Văn Cao với ca khúc ‘Mùa Xuân Đầu Tiên’ (Văn Thao)

DongNhacXua.com đã có một bài viết về hai bản nhạc xuân đặc sắc có cùng tên ‘Mùa Xuân Đầu Tiên’ của Tuấn Khanh và Văn Cao, hai nhà nhạc sỹ ở hai bên chiến tuyến, sáng tác ở hai thời điểm khác nhau.  Hôm nay, nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015, chúng tôi xin gởi đến quý vị yêu nhạc xưa thêm vài chi tiết thú vị về nhạc phẩm “Mùa Xuân Đầu Tiên” của Văn Cao qua bài viết của Văn Thao, con trai của chính nhạc sỹ Văn Cao.

Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao). Ảnh: http://baicadicungnamthang.net
Mùa xuân đầu tiên (Văn Cao). Ảnh: baicadicungnamthang.net

VĂN CAO VỚI CA KHÚC ‘MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN’
(Nguồn: tùy bút của Văn Thao đăng trên tapchisonghuong.com.vn ngày 03/07/2009)

VĂN THAO… Tôi tập tễnh bước một leo lên cầu thang ngôi nhà số 108 phố Yết Kiêu vào một ngày giáp tết năm 1976. Đã sang tiết xuân, trời nắng nhẹ mà vẫn lạnh. Tiếng đàn dương cầm vọng ra. Một điệu vans. Giai điệu của bản nhạc mượt mà, lấp lánh như những hạt nắng xao động trên vòm cây. Một giai điệu mà tôi chưa nghe bao giờ.

Nhạc sỹ Văn Cao.
Nhạc sỹ Văn Cao.

Văn Cao ngồi bên đàn. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím đàn ố vàng, loang lổ. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào, âm vang đầy ắp căn phòng. Tôi ngồi xuống đi văng, lặng nhìn đôi vai gầy guộc của ông phủ xuống cây đàn. Mái tóc bạc dài xõa phất phơ theo tiếng dương cầm thánh thót. Những vệt ánh sáng hắt qua ô cửa óng vàng chuyển động trên đôi bàn tay. Tiếng nhạc nhẹ dần, chậm chậm tan vào không gian, mênh mang. Đôi bàn tay gầy khẽ dâng lên khỏi bàn phím và bất động trong không trung. Lát sau, Văn Cao lặng lẽ đứng dậy, nhẹ nhàng rời khỏi cây đàn. Khuôn mặt ông bất động. Hình như tâm hồn ông vẫn còn bồng bềnh trôi theo những âm thanh của bản nhạc.

- Bố! Một chút ngơ ngác rồi sau đó ông mới nhận ra tôi.

- Thao đấy hả! Con về từ bao giờ đấy?

- Từ trên trung tâm chỉnh hình Ba Vì con đến thẳng đây.

- Vết thương của con thế nào? Đi chân giả có đau lắm không?

Tôi đứng dậy kéo ống quần lên cho ông nhìn thấy chiếc chân gỗ, rồi bình thản đi quanh phòng. Ông ngồi lặng nhìn theo tôi, đôi mắt ánh lên niềm vui. Từ trong khoé mắt, một giọt lệ lăn từ từ trên đôi gò má.

- Tốt! Tốt quá rồi!… Thôi ngồi xuống đi con.

Tôi ngồi xuống bên ông. Hai cha con nhìn nhau. Tôi định nói một điều gì đó mà không được. Cổ họng cứ tắc nghẹn. Mãi lúc sau mới thốt được nên lời:

- Lâu lắm con mới lại được nghe bố đánh đàn một cách say sưa như thế này. Giai điệu đẹp quá. Bài mới sáng tác của bố đấy à?

- Ừ! Bố sáng tác bài hát này mừng Mùa xuân đầu trên đất nước mình thống nhất.

- Vậy là bố lại sáng tác ca khúc?

Ông nhìn tôi giây lát. Hình như ông đã hiểu tôi định nói gì.

- Đúng thế.
Sau khi bài TIẾN VỀ HÀ NỘI ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa… Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng…

Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.

… Bố vừa sáng tác xong nhạc cho phim “Chị Dậu” do bác Khoa đạo diễn. Cả bản nhạc giao hưởng thính phòng cho phim “anh bộ đội Cụ Hồ” của xưởng phim quân đội.

Dư luận rất tốt. Bố phải cảm ơn con. Chính nghị lực của con đã giúp bố vượt qua được nỗi đau lúc con gặp nạn. Bố đã tưởng mất con.

Tôi thấy cay cay khoé mắt. Cổ họng tắc nghẹn.

- Thôi mà bố. Chuyện đã qua rồi.

