Phước vừa viết xong ‘Lên đàng’. Riêng tôi hơi vất vả mới hoàn thành xong ‘Diệt Phát xít’. Bài hát của tôi không in trên báo Độc Lập như hai bài của Văn Cao và Đỗ Nhuận, tôi chỉ chép tay mấy bản đưa đến mấy nơi tập cho các bạn trẻ.

Có lẽ do nội dung bài hát là lời kêu gọi khởi nghĩa, phù hợp với chương trình hành động của Việt Minh, nên được nhiều người hát trong các cuộc sinh hoạt. Giữa tháng 8, tôi đi Tân Trào để dự họp nên không được chứng kiến cuộc mít-tinh ngày 17. Anh em kể lại rằng, chiều hôm đó, không khí sôi sục của quần chúng tiến đến tổng khởi nghĩa, trong cuộc diễn thuyết ở Nhà hát Lớn, một lá cờ đỏ sao vàng rất to được buông từ trên nóc xuống.

Sau bài hát tập thể ‘Tiến quân ca’, một anh thanh niên bước ra trước máy phóng thanh hát luôn bài ‘Diệt Phát xít’. Nghe kể lại mà tôi vui quá, nước mắt cứ chạy vòng quanh. Sau cuộc mit-tinh, Hội khuyến nhạc ở Hà Nội in thêm nhiều bản, dàn nhạc Bảo An Binh (đã về theo cách mạng) hay diễn tấu ở những nơi đông người, dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên. Bài này cũng đã biểu diễn mở đầu cho Tuần Lễ Vàng ở Hà Nội. Cũng từ đó, tôi vinh dự được anh Trần Lâm lấy bản nhạc ‘Diệt Phát xít’ làm nhạc hiệu cho Đài TNVN…”.

Chất hành khúc kêu gọi của bài hát “Diệt Phát xít” đã thể hiện nét nhạc nhảy quãng 4 (sol đô) theo tiếng kèn đồng giục giã và nhấn mạnh: “Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than” (Si la sol la si sol la ). Trên cơ sở đó tác giả đã phát triển các đoạn nhạc rất khéo léo xen lẫn giữa trữ tình và bi tráng: “Đã đến ngày trả mối thù chung… Dưới bóng cờ đỏ ánh vàng sao”. Kể cả nét nhạc thúc bách mau mau hành động: “Đồng bào tuốt gươm vùng lên…Giành lại áo cơm tự do”.

Chủ đề âm nhạc mở đầu là “Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than”. Chủ đề này còn được nhắc lại ở đoạn kết “Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam! Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm. Việt Nam, Việt Nam muôn năm”.

Giữa những ngày tháng 9 lịch sử này, mỗi khi nghe bài hát “Diệt phát xít” càng nhớ một người con của Hà Nội, một sĩ quan quân đội nhân dân và là đồng nghiệp của chúng tôi, đó là nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi (1924 – 2003). 11 năm trước, ông đã bay về phía “Mặt trận trên cao”, về với tổ tiên và thế giới người hiền, nơi có nhiều “Tia nắng”…/.

Nhạc sĩ Dân Huyền

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Những Đóm Mắt Hỏa Châu (Hàn Châu)

Với lịch sử gắn liền với quá nhiều cuộc chiến như Việt Nam chúng ta, hẳn nhiên âm nhạc không thể nào không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Một trong những hình ảnh của thời binh đao đã đi vào âm nhạc là hình ảnh của những đóm hỏa châu.

Hỏa châu hiểu một cách đơn giản là một dạng pháo sáng, gắn một tấm vải dù bên trên. Khi được bắn lên bầu trời, hỏa châu sẽ bay lơ lửng để chiếu sáng vùng mặt đất bên dưới để giúp phát hiện đối phương đang tác chiến bên dưới.

Saigon 1967 - Hỏa châu trên thành phố, phía sân bay TSN. Phía dưới ảnh là Thương xá TAX.  Saigon 1967 - 4 flares hanging over the city. Photo by Bill Mullin.
Saigon 1967 – Hỏa châu trên thành phố, phía sân bay TSN. Phía dưới ảnh là Thương xá TAX.
Saigon 1967 – 4 flares hanging over the city. Photo by Bill Mullin.
Saigon 1967 - Tòa nhà cao bên trái là trụ sở USAID trên đường Lê Văn Duyệt  Saigon 1967 - 2 flares hanging over the city near my hotel. The tall building at the left is the USAID headquarters.
Saigon 1967 – Tòa nhà cao bên trái là trụ sở USAID trên đường Lê Văn Duyệt.
Saigon 1967 – 2 flares hanging over the city near my hotel. The tall building at the left is the USAID headquarters. Photo: Flickr

Trên tinh thần góp một phần nhỏ nhoi để bảo tồn dòng nhạc xưa, hôm nay DongNhacXua.com xin hân hạnh giới thiệu bản “Những đóm mắt hỏa châu” của nhạc sỹ Hàn Châu. 

Qua nét nhạc bolero dặt dìu, nhạc sỹ Hàn Châu đã lột tả tâm trạng đời thường chân thực của người lính chiến và qua đó làm đẹp hơn hình ảnh hỏa châu vốn gắn liền với sự đau thương của chiến tranh.

Những đóm mắt hỏa châu (Hàn Châu). Ảnh: HopAmViet.com
Những đóm mắt hỏa châu (Hàn Châu). Ảnh: HopAmViet.com

nhung-dom-mat-hoa-chau--1--han-chau--hopamviet.com--dongnhacxua.com nhung-dom-mat-hoa-chau--2--han-chau--hopamviet.com--dongnhacxua.com

nhung-dom-mat-hoa-chau--3--han-chau--hopamviet.com--dongnhacxua.com

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Một Mai Giã Từ Vũ Khí

Với tiêu chí phi chính trị, DongNhacXua.com không có ý định đào sâu thêm về cuộc chiến với quá nhiều đau thương mà dân tộc Việt Nam chúng ta đã trải qua trong hơn 20 năm 1954-1975. Tuy nhiên, trong những ngày tháng tư này, dù muốn dù không, những hình ảnh của một thời khói lửa vẫn tràn về, bằng cách này hay bằng cách khác, tùy vào góc nhìn của mỗi người.

Hôm nay, chúng tôi trân trọng giới thiệu bản “Một mai giã từ vũ khí” của nhạc sỹ Nhật Ngân, ký dưới nghệ danh Ngân Khánh, tên con gái ông. Theo đánh giá chủ quan của DongNhacXua.com thì đây là nhạc phẩm tiêu biểu nhất cho những sáng tác về một thời chinh chiến.

Bản nhạc gồm 3 đoạn mà ý chủ đạo là niềm mơ ước chấm dứt chiến tranh, hòa bình lặp lại và người lính sẽ từ bỏ vũ khí để trở về với cuộc sống thường ngày, với kỷ niệm tuổi thơ mà vì chiến tranh, đã bị cướp mất. Trong “Một mai giã từ vũ khí”, chúng ta không bắt gặp một từ ngữ nào về ý thức hệ, về “chiến thắng” mà chỉ là sự chờ đợi đến héo hon cho “một ngày chinh chiến tàn”.

Nhạc sỹ Nhật Ngân đã nói lên mong ước tưởng chừng như rất giản đơn của cả một thế hệ trai trẻ thời chiến: một ngày được “trả súng đạn này, thôi sạch nợ sông núi” để xây dựng lại quê hương qua những hình ảnh bình dị như “nương dâu”, “con trâu”, “chiếc cầu tre”, … 

Nghe kỹ lời nhạc, chúng ta không tìm thấy một chi tiết nào về “lòng thù hận” mà xuyên suốt là tính nhân văn của một người con dân tộc Việt, nhất là chi tiết “dìu em về thăm” những “người bạn đã ngàn năm yên nghỉ” để chúng ta hôm nay hãy biết quý trọng hòa bình và hãy biết yêu thương nhau. 

Một mai giã từ cũ khí (Nhật Ngân). Ảnh: VietStamp.net
Một mai giã từ vũ khí (Nhật Ngân). Ảnh: VietStamp.net

mot-mai-gia-tu-vu-khi--trinh-lam-ngan--1--dongnhacxua.com mot-mai-gia-tu-vu-khi--trinh-lam-ngan--2--dongnhacxua.com

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Khăn Quàng Thắp Sáng Bình Minh (Trịnh Công Sơn)

Trong quá trình đi tìm tư liệu cho dòng nhạc Trịnh Công Sơn nhân ngày giỗ 1/4 của ông, DongNhacXua.com vô tình được biết về một phiên bản khác của một bài hát đã gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ: “Khăn Quàng Thắp Sáng Bình Minh” của nhạc sỹ họ Trịnh. Bài hát này đã quen thuộc với chúng tôi những ngày còn cắp sách đến trường cho nên khi nghe phiên bản mới, chúng tôi thấy rất xa lạ.

Theo thiển ý của DongNhacXua.com , vài câu chữ của lời nhạc mới cũng không hẳn là dở. Thế nhưng việc tự  ý sửa lời nhạc Trịnh là một việc làm không nên, nếu không muốn nói là thiếu tôn trọng nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nói riêng và hàng triệu người yêu nhạc nói chung. Nhân dịp này chúng tôi mong người lớn chúng ta nên sống thật và “trả lại cho Trịnh những gì thuộc về Trịnh”!

PHIÊN BẢN GỐC
Ảnh: cainhaccho.net

Ảnh: cainhaccho.net

PHIÊN BẢN MỚI

Ảnh: music.edu.vn
Ảnh: music.edu.vn

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Nhớ Đến Một Người Để Nhớ Mọi Người

Hôm nay là đúng ngày mất của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn (28/02/1939 – 01/04/2001), DongNhacXua.com xin mạn phép thắp một nén nhang cho linh hồn ông an nghỉ miền cực lạc. Cũng nhân dịp này, chúng tôi xin gởi đến quý vị một tạp văn của tác giả Phùng Hi.

NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI ĐỂ NHỚ MỌI NGƯỜI
(Nguồn: tác giả Phùng Hi đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần ra ngày 27/03/2015)

Bây giờ viết điều gì về Trịnh Công Sơn đều rất dễ bị sáo bởi có quá nhiều người xưng tụng ông. Nhưng thôi thì cứ theo một câu ca của ông: “Nhớ đến một người để nhớ mọi người”(1), đó là những thanh niên xung phong tuổi từ mười sáu trở lên, sau năm 1975 đi trồng khoai, trồng bắp ở Nông trường Sơn Thành, Phú Yên. Hiện họ đã con đàn, cháu đống.

Những ông bà nội ngoại này hằng năm đến dịp ngày 1-4, ngày mất Trịnh nhạc sĩ, thay phiên nhau làm buổi lễ nho nhỏ tưởng niệm ông, sau là hát nhạc Trịnh, hát để nhớ một thời trai trẻ thiếu cơm thiếu áo nhưng yêu thì mãnh liệt chân tình. Họ chỉ hát mộc với guitar thùng, thú chơi “không đụng hàng” ai lúc này.

Tôi nhớ thời karaoke mới xuất hiện, khi ấy chưa có DVD, tôi đang dạy học ở Nông trường Sơn Thành, nhận sự ủy thác của nhóm thanh niên xung phong đến thị xã Tuy Hòa, nay là thành phố Tuy Hòa, thu chọn lọc hai băng Akai toàn nhạc Trịnh.

Tới quán karaoke, nhóm người mê Trịnh thủ sẵn băng nhạc bỏ vô máy hát cho thỏa ý. Tôi nhỏ tuổi hơn nhưng vì có công đi thu băng nên cuộc đi hát nào tôi cũng được ké, ké hát ké rượu. Điều thú vị, ngày mất nhạc sĩ tài hoa chỉ sống nhỉnh hơn một vòng hoa giáp (1939-2001) này là ngày giải phóng Phú Yên, ngày Cá tháng tư và cũng là ngày cho nghề câu cá ngừ đại dương của ngư dân Phú Yên.

Đại diện nhóm thanh niên xung phong là chị Hoàng Khôi (chồng tên Khôi, vợ tên Hoàng), lập bàn thờ giỗ Trịnh Công Sơn. Mấy tay đàn ông coi chuyện ấy là thứ đồng bóng nhưng chị Hoàng Khôi thành thật: “Anh Sơn là người tôi không thân thích, chưa hề gặp mặt, chỉ vì yêu nhạc của anh mà mỗi năm tôi làm giỗ để tưởng nhớ, cũng là cái cớ để mấy ổng tụ họp hát hò.

Không riêng gì tổ chức ở nhà tôi, nhà ông nào “đăng cai” là tôi tới, mang theo ảnh anh Sơn, lập bát hương và làm gà cúng”. Chị hát nhạc Trịnh cũng khá hay nhưng có tật giành ca dù không uống giọt rượu nào để đổ thừa do say.