- Bố biết! Mọi chuyện đã qua. Nhìn thấy con hôm nay bố mới thật sự yên lòng. Bố phải cố hoàn thành bài hát trong một vài ngày tới…

Văn Cao là một người cộng sản chân chính. Mơ ước và khát vọng của ông rõ ràng, cao đẹp: “Ta mơ trần gian lúc san bằng hết biên thuỳ. Chỉ còn loài người, chỉ còn tình thương trùm lên thế giới”… (BÀI CA BIÊN GIỚI). Ông tin sẽ có ngày xã hội “cùng sống tập đoàn, toàn thế giới công khai cùng kiến thiết xã hội ngày mai…” (CÔNG NHÂN VIỆT NAM). Chính vì vậy mà bao khó khăn gian khổ, bao thăng trầm đổ xuống cuộc đời vẫn không làm ông nao núng. Ông tin những việc ông làm, con đường ông đã chọn. Và ông đã đúng! Cái thời khắc “giải phóng tiến tới thống nhất” đã đến…

Ngày 30 – 4 – 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất cả dân tộc reo vui. Văn Cao im lặng. Chỉ thấy đôi mắt ông sáng lên lấp lánh.

Có một cái gì đó đang chuyển động trong đầu. Một âm thanh mơ hồ, mỏng mảnh như làn khói thoảng qua. Một tiếng gà gáy mênh mang. Một tia nắng lấp lánh… Và một cánh én. Những âm thanh, những hình ảnh chập chờn trong đầu ông rồi lại tan biến.

Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.

Sau tết. Tôi lên, ông đã đưa cho tôi xem bài MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN. Tôi vừa xướng âm, vừa lẩm nhẩm hát một cách say sưa:

“Rồi đặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường, mùa vui nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên. Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông. Một tia nắng vui cho bao tâm hồn… Người mẹ nhìn đàn con nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy… Ôi giờ phút yêu quê hương làm sao, trong xuân vui đầu tiên… Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người…

Lời ca thật dung dị với những hình ảnh gần gũi thân quen thấm đậm chất nhân văn. Giai điệu của bài hát đẹp, mượt mà và sâu lắng đã cuốn hút tôi. Càng hát tâm hồn ta càng thánh thiện hơn lên.

Cuối năm 1976 MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN được in trên báo sài Gòn giải phóng. Nhưng rồi số phận của nó cũng lại bị “người ta lãng quên”. Vào thời điểm đó, những bài hát mang tính Tụng ca ồn ào đang chiếm lĩnh diễn đàn.

Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.”

Mãi hai mươi năm sau, MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN mới được các “Nhà Đài nước ta” dàn dựng và phát sóng. Từ đó đến nay MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN ngày càng được đông đảo công chúng yêu thích.
MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN của Văn Cao đã khẳng định được giá trị đích thực của nó.

V.T
(179-180/01&02-04)

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Ly rượu mừng (Phạm Đình Chương)

 Ngày 20/02/2015:
Hôm nay là mùng 2 tết Ất Mùi. Chúng tôi vừa nhận vài phản hồi của người yêu nhạc về bản “Ly Rượu Mừng” của nhạc sỹ Phạm Đình Chương. Bài viết “Bình phẩm về ca khúc Ly Rượu Mừng” bên dưới là thể hiện ý kiến riêng của tác giả. DongNhacXua.com xin trích đăng để người yêu nhạc có thêm “món ăn tinh thần” nhân dịp xuân về.

Ngày 01/01/2014:
Chúng ta vừa bước qua những thời khắc đầu tiên của năm mới 2014. Chắc hẳn giai điệu quen thuộc của bản ‘Happy New Year’ của ban ABBA vẫn còn văng vẳng đâu đó. Một sự thật mà chắc quý vị nào cũng sẽ đồng ý với chúng tôi là ‘Happy New Year’ đã trở thành một món ăn tinh thần không thể nào thiếu được trong dịp năm mới.

Thế nhưng để chọn một bài nhạc xuân đặc trưng nhất cho người Việt chúng ta thì DongNhacXua.com không ngần ngại chọn bản ‘Ly rượu mừng’ của Phạm Đình Chương.

Theo nhiều tài liệu trên internet thì ‘Ly rượu mừng’ được viết vào năm 1955 nhưng theo tờ nhạc mà chúng tôi sưu tầm được thì bản này được quán nhạc Minh Phát cho in vào năm 1966.  Cho dù viết vào năm nào thì chắc chắc nhạc phẩm này cũng ra đời trong thời đất nước bị chia cắt và người dân còn sống trong cảnh binh đao khói lửa. Đó cũng là lý do mà nhạc sỹ Phạm Đình Chương đã ưu ái dành nhiều đoạn cho ‘người binh sỹ’ và thiết tha mong một ngày đất nước thanh bình.

Với thể điệu valse dìu dặt, cùng nét nhạc tài tình và ca từ đặc sắc, ‘Ly rượu mừng’ của Phạm Đình Chương xứng đáng được xưng tụng là bản nhạc xuân tuyệt vời nhất của dòng nhạc Việt.