Nhạc Trịnh dễ bắt chước hát theo, nhất là hát theo ca sĩ Khánh Ly, nên ai cũng hát được đôi bài dù không rành nhạc. Có lẽ vì giai điệu nhạc Trịnh luôn thuận theo âm tiếng Việt, với âm trắc nhạc cất lên cao, đến âm bằng chắc chắn hòa âm xuống thấp. Hãy thử một câu nhé: “Gọi nắng trên vai em gầy, đường xa áo bay” (Hạ trắng). Bạn đọc có thấy đúng vậy không.

Hạ trắng (Trịnh Công Sơn). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Hạ trắng (Trịnh Công Sơn). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Tuy nhiên nhạc Trịnh rất khó nhớ trọn một bài vì lời ca có phần siêu thực; cái đẹp, nỗi buồn được nâng lên tầm triết học và nhiều liên văn bản phía sau ca từ. Nếu vì không thuộc, không ai hát thì chị Hoàng Khôi hát, chị nhớ rất nhiều bài. Tôi nói chị “giành ca” là vậy. Một ông bạn nói mỉa: “Bả mê đến nỗi phải giỗ ổng thì thuộc nhiều bài là đúng rồi”.

Đó là nói chuyện trước đây chứ giờ vô mấy trang web nhạc chép lời, in thành tập, khỏi phải gồng đầu nhớ.

Năm nào nhà ai tổ chức hát nhạc Trịnh, sáng ra đều có người khen: “Khi hôm ai hát mà hay thế” chứ không bị chê như mấy dàn nhạc sống lưu động điếc tai xóm làng hiện nay. Hiếm có nhạc sĩ được người đời yêu mến làm giỗ hằng năm như Trịnh Công Sơn. Tôi không khỏi có ý nghĩ ghen tị với ông: “Ông Sơn, ông sống được nhiều người yêu, nhất là phụ nữ. Ông chết lại càng được nhiều người yêu mến ông hơn nữa”.

Một số anh em mê nhạc Trịnh ấy, chung “chiến hào khoai sắn” ngày xưa, nay đã già nhưng chắc vì chưa già lắm nên khó tính, hay xét nét và giận hờn. Đừng nghĩ người già không giận nhau, nhưng rồi nhờ nhạc mà làm hòa. Vâng, như một câu ca trong nhạc Trịnh “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” kia mà, giận lâu chi tổn thọ.       

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Trịnh Công Sơn – Nối Vòng Tay Lớn

Những ngày cuối tháng ba và đầu tháng tư, DongNhacXua.com bỗng nhớ về một người nhạc sỹ tài hoa mà những sáng tác của ông đã gắn liền với nhiều thăng trầm của đất nước trong hai thập niên 1960-1970 của thế kỷ trước. Chúng tôi xin mượn một bài tạp văn của nhà thơ Vĩnh Hảo để đưa người yêu nhạc đến một góc nhìn nhân văn hơn về bản nhạc gây nhiều tranh cãi “Nối vòng tay lớn” mà khi ấy chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn đã cất tiếng hát đúng ngày 30/04/1975.

TRỊNH CÔNG SƠN – NỐI VÒNG TAY LỚN
(Nguồn: tạp ghi của nhà thơ Vĩnh Hảo đăng trên vinhhao.info)

Trịnh Công Sơn. Ảnh: vinhhao.info
Trịnh Công Sơn. Ảnh: vinhhao.info

(Khuya 28/4/2002, vài cảm nghĩ trước ngày 30/4)

Khi Trịnh Công Sơn nằm xuống, người Việt khắp nơi xôn xao, từ trong nước đến hải ngoại. Bao nhiêu nhật báo, tuần báo, nguyệt san, tạp chí, tuyển tập đều đua nhau viết về ông, tiếc thương một nghệ sĩ tài danh, dành cho ông niềm ưu ái vô cùng đặc biệt. Nhưng cũng có một số người chống đối, chỉ trích ông, kết án ông, vì ông đã lên Ðài Phát thanh Sài-gòn, hát bản “Nối Vòng Tay Lớn” lúc quân đội cộng sản tiến vào Sài-gòn, miền Nam Việt-nam, ngày 30/4/1975.

Riêng tôi, nghe tin ông mất, đã buồn nhiều ngày. Tôi muốn viết một đoản văn hay một bài thơ nào đó về ông mà không viết được. Tôi sợ là không nói được hết những gì tôi cảm về ông. Rừng thơ-nhạc của ông mênh mông quá, nói ít thì không hết ý, nói nhiều thì lệch lạc thừa thãi. Vì vậy mà im lặng, rồi nghe, rồi đọc những người khác viết về Trịnh Công Sơn thay cho mình. Người ta viết về ông hay quá, cũng bởi cuộc đời và những đóng góp nghệ thuật của ông quá hay, nên không thể không viết hay được.

Ðối với tôi, bất cứ bản nhạc nào, lời ca nào, bài thơ nào, của Trịnh Công Sơn, đều có thể cho tôi hứng cảm để đọc, ngâm nga, ôm đàn ca, hát ư ử một mình, hoặc viết. Thơ nhạc của ông là niềm gợi cảm cho những cuộc tình thơ mộng, tha thiết; cho những cuộc sống đẹp đẽ, thi vị, thánh thiện. Lời thơ của ông không bình dân, xuề xòa đâu, vậy mà những ca khúc của ông đã bao trùm cả đất nước, gần gũi với bao thế hệ, không phân biệt Nam-Bắc, ý thức hệ, đảng phái. Không ai nghe và hát nhạc ông mà không yêu ông được. Chỉ bấy nhiêu thôi, đời ông đã quá đủ để đứng trên đài vinh quang tột đỉnh. Nhưng vinh quang, đối với một thiên tài như thế, thực ra cũng chẳng là gì cả. Nó chỉ là thứ trang sức hào nhoáng không làm tăng thêm giá trị nội tại của ông. Năm 1992, ông viết: “Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá… Tôi không muốn khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hãy thử sống cùng một lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại. Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường…” (Trịnh Công Sơn, Những Bài Ca Không Năm Tháng, nxb Âm Nhạc, 1995, trang 271).