Ly rượu mừng (Phạm Đình Chương). Ảnh: sachxua.net
Ly rượu mừng (Phạm Đình Chương). Ảnh: sachxua.net

ly-ruou-mung--1--pham-dinh-chuong--sachxua.net--dongnhacxua.com

ly-ruou-mung--2--pham-dinh-chuong--sachxua.net--dongnhacxua.com 

BÌNH PHẨM VỀ CA KHÚC “LY RƯỢU MỪNG”
(Nguồn: trích đăng bài viết của tác giả Cao Đắc Tuấn)

Ca khúc “Ly Rượu Mừng” là bài hát thịnh hành trong dịp Tết. Bài hát mời mọi người cùng uống rượu mừng Xuân và nói những lời chúc Tết đến toàn dân và đất nước. Tuy bài hát không mô tả những cảnh tượng và sinh hoạt Tết như pháo nổ, hoa tươi sặc sỡ, bánh kẹo, bài hát tiêu biểu cho Tết Việt Nam vì chúc Tết là một tục lệ quan trọng trong Tết Việt Nam. Cộng với điệu nhạc vui tươi, giai điệu tiết tấu sống động, và lối diễn tả bình dị với vài điểm đặc sắc, “Ly Rượu Mừng” là một bài hát bất hủ trong dịp Xuân về.

Trong bài này, tôi sẽ trình bày nhận xét về nội dung và hình thức của “Ly Rượu Mừng.” Ngoài ra, như trong các bài viết về âm nhạc trước, tôi sẽ chú trọng thảo luận chi tiết về các khía cạnh văn chương của lời nhạc, nhưng sẽ có phần nói về các khía cạnh âm nhạc của bài hát. Tôi dùng “khán giả” để chỉ người nghe, người đọc, và người xem.

“Ly Rượu Mừng” tiêu biểu cho nhạc Xuân vì bài hát chú trọng vào lời chúc Tết và có điệu nhạc vui tươi sống động

 “Ly Rượu Mừng” có nội dung đơn giản, là ca khúc mừng xuân với những lời chúc Tết tới mọi người được hạnh phúc ấm no trong cảnh đất nước thanh bình tự do. Bài hát không có những mô tả hình ảnh hoặc sinh hoạt trong những ngày quanh dịp Tết (thí dụ, pháo nổ, màu hoa sặc sỡ, kẹo bánh) nhưng rất tiêu biểu cho ngày Tết Việt Nam. Đó là vì bài hát chú trọng vào điểm quan trọng nhất trong dịp Tết: chúc Tết. Ngoài ra, bài hát được viết với điệu nhạc Valse, đem lại nét vui tươi sống động trong mùa Xuân. Giai điệu vả tiết tấu có nhiều khía cạnh linh hoạt theo nội dung, rất thích hợp cho hợp ca hoặc phối hợp giữa hợp ca và đơn ca.

“Ly Rượu Mừng” gồm những lời chúc Tết cho mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc và đất nước hưởng thanh bình tự do:

 Bài hát mở đầu với lời mời nâng chén rượu để chúc mọi người ở khắp nơi (“Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi“), từ anh nông phu được mùa lúa thơm, người buôn bán có lợi tức, cho tới công nhân lao động thoát được cảnh nghèo khó (“Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi/ Người thương gia lợi tức/ Người công nhân ấm no/ Thoát ly đời gian lao nghèo khó.”) Với các chữ “nông (phu),” “thương (gia),” và “công (nhân),” ta không thể không liên tưởng đến “sĩ nông công thương,” được coi là bốn giai cấp xã hội Việt Nam thời xưa. Không rõ tại sao Phạm Đình Chương bỏ “sĩ” (người học hành). Trong đoạn sau, ông có nhắc đến “sĩ,” nhưng đó là “nghệ sĩ” là những người sinh sống qua nghệ thuật, chứ không phải là những người sinh sống qua học hành hoặc hành nghề chuyên môn như bác sĩ, kỹ sư, luật sư. Có thể lúc bấy giờ, số người “sĩ” không nhiều trong xã hội bằng ba giới “nông, công, thương.”

 Với “nâng chén,” tác giả mở đầu bằng hành động giơ cao ly rượu khi chúc mừng. Tác gỉả dùng “chén” và “ly” như nhau trong toàn bài hát. Ta nên nói thêm về “chén” và “ly” trong tiếng Việt.

 Chữ “chén” có nhiều nghĩa trong tiếng Việt. Nghĩa thông thường của “chén” là vật dùng để uống nước, rượu, trà, thường bằng sành hay sứ. Một chữ có nghĩa tương tự là “tách” (do tiếng Pháp “tasse”) nhưng “tách” thường có tay cầm trong khi “chén” thường không có tay cầm. Nghĩa thứ hai là vật dùng để ăn, như chén cơm, chén cháo. Trong nghĩa này, người miền Nam dùng “chén” thay cho “bát” hoặc “tô” mà người miển Bắc thường dùng. “Chén” còn có thể dùng với nghĩa bóng, hàm ý chứa đựng ý tưởng, tâm tình (như “chén tình” trong bài hát).

Ngoài ra, tiếng Việt ta dùng “nâng chén” và “nhấc ly” chứ không dùng “nâng ly” hoặc “nhấc chén.” Đó là vì “nâng” là hành động trịnh trọng, hàm ý dùng sức (thực sự hay bề ngoài). Trong lúc uống rượu bằng chén thời xưa, người ta thường dùng hai tay để “nâng” chén rượu mời với ngụ ý trịnh trọng hoặc bày tỏ sự kính trọng. “Nâng” trong “nâng khăn sửa túi” hoặc tiếng lóng “nâng bi” có ý nghĩa kính cẩn trịnh trọng tương tự. Ngoài ra, vì chén thường không có tay cầm, dùng hai tay để “nâng” chén giữ cho chén thăng bằng, không đổ hoặc rớt. Ngược lại, “ly” thường có hình thể thon dài, có bầu sâu chứa rượu và chân ly dài, và nhẹ, nên cầm ly dễ dàng và không dùng sức nhiều. Do đó, khi đưa ly rượu lên cao, người ta thường dùng một tay để “nhấc” thay vì “nâng.” 

 Trở về với “Ly Rượu Mừng,” mọi người cùng nhấp chén rượu đầy vơi, chúc vui mọi người (“Á A A A Nhấp chén đầy vơi, chúc người người vui.”) Trong dịp Xuân về, ai cũng nao nao với những mối duyên nợ cuộc đời (“Á A A A Muôn lòng xao xuyến duyên đời.”) Với quãng “Á A A A,” bài hát khuyến khích mọi người cùng ca. Có lẽ đó là lý do “Ly Rượu Mừng” thích hợp cho hợp ca và trong cuộc họp mặt đông người khi mọi người cùng nâng ly rượu chúc lẫn nhau.

 Ly rượu được rót tràn đầy để chúc người binh sĩ lên đường ra nơi trận mạc xa xôi được thành công, làm tươi sáng cuộc đời dân lành (“Rót thêm tràn đầy chén quan san/ Chúc người binh sĩ lên đàng/ Chiến đấu công thành, sáng cuộc đời lành/ Mừng người vì nước quên thân mình.”) Ta hiểu “quan san” là quan ải và núi non, thường để chỉ những nơi xa xôi, hoặc ở biên giới, đồn trú cho binh lính. Lời chúc cũng được gửi tới những bà mẹ già nơi xa xôi, nhớ thương con cháu mong mỏi được gặp lại người con đi xa, sẽ có dịp gặp lại con trở về hội ngộ chan hòa niềm yêu thương (“Kìa nơi xa xa có bà mẹ già / Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa/ Chúc bà một sớm quê hương/ Bước con về hòa nỗi yêu thương.”) Mọi người cùng hát bài hát vui vẻ làm tươi thắm đời người chiến sĩ, và để cho người mẹ già không còn lo âu buồn bã vì con nữa (“Á A A A Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính/ Á A A A Chúc mẹ hiền dứt u tình.”)

 Ly rượu mừng cũng gởi đến những cặp tình nhân hoặc vợ chồng đang xây tổ ấm cùng nhau (“Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương/ Xây tổ ấm trên cành yêu đương.”) Điều đó không có nghĩa là chúc mừng những cặp vợ chồng mới cưới. Ta biế̉t ít ai làm đám cưới trong mùa Xuân vào dịp Tết. “Đôi uyên ương” chỉ có nghĩa cặp tình nhân, hoặc cặp vợ chồng trẻ đang tạo dựng gia đình nhỏ. Với người nghệ sĩ, chúc mừng họ đem lời ca, tiếng nhạc, câu thơ văn, và nét họa tô điểm cuộc đời thêm mới mẻ tốt đẹp (“Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ/ Tiếng thi ca nét chấm phá tô nên đời mới.”) Như trình bày ở trên, “nghệ sĩ” đây không phải là giai cấp “sĩ” trong “sĩ nông công thương” mà là những người theo ngành nghệ thuật như nhạc sĩ, ca sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, ̣điêu khắc gia, v.v.

Nhưng lời chúc thiêng liêng nhất là lời chúc cho đất nước hòa bình, không còn chiến tranh, thịt rơi máu đổ. Đó là ngày quê hương được yên vui và những người lính trở về với chén rượu ấm chứa chan đầy tình thương yêu (“Bạn hỡi, vang lên/ Lời ước thiêng liêng/ Chúc non sông hòa bình, hòa bình/ Ngày máu xương thôi tuôn rơi/ Ngày ấy quê hương yên vui/ đợi anh về trong chén tình đầy vơi.”) Có thể đây là lý do ca khúc “Ly Rượu Mừng” không còn được thịnh hành tại Việt Nam hiện nay nữa, vì lời chúc hòa bình có vẻ mất ý nghĩa. 