Niềm tuyệt vọng của ông là gì? Người ta nghĩ một người thành công, nổi tiếng, được mọi người mến mộ thương yêu như ông… thì tuyệt vọng nỗi gì! Nghĩ vậy thì không hiểu ông chút nào. Ông không đơn giản như một người gắng sức tiến từ đáy vực lên đến đỉnh cao rồi bắt đầu hưởng thụ. Cuộc đời ông là một chuỗi tranh đấu không ngừng. Khi cuộc chiến giữa anh em hai miền chấm dứt, kẻ chiến thắng hưởng thụ bã vinh hoa, người chiến bại lao khổ trong trại tù; súng đạn im hơi, môi miệng khua múa… bao nhiêu năm mà chẳng mang lại hạnh phúc gì cho đại khối dân tộc, thì người nghệ sĩ như Trịnh Công Sơn, vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại sự thù hận, hèn kém, khổ đau. Cuộc đấu tranh ấy công khai trên mặt văn nghệ đại chúng, nhưng lại âm thầm ở ước vọng bên trong.

Do ước vọng không nguôi về một cuộc đời tốt đẹp tươi sáng hơn, mà ước vọng này lại có vẻ như chẳng bao giờ thành, Trịnh Công Sơn trở thành “tên tuyệt vọng” (chữ của Trịnh Công Sơn tự ví mình). Hơn 25 năm, chỉ có những tập đoàn thiểu số, hoặc thiểu số những cá nhân, những gia đình, nhờ sự thay đổi lớn của thời cuộc mà trở nên vinh quang, trên trường chính trị hay kinh tế, trên đường tiến thân hay vinh thân, trong nước và hải ngoại. Và cuộc đời vẫn như thế. Khổ đau. Nghèo đói. Băng hoại. Chờ đợi mỏi mòn. Tranh đấu mỏi mòn. Mà chẳng thấy thay đổi gì. Vì vậy mà tuyệt vọng. Chứ có phải đâu đã vinh quang rồi thì chấm hết. Trịnh Công Sơn tự gánh lấy sứ mệnh làm đẹp cuộc đời của anh từ lâu rồi. Cũng bài viết cuối tập nhạc ấy, anh viết: “Chúng ta đã đấu tranh. Ðang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người, chứ không để trở thành anh hùng hay làm người vĩ đại. Cõi nguồn từ khước tước hiệu đó.”

Nhưng tuyệt vọng như Trịnh Công Sơn không có nghĩa là buông xuôi. Ngược lại, tuyệt vọng đối với cuộc đời có nghĩa là anh tin cuộc đời vốn không thể khác đi. Cuộc đời sẽ trôi theo cái vận mệnh của nó. Có những điều bất toàn, không như ý. Có những điều mong muốn nhưng không bao giờ thành tựu. Tin chắc vào sự thể như thế, anh học được lòng bao dung, tha thứ. Và nhờ vậy, anh có thể tiếp tục yêu thương cuộc đời như anh đã từng.

“Tôi đã mỏi dần với lòng tin. Chỉ còn lại niềm tin sau cùng. Tin vào niềm tuyệt vọng. Có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác. Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.” (Trịnh Công Sơn, sách đã dẫn, trang 272)

Với một tâm hồn cao đẹp như thế, thực sự là chẳng cần một vòng hoa vinh quang nào. Anh không cần đứng trên chóp đỉnh cuộc đời, mà anh nằm trong lòng cuộc đời. 

Bao nhiêu chữ nghĩa, ngôn từ cũng không đủ cho tôi viết lời ca tụng xứng đáng dành cho anh. Chỉ xin, nhân ngày 30/4 sắp tới, nói một chút cảm nghĩ của mình về chuyện Trịnh Công Sơn lên Ðài Phát thanh Sài-gòn, ca bài Nối Vòng Tay Lớn.

Hãy nhớ lại bối cảnh Sài-gòn lúc ấy. Hỗn loạn. Cướp bóc. Mất niềm tin. Mất hướng đi. Căng thẳng. Sợ hãi. Tuyệt vọng. Buồn bã. Kéo dài trong nhiều ngày. Nhiều người có phương tiện, may mắn, đã tuôn chạy trước. Nhiều người phải di tản mấy lần, từ Huế vào Ðà Nẵng, từ Ðà Nẵng vào Nha Trang, từ Nha Trang vào Sài-gòn, để rồi cuối cùng, miền Nam cũng mất. Ai làm mất? Chính quyền? Quân đội? hay là dân? hay là vì mấy anh nghệ sĩ? Ðừng đổ lỗi cho riêng ai cả. Tất cả chúng ta, những người đã trưởng thành vào giai đoạn đó, đều có trách nhiệm đối với nỗi tang thương đau khổ của đất nước. Cho dù Trịnh Công Sơn không hát bài Nối Vòng Tay Lớn năm 1975 và không sáng tác bài đó vào cuối thập niên 1960, thì tình thế cũng chẳng thay đổi gì cả. Cả một bộ máy chính quyền từ trung đến cao cấp, cho đến hàng tướng lãnh, sĩ quan quân đội của mọi binh chủng… tan hàng chạy hết, bỏ lại nhân dân và những người nghệ sĩ tay không tấc sắt tự vệ như chúng tôi để đối phó với xe tăng và súng đạn. Chúng tôi sẽ làm gì? Một nửa trong số chúng tôi (người dân) không biết cộng sản là gì; một nửa khác thì biết, nhưng biết thì sao chứ? Làm được gì? Chỉ đứng sững ra mà nhìn, mà nghe thôi. Trong cái thời điểm mà chúng tôi hoang mang chẳng biết phải phản ứng thế nào trước một biến cố bất ngờ và kinh hoàng ấy, Trịnh Công Sơn đã cất lên tiếng hát của ông. Nối Vòng Tay Lớn. Lời ca ấy, vừa trấn an chúng tôi, những người bên phía thua trận, vừa nhắc nhở những người chiến thắng, rằng chúng ta là anh em cả, đừng sợ hãi nhau, đừng làm tổn hại nhau, mà hãy yêu thương nhau, nắm chặt tay nhau, nối vòng tay lớn của anh em hai miền. Dù miền Nam thắng hay miền Bắc thắng, Trịnh Công Sơn cũng sẽ lên Ðài phát thanh Sài-gòn hoặc Hà-nội để ca bài ca ấy. Tôi tin như vậy.

Cho dù bạn nói rằng Trịnh Công Sơn đã hát để đón rước chào mừng cách mạng hay Trịnh Công Sơn đã lầm về bản chất của những người bên kia chiến tuyến, vân vân và vân vân, tôi vẫn cứ tin rằng, Trịnh Công Sơn đã làm đúng thiên chức của một người nghệ sĩ đứng trên mọi phe phía. Vào cái thời điểm căng thẳng, ngột ngạt mà có lẽ chính bản thân bạn và chúng tôi cũng thế, run rẩy, dè dặt, rút vào bóng tối, thì Trịnh Công Sơn một mình, một cây đàn, đứng lên giữa bao họng súng ngờm ngờm tiến vào thủ đô miền Nam, cất tiếng hát chân thành tha thiết, nói lên ước vọng chung của người dân hai miền. Nên nhớ rằng lúc ấy người thắng trận chưa thành lập được chính phủ lâm thời, và Trịnh Công Sơn vốn bị chính quyền miền Bắc lên án là ủy mị chứ không phải là anh đã được công nhận đâu. Vậy mà anh đã dám lên Ðài Phát thanh hát. Không phải là lời hát chào mừng mà là lời kêu gọi của bao dung, tha thứ, yêu thương. Lời anh ca làm yên lòng người dân chúng tôi và làm chùng đi những tay súng. Bài ca của anh, không phải chỉ đẹp và ý nghĩa ở thời điểm ấy, mà còn đẹp suốt chiều dài ước vọng của người dân Việt-nam.

“Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la, anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối laị một vòng Việt-nam.

    Cờ nối gió đêm vui nối ngày
    Giòng máu nối con tim đồng loại
    Dựng tình người trong ngày mới
    Thành phố nối thôn xa vời vợi
    Người chết nối linh thiêng vào đời
    Và nụ cười nở trên môi…”

Mặc cho những lời chỉ trích, lên án của một thiểu số hờn dỗi câu chuyện 27 năm xưa, trong mắt tôi, trong tim tôi, Trịnh Công Sơn vẫn lừng lững một mình, đi con đường của anh, như một “tên tuyệt vọng” rất tuyệt vời, đóng góp rất nhiều mà coi như không. “Nhưng tôi biết rõ rằng tôi chỉ là một loài chim nhỏ hót chơi trên đầu những ngọn lau.” (TCS, sách đã dẫn, tr. 271)

Tuyệt vọng đi-về giữa cuộc đời băng hoại mà từng lời, từng chữ của anh vẫn thể hiện nguyên vẹn lòng bao dung, tha thứ. Cho dù bạn tiếp tục nguyền rủa anh, kết án anh thế này thế kia, thì anh cũng đã tha thứ bạn từ lâu rồi. Nhưng nhiều người khác, phần đông người khác, đều cảm ơn anh, mang ơn anh, không phải chỉ riêng bài Nối Vòng Tay Lớn của 27 năm trước, mà tất cả những bài ca của anh đã để lại cho đời. Tên tuyệt vọng ấy, chẳng xoay chuyển nổi thời cuộc, chỉ hót chơi trên đầu những ngọn lau thôi, mà đã cứu lấy nhiều người, và trong một ý nghĩa nào đó, đã cứu lấy cuộc đời cằn khô, khổ lụy.

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Mùa Xuân, Làng Lúa, Làng Hoa (Ngọc Khuê)

Tiếp nối dòng nhạc xuân, DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu một bài hát rất phổ biến thời “bao cấp”, những năm 1980: bản “Mùa xuân, làng lúa, làng hoa” của nhạc sỹ Ngọc Khuê, một nhạc sỹ sinh ra và lớn lên ở miền Bắc. Không gian chúng ta sống có thể khác nhau, chính kiến chúng ta có thể khác nhau nhưng cảm nhận về mùa Xuân thì ngàn đời vẫn vậy. Đó là thời khắc giao mùa, là lúc muôn hoa đua sắc, đất trời thay đổi để cho lòng mình cũng thay rộn rã giao hòa với cảnh vật và con người xung quanh!

Mùa xuân, làng lúa, làng hoa (Ngọc Khuê). Ảnh: NguoiDuaTin.vn
Mùa xuân, làng lúa, làng hoa (Ngọc Khuê). Ảnh: NguoiDuaTin.vn

NHẠC SỸ NGỌC KHUÊ: VỚI “MÙA XUÂN, LÀNG LÚA, LÀNG HOA”
(Nguồn: tác giả Nguyễn Thanh Bình đăng trên HaNoiMoi.com.vn ngày 17/01/2010)

(HNM) – Ở phía bắc Thủ đô, làng lúa giờ không còn và làng hoa bị thu hẹp nhưng mỗi khi Tết đến, ca khúc “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” của nhạc sỹ Ngọc Khuê lại vang lên, nó gợi lại những gì mượt mà, đẹp đẽ của một thời. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhạc sỹ Ngọc Khuê, tác giả của ca khúc này.

Nhạc sỹ Ngọc Khuê. Ảnh: LangLuaLangHoa.com
Nhạc sỹ Ngọc Khuê. Ảnh: LangLuaLangHoa.com

– Thưa nhạc sỹ Ngọc Khuê, nhiều người đã nghe ca khúc “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” của ông, nhưng vẫn biết rất ít về ông?

– Quả đúng như vậy. Dù trước và sau khi viết “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” tôi cũng đã sáng tác tới gần 300 bài hát, trong đó có ca khúc “Hạt nắng hạt mưa” từng đoạt giải thưởng… nhưng nhiều người khi cứ nhắc tới Ngọc Khuê là nhớ tới “Mùa xuân, làng lúa làng hoa”. Có người còn gọi tôi là “ông làng lúa làng hoa” nữa (cười). Tôi sinh năm 1947, là con thứ 5 trong một gia đình có 6 anh chị em ở Hoài Đức (nay là Hà Nội). 18 tuổi, tôi bắt đầu rời quê hương, gia đình để bước vào cuộc đời quân ngũ, sau đó trở thành một trong những người lính pháo cao xạ bảo vệ cầu Hàm Rồng. Rồi tới năm 1974 thì được chuyển về Đoàn Văn công Phòng không – Không quân, làm diễn viên hát. Rồi gắn bó với Quân chủng Phòng không – Không quân đến lúc nghỉ hưu.

– Ca khúc “Mùa xuân, làng lúa làng hoa” được ông viết trong hoàn cảnh nào?

– Như nhiều nhạc sỹ khác, từ lâu tôi muốn viết một ca khúc về Hà Nội, đặc biệt là về mùa xuân Hà Nội, nhưng viết mãi mà chưa thành. Tôi muốn ca khúc ấy sao cho nó là của riêng nhưng mọi người vẫn có thể thấy mình trong đó. Cho tới một chiều mùa đông năm 1981, khi đạp xe đi thăm người bạn ở gần hồ Tây, tôi mới phát hiện ra rằng hồ Tây không chỉ có hoa. Phía bên Xuân La, Xuân Đỉnh còn là “làng lúa”. Lâu nay người ta thường gọi đó là những cánh đồng lúa xanh mướt hay chín vàng. Nhưng tôi muốn ví đó là những “làng lúa”. Sự “phát hiện” đó cộng với hình ảnh những “làng hoa” ấp ủ viết bấy lâu đã giúp tôi bật ra câu hát: “Lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người/Bởi lúa yêu cuộc đời nên xanh thắm ruộng đồng…”. Câu hát đầu tiên ấy đã xuất hiện và nhờ đó, về nhà tôi đã viết xong bài hát.