Mọi người hãy cùng nhấc cao ly rượu, chúc cho tương lai sáng sủa tràn đầy tự do, đất nước thanh bình, và mọi người được hạnh phúc tràn trề (“Nhấc cao ly này/ Hãy chúc ngày mai sáng trời Tự Do/ Nước non thanh bình/ Muôn người hạnh phúc chan hòa.”) Trước hết, ta để ý tác giả dùng “nâng chén” và “nhấc cao ly rượu” (thay vì “nâng ly” hoặc “nhấc chén”) như đã đề cập ở trên. Thứ nhì, trong phiên khúc này, tác giả chúc đất nước tự do và thanh bình. Ta phải hiểu Phạm Đình Chương ngụ ý cầu mong nước non thanh bình và sáng trời tự do cho toàn thể đất nước Việt Nam từ Nam ra Bắc. Phạm Đình Chương lúc nào cũng tưởng nhớ đến miền Bắc. Tên hát của ông là Hoài Bắc, nói lên tâm tư này. 

 Tổng kết, mọi người mơ ước hạnh phúc ở khắp mọi nơi và hương thơm thanh bình đang dâng cao (“Ước mơ hạnh phúc nơi nơi/ Hương thanh bình dâng phơi phới.”) “Phơi phới” hàm ý một khí thế đang lên. Lời chúc “thanh bình” gồm cả “hòa bình” lẫn yên tĩnh, và do đó có ý nghĩa mạnh mẽ hơn “hòa bình.”

 “Ly Rượu Mừng” là một ca khúc đơn giản, gồm những lời chúc Tết cho mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc và đất nước hưởng thanh bình tự do. Bài hát có nhiều khía cạnh khác biệt với những bài hát khác về Xuân.

Tuy không mô tả cảnh tượng hoặc không khí Xuân, “Ly Rượu Mừng” tiêu biểu cho ngày Tết vì chúc Tết là tục lệ quan trọng nhất trong Tết Việt Nam:

 Ca khúc “Ly Rượu Mừng” thuần túy là những lời chúc Xuân cho mọi người và đất nước. Bài hát hoàn toàn không có mô tả cảnh tượng đón Xuân, hoặc các trang lễ, chuẩn bị, và không khí của những ngày Tết theo truyền thống Việt Nam. Phạm Đình Chương cố tình gạt bỏ những hình ảnh về Xuân, mà chỉ tập trung vào một khía cạnh duy nhất là chúc Tết. Cả toàn bài hát không hề có các cảnh tượng thiên nhiên mùa Xuân như màu sắc hoa (mai, đào), mùi hương thơm hoa, nắng vàng, gíó ngàn, tiếng chim hót; hình ảnh đón Tết và trang hoàng trong nhà như bếp hồng, bánh dầy, bánh chưng, kẹo mức, hạt dưa, trái cây, cây nêu; cảnh tượng đường phố như trẻ em khoe quần áo mới, người đi nườm nượp, phố phường đông đúc; các hình ảnh và âm thanh Tết như pháo nổ đì đùng, trống đập múa Lân, phong bì đỏ lì xì, tiếng nhạc ca hát mừng Xuân, v.v.

 Những bài hát khác về Xuân luôn luôn có, không nhiều thì it, những hình ảnh hoặc gợi ý cho cảnh Xuân và không khí đón Tết. Thí dụ như: “Rừng hoa mai đua nở” (“Tâm Sự Nàng Xuân” của Hoài Linh); “Ngắm vườn bên thấy mai đào nở,” (“Nghĩ Chuyện Ngày Xuân” của Song Ngọc); “Hoa lá nở thắm,” “hoa đào hồng thắm,” (“Cánh Thiệp Đầu Xuân” của Minh Kỳ & Lê Dinh); “Hoa đào hoa mai,” “trẻ thơ khoe áo xinh xinh,” “mứt vàng hạt dưa,” “bánh dầy bánh chưng,” “phong bì thắm tươi” (“Ngày Tết Việt Nam” của Hoài An); “chim hót mừng,” “Lập lòe tà áo xanh xanh,” “đàn chim non xinh xinh tung bay,” “tiếng pháo đì đùng,” “Ngàn hoa hé môi cười vui” (“Xuân Đã Về” của Mink Kỳ); “cánh hồng tươi thắm,” “Muôn sắc khoe tươi,” “Nồng ngát hương thơm” (“Gió Mùa Xuân Tới” của Hoàng Trọng); “nụ hoa vàng mới nở,” “lộc non vừa trẩy lá,” “bầy chim lùa vạt nắng,” “rung nắng vàng ban mai,” (“Anh Cho Em Mùa Xuân” của Nguyễn Hiền, thơ Kim Tuấn); “mai đào nở vàng bên nương,” “pháo giao thừa rộn ràng,” “trông bánh chưng ngồi chờ sáng,” “cho tà áo mới ba ngày xuân đi khoe phố phường” (“Xuân Này Con Không Về” của Trịnh Lâm Ngân); “nắng vàng,” “nâng phím đàn cùng hát ca,” (“Xuân Họp Mặt” của Văn Phụng).