– Ông có thể nói kỹ hơn?

– Cảm xúc của buổi chiều cuối năm 1981 ngay giữa thiên nhiên đó đã giúp tôi hoàn thành đoạn chính của bài hát trước. Đến khi về nhà tôi mới ngồi viết phần đầu và phần kết của bài hát. Tôi viết hai phần này thật khó khăn, nhất là đoạn mở đầu: “Bên lúa, anh bên lúa/Cánh đồng làng ven đê/Hồ Tây xanh mênh mông, trong tươi thắm nắng chiều/Làng em làng hoa, hoa thơm ngát bốn mùa…”. Tôi đã thử bằng nhiều cách khác nhau để bắt đầu bài hát, cuối cùng thấy hợp lý khi lấy âm hưởng của một điệu hò để thể hiện sự lấp lánh của mặt gương hồ Tây, sự dào dạt êm ả của sóng nước, sóng lúa. Đó là một sự giao duyên tình tứ rất mộc mạc nhưng lại vô cùng đằm thắm của những đôi trai gái mà tôi nghĩ rằng chỉ có những làng mạc lâu đời, trù phú mà thanh lịch ven hồ Tây Hà Nội mới có. Rồi đến đoạn kết của bài hát, vừa là cao trào của âm nhạc vừa là một tình cảm như đột ngột bừng dậy của tình yêu đôi lứa. Đến đây thì hồ Tây chỉ còn lại như cái cớ, như điểm tựa để nhường chỗ cho tình ca, cho tình yêu và hạnh phúc của con người. Với tôi, lúa và hoa như một biểu tượng đẹp đẽ nhất của cuộc sống. Làng lúa – làng hoa, cả mùa xuân nữa dường như mới chỉ bắt đầu.

– Nghe nói bài hát này còn “nhắm” tới một cô gái?

– Quãng những năm 1978 hay 1979 gì đó, tôi có quen một cô gái và thú thật cũng rất muốn viết ca khúc để tặng. Đôi khi chúng tôi chở nhau trên chiếc xe đạp lòng vòng trên những con đường ven Hồ Tây. Tôi nảy ra ý định “mượn” những làng hoa ven hồ để làm cái cớ. Định như vậy rồi nhưng khi viết thì vẫn thấy khó, thấy không ổn. Tôi đành “gác” kế hoạch viết bài hát ấy lại.

Hồi đó, chúng tôi thường hay đặt “bí danh” cho nhau bằng những con số. Cái tên của tôi được “dịch” sang con số 12, còn tên cô ấy là số 13. Nhưng tôi biết cái “ngưỡng” để dừng lại, vì lúc đó tôi là thượng úy, đồng thời là đội trưởng đội hát và tôi đã lập gia đình được 7 năm. Vì thế, giữa tôi và “13” chỉ là những tình cảm trong sáng. Đến bây giờ, “13” cũng đã chồng con đủ đầy, hiện làm ở một Đại sứ quán tại Hà Nội, thi thoảng chúng tôi vẫn thăm hỏi nhau và coi nhau như bạn bè thân thiết.

– Ban đầu ông đặt tên bài hát là gì? Và hẳn ông sẽ đề tặng người bạn gái đó?

– Lúc đầu tôi đặt tên cho bài hát là “Làng lúa, làng hoa” vì tôi nghĩ thế là đủ. Với lại tôi rất thích chữ “làng lúa”, “làng hoa” nên đã đặt luôn cho bài hát như vậy. Viết xong bài hát, tôi sướng lắm. Tôi nhớ khi ấy có hát cho “13” nghe, cô ấy vui lắm. Bên góc bản thảo, tôi cũng trân trọng đề dòng chữ: “Tặng bạn tôi: 13” kia mà.

– Lần đầu tiên bài hát chính thức xuất hiện trước công chúng là khi nào vậy, thưa ông?

– Đó là mùa xuân năm 1982. Lúc đó tôi mang tới Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Tôi vẫn nhớ thời điểm đó, truyền hình còn mới mẻ, nhà ai giàu thì mới có chiếc tivi đen trắng, mà thời lượng phát sóng còn hạn chế nên Đài Tiếng nói Việt Nam là nhất. Khi đó, nhạc sỹ Thế Song đang là biên tập viên chuyên mục ca nhạc của đài, nghe xong bài hát, ông khuyên tôi thêm 2 chữ “Mùa xuân” vào tên bài hát. Sau đó, ca sỹ Thanh Hoa là người đầu tiên thể hiện bài hát này. Đến bây giờ, bài hát còn gắn liền với nhiều ca sỹ khác như Trung Anh, Mỹ Lệ…

– Cám ơn nhạc sỹ về cuộc trò chuyện thú vị này! 

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Mùa Xuân Ơi (Nguyễn Ngọc Thiện)

Cùng với “Ngày Tết Quê Em” của nhạc sỹ Từ Huy, bản “Mùa Xuân Ơi” của Nguyễn Ngọc Thiện có thể nói là một sáng tác tiêu biểu cho dòng nhạc xuân sau 1975. Nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015, DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu ca khúc này.

Mùa xuân ơi (Nguyễn Ngọc Thiện). Ảnh: vietfun.com
Mùa xuân ơi (Nguyễn Ngọc Thiện). Ảnh: vietfun.com

CHUYỆN “TẾT TẾT TẾT” & “XUÂN XUÂN XUÂN”
(Nguồn: tác giả Kim Khánh viết trên nld.com.vn ngày 31/01/2014)

(NLĐO) – Cứ mỗi độ Xuân về, đi đến đâu chúng ta cũng nghe những giai điệu quen thuộc “Tết Tết Tết Tết đến rồi” của cố nhạc sĩ Từ Huy, “Xuân xuân ơi xuân đã về…” của nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện cùng nhiều ca khúc xuân bất hủ khác. Thế nhưng, không phải ai cũng biết rõ những ca khúc tuyệt vời báo hiệu năm mới này ra đời thế nào, câu chuyện của chúng ra sao…

Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện kể rằng bài Mùa xuân ơi được sáng tác năm 1995. Thật ra, trước đó, ông viết 2 ca khúc Xuân khác, trong đó bài Mùa xuân lộc mới được viết theo văn phong và phong cách miền Trung rất thịnh hành và “nổi” vào khoảng năm 1994. Nhưng năm đó, khoảng tối 28 Tết, khi đang làm biên tập phim cho hãng Phương Nam Phim, ông được một người bạn rất thân là nhạc sĩ Từ Huy rủ đi dạo đường phố tìm mua quà tặng cho bạn gái.

“Bọn tôi đi dọc đường Lê Thánh Tôn, Lê Lợi … thấy các shop bán hàng đều phát bài hát của bạn tôi, đó là bài Ngày Tết quê em – “Tết Tết Tết Tết đến rồi…” do Tam ca Áo trắng hát. Tôi thấy rất bất ngờ và thú vị vì băng cassette đó chúng tôi vừa làm xong và phát hành 1 tháng sau Noel, 28 Tết đã nghe rồi. Tôi biết là băng bán được và bài hát của bạn tôi thành công” – nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện nhớ lại.

Khi đó, bỗng nhiên trong lòng ông nảy lên khát khao cũng phải viết được một bài hát thật thành công. Đến năm 1995, ông viết bài Mùa xuân ơi. Nếu nhạc sĩ Từ Huy viết “Tết Tết Tết…” thì ông viết “Xuân xuân xuân…”. Ông không dám dùng chữ Tết, không thì bạn lại càu nhàu bảo “chú mày lấy ý tưởng của tao”. Ông viết xong Mùa xuân ơi, cũng gọi Tam ca Áo trắng đến thu nhưng chưa quay video vì chưa biết bài hát “có ăn” hay không.

Sau đó, khi ông gặp nhạc sĩ Từ Huy đề nghị dùng bài Ngày Tết quê em quay video Xuân 1995 thì nhạc sĩ này không đồng ý về vấn đề giá cả. Cuối cùng, giám đốc hãng quyết định quay video bài Mùa Xuân ơi để thế chỗ và cũng mời nhóm Tam ca Áo trắng thực hiện.

Bài hát rất thành công vì Tam ca Áo trắng diễn rất dễ thương, hát tốt. Những năm sau đó, người ta hát bài này rất nhiều, Tam ca Áo trắng được mời đi diễn ở đâu cũng hát bài đó. Còn bài Ngày Tết quê em, một thời gian sau ông mới thuyết phục được bạn dựng video.

“Tôi viết bài Mùa xuân ơi nhanh lắm, vì thật ra, năm đó tôi cũng không định viết vì bài Mùa xuân lộc mới vẫn đang rất thịnh hành. Tôi nhớ trước nữa có bài Hoa Xuân Ca của Trịnh Công Sơn cũng rất hay, sau đó đến bài Lời tỏ tình mùa Xuân của Thanh Tùng cũng rất nóng rồi mới đến bài của tôi. Ít có người nào hát đơn bài Mùa Xuân ơi mà thường nhiều người hát, vì nguyên bản tôi đã dựng ca khúc này để hát nhóm và do Tam ca Áo trắng thể hiện đầu tiên. Sau này, cũng có nhiều ca sĩ hát lại, tôi thích thú vì anh em sau này phối nhạc hay hơn thời trước. Những nhạc sĩ phối nhạc bây giờ giỏi vi tính và phần mềm, phối không thua gì Hàn Quốc” – nhạc sĩ Ngọc Thiện nói.

Nhạc sỹ Nguyễn Ngọc Thiện. Ảnh: nld.com.vn
Nhạc sỹ Nguyễn Ngọc Thiện. Ảnh: nld.com.vn

Nói về hoàn cảnh sáng tác nhạc xuân ngày đó, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện hồi tưởng: “Hồi nhỏ trong xóm lao động, cuộc sống của gia đình tôi rất tiết kiệm, ăn để cho no chứ không phải cho ngon, chỉ có Tết thì ăn ngon. Có những hình ảnh bây giờ bạn thấy bình thường nhưng thời đó bọn tôi thấy dưa hấu hay mứt là thích lắm, vì hồi xưa ngày Tết mới có những món đó”.

“Lúc nhỏ tôi rất mê Tết, khi lớn lên làm biên tập thì ca khúc Xuân thiếu thốn bộn bề vì thời đó chưa cho phép nhạc Xuân trước 1975 lưu hành, có những bài kháng chiến như Xuân chiến khu năm nào cũng dựng, sau đó may là cóHoa Xuân ca của Trịnh Công Sơn và Lời tỏ tình mùa Xuân. Tôi động viên mọi người cứ viết ca khúc dù không biết ca khúc có “đứng” được hay không vì một năm có một lần thôi”.

Theo nhạc sĩ Ngọc Thiện, đặc thù của mùa Tết Việt Nam là Tết đoàn tụ. Dù có đi đâu xa, đến ngày Tết tất cả đều trở về, dù nghèo, giàu hay bận rộn ở phương trời nào đó. Đó cũng là một cái tứ để anh em viết ca khúc. Ông thích viết về nhận thức đường phố thế nào, lòng người ra sao, có những người lúc nào cũng suy tư, bi ai nhưng đến ngày Tết tạm gác bỏ mọi thứ để tận hưởng niềm vui. Không riêng ông mà các nghệ sĩ viết nhạc Xuân ngày xưa đều viết về đề tài xã hội.

Ông thấy những ca khúc Xuân thành công là những ca khúc đi vào đề tài xã hội, còn chuyện tình yêu đôi khi chỉ là cái cớ thôi. Những nhạc sĩ thành công về nhạc Xuân như Lê Dinh hay Văn Phụng cũng viết về đề tài xã hội như trong ca khúc Xuân họp mặt – một bài hát ý nghĩa rất truyền thống của Tết Việt Nam.

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Văn Cao với ca khúc ‘Mùa Xuân Đầu Tiên’ (Văn Thao)

DongNhacXua.com đã có một bài viết về hai bản nhạc xuân đặc sắc có cùng tên ‘Mùa Xuân Đầu Tiên’ của Tuấn Khanh và Văn Cao, hai nhà nhạc sỹ ở hai bên chiến tuyến, sáng tác ở hai thời điểm khác nhau.  Hôm nay, nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015, chúng tôi xin gởi đến quý vị yêu nhạc xưa thêm vài chi tiết thú vị về nhạc phẩm “Mùa Xuân Đầu Tiên” của Văn Cao qua bài viết của Văn Thao, con trai của chính nhạc sỹ Văn Cao.