 Thực ra, cả toàn bài “Ly Rượu Mừng,” chỉ có một chữ “Xuân” duy nhất trong câu đầu. Nếu bỏ chữ “Xuân” này và thay bằng một chữ khác như “vui,” cả toàn bài chỉ hoàn toàn nói về chúc tụng mọi người và đất nước, và không có một chút xíu gì về Xuân hoặc Tết cả. Nhưng có thật là vậy không?

 Tại sao “Ly Rượu Mừng” luôn luôn được coi là bài hát tượng trưng cho dịp Xuân về, Tết đến?

 Câu trả lời thật đơn giản nhưng cũng có thể gây ngạc nhiên: Chính lời chúc tụng là đặc tính độc đáo của Tết Việt Nam.

 Tết Việt Nam có thể không có cảnh tượng thiên nhiên như chim hót, nắng vàng, gió mát, hoặc những hoạt động nhân tạo như pháo nổ, múa rồng, múa lân, hoa mai, hoa đào, bánh chưng, kẹo mứt, quần áo mới, tiếng hát Xuân, phong bì đỏ lì xì.

 Nhưng Tết Việt Nam không thể nào không có lời chúc Tết.

 Chúc tụng hoặc chúc mừng nhau gần như là căn bản sinh hoạt ở xã hội Việt Nam. Người Việt hình như bị ám ảnh với chúc tụng. Người ta chúc nhau trong bất kỳ dịp nào: sinh nhật, đầy tháng, thôi nôi, sinh đẻ, thi cử (trước và sau khi thi), thăng quan tiến chức, mua sắm đồ dùng, mua nhà, mua xe, cưới hỏi, du lịch, nghỉ hè, đau ốm, ra vào bệnh viện, ra mắt tác phẩm, mở cửa hàng, nhận chức vụ mới, thuyên chuyển, trình diễn, trúng thầu, ký khế ước. Trong một buổi họp mặt, cho dù bất cứ có dịp gì, luôn luôn có người đứng lên ngỏ lời chúc mọi người. Trong một bữa tiệc, sẽ có người nói, “Chúc quý vị một bữa tiệc vui vẻ.” Trên đài phát thanh hoặc truyền hình hàng ngày, các xướng ngôn viên luôn luôn có lời chúc khán thính giả, lúc thì một ngày vui vẻ, một ngày nghỉ an toàn, hoặc một buổi tối ấm cúng với gia đình. Trong một lá thư hay một e-mail, người viết thường mở đầu hoặc kết luận bằng một lời chúc. Ngay cả trong lúc gặp nhau hàng ngày cũng có lời chúc vui vẻ hoặc mạnh khỏe. Những lời chúc nhiều khi biến thành những lời chào hỏi hàng ngày, thí dụ như “Chúc bạn một ngày vui,” tương tự như những câu nói sáo rỗng “Have a nice day!” ở Hoa Kỳ.

 Người Việt có lẽ tin tưởng vào các lời chúc tụng sẽ quả thật đem lại may mắn, sức khỏe, tiền bạc, thành công, tình yêu. Trong các dịp lễ long trọng như ngày Tết, lời chúc còn có ý nghĩa “thiêng liêng” hơn các dịp khác vì có sự tin tưởng vào thần thánh, tổ tiên ông bà hoặc những người đã khuất trong gia đình, hội họp trong dịp Tết và sẽ giúp những lời cầu chúc thành sự thật. Phong tục cổ truyền Việt Nam trong dịp Tết có nhiều tục lệ như cúng kiến, xông đất, xuất hành, chúc Tết, hái lộc, biếu quà, kiêng cữ, v.v. nhưng có lẽ chúc Tết là tục lệ quan trọng nhất. Trong những ngày đầu năm, câu đầu tiên người ta nói với nhau khi gặp nhau là lởi chúc Tết. Ngay cả ngày nào đi chúc Tết ai cũng được quy định rõ rệt: “Mồng một chúc Tết mẹ cha/ Mồng hai tết vợ, mồng ba tết thầy.”

 Do đó, tuy không có những mô tả thiên nhiên, cảnh tượng, nhà cửa, đường phố, thiên hạ, và các hoạt động Tết, ca khúc “Ly Rượu Mừng” biểu hiện một đặc tính quan trọng nhất trong Tết Việt Nam. Đó là những lời chúc Tết trong các ngày đầu năm. Tết Việt Nam sẽ mất ý nghĩa nếu không có những lời chúc Tết và do đó “Ly Rượu Mừng” luôn luôn là một ca khúc được hát trong dịp Tết hàng năm.

 Giai điệu, tiết tấu, và điệu nhạc valse thích hợp cho lời chúc mừng Xuân với nét vui tươi và sống động:

 Bài hát được viết với nhịp 3/4, dưới điệu nhạc Valse có tốc độ/ hành độ (tempo) nhanh và do đó đem lại nét sống động và vui tươi, thích hợp cho dịp vui ăn mừng ngày Tết. Nhạc sĩ thường chọn lựa điệu nhạc (tiết điệu) khi soạn nhạc. Tiết điệu là chu kỳ của các phách mạnh và yếu theo một nhịp điệu nào đó. Tiết điệu cho thấy sự liên kết nhịp nhàng trong chuyển động. Thí dụ: valse, rhumba, fox, slow, tango (Phạm Đức Huyến, 37). Ta nên biết có hai điệu nhạc Valse, hoặc Waltz theo tiếng Mỹ: Waltz chậm (slow Waltz) và Viennese Waltz. Cả hai đều có cùng nhịp điệu căn bản nhưng Viennese Waltz có tốc độ nhanh hơn Waltz chậm, có thể nhanh gấp ba bốn lần. Waltz chậm còn được gọi là Boston, do tên thành phố Boston tại Hoa Kỳ khi điệu Waltz được phát triển và du nhập qua Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 (Xem, thí dụ như, OSLH). Nhạc Việt thường dùng Boston cho Waltz chậm và Valse cho Viennese Waltz. Trong bài “Ly Rượu Mừng,” nhạc sĩ Phạm Đình Chương ghi rõ điệu Valse trên tờ nhạc, và bài hát nên được trình bày với tiết điệu nhanh và sống động của điệu Viennese Waltz.

 Giai điệu và tiết tấu của bài hát thích hợp cho hợp ca, như trong buổi họp mặt. Bài hát có những khúc trầm bổng, ngắn gọn và kéo dài tùy vào nội dung của câu hát, tạo nên nét linh hoạt và sống động. Thí dụ câu “Bạn hỡi/vang lên/ Lời chúc/ thiêng liêng” có bốn ngắt quãng với dấu nghỉ, và ở nốt cao, diễn tả lời kêu gọi mọi người cùng vang lên lời chúc. Lời kêu gọi đó được nhấn mạnh qua bốn ngắt quãng và nốt cao tạo nên khí thế thúc giục mạnh mẽ. Tương phản với câu kêu gọi thúc giục đó, câu “Kìa nơi xa xa có bà mẹ già” có cùng trường độ, nhưng không có dấu nghỉ và lời ca được kéo dài liên tục; do đó tạo ra âm hưởng êm ái nhẹ nhàng, thích hợp cho hình ảnh bà mẹ già mong chờ con.

 Bài hát gồm có những lời chúc mọi người và toàn dân đất nước. Do đó, âm hưởng bài hát sẽ có khí thế mạnh mẽ và ý nghĩa khi bài hát trình bày qua hợp ca. Tuy bài hát có thể do một ca sĩ hát, âm điệu sẽ được hay hơn nếu có nhiều ca sĩ cùng hát một lúc. Những quãng Á A A A trong bài hát là dành cho khúc hợp ca, có nhiều người đồng xướng. Bài hát cũng sẽ được trình bày linh động nếu có những khúc hát hợp ca xen kẽ những khúc hát đơn ca, hoặc hợp ca giọng nam xen kẽ hợp ca giọng nữ. Ban Hợp ca Thăng Long phối hợp kỹ thuật hợp ca và đơn ca, và hợp ca giọng nam cùng giọng nữ rất tinh vi, đem nét linh động, vui tươi, và nhiều sắc thái cho bài hát (Xem, thí dụ như, Doppelpass01 2010).

 Trong “Ly Rượu Mừng,” Phạm Đình Chương không có lối dùng chữ hoặc kỹ thuật trình bày gì đặc biệt. Bài hát có ít mỹ từ. Các từ ngữ đơn giản, dễ hiểu, không cầu kỳ bóng bẩy. Đó chính là điểm hay của bài hát. Bài hát gồm những lời chúc Tết cho mọi người; do đó, ngôn từ cần phải đơn giản thích hợp với bản chất bình dị và chất phác của đa số dân Việt thời bấy giờ. Không ai muốn nói những lời chúc khó hiểu hoặc bóng bẩy làm mất đi ý nghĩa chân thành của lời chúc đầu năm. Ngoài ra, vì bài hát là những lời chúc Tết và không phải là một câu chuyện hoặc tâm trạng của một người nên không có nhiều những khía cạnh kỹ thuật viết như lối trình bày, “cho thấy, đừng kể,” chú trọng vào chi tiết rõ rệt, v.v…

 Tác giả dùng những lời chúc chính xác, ̣đánh đúng vào nguyện vọng của mọi người. Với người nông phu, còn gì sung sướng hơn là ruộng lúa được mùa; thương gia buôn bán có lời nhiều; người lao động không còn nghèo khó; người chiến sĩ thành công nhiệm vụ, giúp dân lành; bà mẹ già gặp lại con trở về, hết cơn u buồn; cặp tình nhân xây tổ ấm; người nghệ sĩ tô điểm đời thêm tươi đẹp; non sông hòa bình và đất nước hưởng thanh bình tự do. Ta không thấy những lời chúc mơ hồ, sáo rỗng, máy móc, như “sức khỏe sung túc,” “sống lâu trăm tuổi,” “tài lộc dồi dào,” “con hiền dâu thảo,” “thăng quan tiến chức,” v.v…