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao). Ảnh: http://baicadicungnamthang.net
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao). Ảnh: baicadicungnamthang.net

VĂN CAO VỚI CA KHÚC ‘MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN’
(Nguồn: tùy bút của Văn Thao đăng trên tapchisonghuong.com.vn ngày 03/07/2009)

VĂN THAO… Tôi tập tễnh bước một leo lên cầu thang ngôi nhà số 108 phố Yết Kiêu vào một ngày giáp tết năm 1976. Đã sang tiết xuân, trời nắng nhẹ mà vẫn lạnh. Tiếng đàn dương cầm vọng ra. Một điệu vans. Giai điệu của bản nhạc mượt mà, lấp lánh như những hạt nắng xao động trên vòm cây. Một giai điệu mà tôi chưa nghe bao giờ.

Nhạc sỹ Văn Cao.
Nhạc sỹ Văn Cao.

Văn Cao ngồi bên đàn. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím đàn ố vàng, loang lổ. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào, âm vang đầy ắp căn phòng. Tôi ngồi xuống đi văng, lặng nhìn đôi vai gầy guộc của ông phủ xuống cây đàn. Mái tóc bạc dài xõa phất phơ theo tiếng dương cầm thánh thót. Những vệt ánh sáng hắt qua ô cửa óng vàng chuyển động trên đôi bàn tay. Tiếng nhạc nhẹ dần, chậm chậm tan vào không gian, mênh mang. Đôi bàn tay gầy khẽ dâng lên khỏi bàn phím và bất động trong không trung. Lát sau, Văn Cao lặng lẽ đứng dậy, nhẹ nhàng rời khỏi cây đàn. Khuôn mặt ông bất động. Hình như tâm hồn ông vẫn còn bồng bềnh trôi theo những âm thanh của bản nhạc.

– Bố! Một chút ngơ ngác rồi sau đó ông mới nhận ra tôi.

– Thao đấy hả! Con về từ bao giờ đấy?

– Từ trên trung tâm chỉnh hình Ba Vì con đến thẳng đây.

– Vết thương của con thế nào? Đi chân giả có đau lắm không?

Tôi đứng dậy kéo ống quần lên cho ông nhìn thấy chiếc chân gỗ, rồi bình thản đi quanh phòng. Ông ngồi lặng nhìn theo tôi, đôi mắt ánh lên niềm vui. Từ trong khoé mắt, một giọt lệ lăn từ từ trên đôi gò má.

– Tốt! Tốt quá rồi!… Thôi ngồi xuống đi con.

Tôi ngồi xuống bên ông. Hai cha con nhìn nhau. Tôi định nói một điều gì đó mà không được. Cổ họng cứ tắc nghẹn. Mãi lúc sau mới thốt được nên lời:

– Lâu lắm con mới lại được nghe bố đánh đàn một cách say sưa như thế này. Giai điệu đẹp quá. Bài mới sáng tác của bố đấy à?

– Ừ! Bố sáng tác bài hát này mừng Mùa xuân đầu trên đất nước mình thống nhất.

– Vậy là bố lại sáng tác ca khúc?

Ông nhìn tôi giây lát. Hình như ông đã hiểu tôi định nói gì.

– Đúng thế.
Sau khi bài TIẾN VỀ HÀ NỘI ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa… Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng…

Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

… Bố vừa sáng tác xong nhạc cho phim “Chị Dậu” do bác Khoa đạo diễn. Cả bản nhạc giao hưởng thính phòng cho phim “anh bộ đội Cụ Hồ” của xưởng phim quân đội.

Dư luận rất tốt. Bố phải cảm ơn con. Chính nghị lực của con đã giúp bố vượt qua được nỗi đau lúc con gặp nạn. Bố đã tưởng mất con.

Tôi thấy cay cay khoé mắt. Cổ họng tắc nghẹn.

– Thôi mà bố. Chuyện đã qua rồi.

– Bố biết! Mọi chuyện đã qua. Nhìn thấy con hôm nay bố mới thật sự yên lòng. Bố phải cố hoàn thành bài hát trong một vài ngày tới…

Văn Cao là một người cộng sản chân chính. Mơ ước và khát vọng của ông rõ ràng, cao đẹp: “Ta mơ trần gian lúc san bằng hết biên thuỳ. Chỉ còn loài người, chỉ còn tình thương trùm lên thế giới”… (BÀI CA BIÊN GIỚI). Ông tin sẽ có ngày xã hội “cùng sống tập đoàn, toàn thế giới công khai cùng kiến thiết xã hội ngày mai…” (CÔNG NHÂN VIỆT NAM). Chính vì vậy mà bao khó khăn gian khổ, bao thăng trầm đổ xuống cuộc đời vẫn không làm ông nao núng. Ông tin những việc ông làm, con đường ông đã chọn. Và ông đã đúng! Cái thời khắc “giải phóng tiến tới thống nhất” đã đến…

Ngày 30 – 4 – 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất cả dân tộc reo vui. Văn Cao im lặng. Chỉ thấy đôi mắt ông sáng lên lấp lánh.

Có một cái gì đó đang chuyển động trong đầu. Một âm thanh mơ hồ, mỏng mảnh như làn khói thoảng qua. Một tiếng gà gáy mênh mang. Một tia nắng lấp lánh… Và một cánh én. Những âm thanh, những hình ảnh chập chờn trong đầu ông rồi lại tan biến.

Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.

Sau tết. Tôi lên, ông đã đưa cho tôi xem bài MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN. Tôi vừa xướng âm, vừa lẩm nhẩm hát một cách say sưa:

“Rồi đặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường, mùa vui nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên. Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông. Một tia nắng vui cho bao tâm hồn… Người mẹ nhìn đàn con nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy… Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao, trong xuân vui đầu tiên… Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người…

Lời ca thật dung dị với những hình ảnh gần gũi thân quen thấm đậm chất nhân văn. Giai điệu của bài hát đẹp, mượt mà và sâu lắng đã cuốn hút tôi. Càng hát tâm hồn ta càng thánh thiện hơn lên.

Cuối năm 1976 MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN được in trên báo sài Gòn giải phóng. Nhưng rồi số phận của nó cũng lại bị “người ta lãng quên”. Vào thời điểm đó, những bài hát mang tính Tụng ca ồn ào đang chiếm lĩnh diễn đàn.

Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.”

Mãi hai mươi năm sau, MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN mới được các “Nhà Đài nước ta” dàn dựng và phát sóng. Từ đó đến nay MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN ngày càng được đông đảo công chúng yêu thích.
MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN của Văn Cao đã khẳng định được giá trị đích thực của nó.

V.T
(179-180/01&02-04)

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.