 Tuy bài hát có lối diễn tả bình dị và đơn giản, cũng có vài điểm đặc sắc đáng ghi. Trước hết, Phạm Đình Chương trình bày cuộc uống rượu mừng là một chuỗi tác động rót rượu, nâng chén hoặc nhấc cao ly, nhấp nháp rượu, uống cạn ly, và rót thêm rượu (“nâng chén ta chúc nơi nơi / Nhấp chén đầy vơi/ Rót thêm tràn đầy chén/ Nào cạn ly/ chén tình đầy vơi/ Nhấc cao ly này“). Mỗi tác động kèm theo lời chúc mọi người. Cách mô tả đó tạo ra cảnh tượng linh hoạt sống động của một bữa tiệc khi mọi người cùng giơ cao ly rượu và chúc lẫn nhau. Thứ nhì, bài hát có vài chỗ dùng “cho thấy, đừng kể,” chi tiết rõ rệt, và ẩn dụ nhẹ nhàng. Thí dụ như “mắt vương lệ nhòa,” “máu xương thôi tuôn rơi,” “chén tình,” “thoát ly đời gian lao.” Cộng với điệu nhạc vui tươi và giai điệu tiết tấu sống động, các diễn tả này đem lại những nét chấm phá rải rác trên khắp bài hát, giúp khán giả có tâm trạng lâng lâng sảng khoái.

Kết Luận:

Ca khúc “Ly Rượu Mừng” là một bài hát bất hủ cho Tết. Bài hát không có những mô tả thông thường về Tết như pháo nổ, hoa mai hoa đào nở, bánh kẹo trái cây, nhưng đánh đúng vào sắc thái quan trọng trong dịp Tết là chúc Tết. Ngoài ra, với điệu nhạc Valse vui tươi, giai điệu trầm bổng, tiết tấu sống động, và lời ca đơn giản, bài hát thích hợp cho hợp ca hoặc phối hợp giữa hợp ca và đơn ca.

 

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Ngày Tết Quê Em (Từ Huy)

Trong số không nhiều những ca khúc xuân đi sâu vào lòng người sau năm 1975, DongNhacXua.com xin được trân trọng đặt “Ngày Tết quê em” của nhạc sỹ Từ Huy vào vị trí đầu bảng mà không sợ bị cho là quá thiên vị. Ca khúc Ngày Tết quê em do cố nhạc sĩ Từ Huy sáng tác vào năm 1994 và Tam ca áo trắng là nhóm nhạc đầu tiên thể hiện. Ca khúc bắt nguồn từ một câu hỏi nhạc sỹ Từ Huy tự vấn mình: “Tại sao ta không viết một ca khúc nói thẳng vào cái ngày thiêng liêng nhất đó của dân tộc?”. Đó là một bài hát phản ánh ngợi ca không khí vui vẻ, phấn chấn trên khắp nẻo đường đất nước.

ĐÔI NÉT VỀ NHẠC SỸ TỪ HUY
(Nguồn: wikipedia.org)

Nhạc sỹ Từ Huy. Ảnh: wikipedia.org
Nhạc sỹ Từ Huy. Ảnh: wikipedia.org

Từ Huy, tên khai sinh là Tạ Từ Huy (15 tháng 10 năm 1948[1]10 tháng 9 năm 2006), quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, là một nhạc sĩ Việt Nam.

Từ Huy vốn học Đại học Văn khoa Sài Gòn, Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Ông đã từng có những bài thơ yêu nước in trên các tạp chí Đối diện, Văn…. Sau năm 1975, Từ Huy đi vào sáng tác ca khúc. Ông là lớp nhạc sĩ đầu tiên trưởng thành sau 1975 [2].

Ngay từ những tác phẩm đầu tiên mang chất nhạc trẻ như Những lời em hát, Mùa xuân tình yêu… đã được giới thanh niên đón nhận. Những năm sau đó, ca khúc Từ Huy xuất hiện nhiều trên các sàn diễn như Chiều thứ bảy, Lời yêu thương, Một thoáng quê hương, Mong đợi ngậm ngùi, Ngày em đến

Là một trong bảy nhạc sĩ thuộc nhóm Những người bạn, Từ Huy vừa sáng tác vừa tổ chức Câu lạc bộ Nhạc sĩ nhằm giới thiệu các tác phẩm mới của các nhạc sĩ trẻ và giới thiệu các ca sĩ trẻ.

Từ Huy đã xuất bản nhiều tuyển tập thơ, ca khúc và album tác giả. Ông từng là hoạ sĩ báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh và là thư ký toà soạn tờ Thế giới Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Ông mất tại Bệnh viện Chợ Rẫy sau một thời gian lâm bệnh [2].

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Cánh Bướm Vườn Xuân

Tiếp nối dòng nhạc xuân, một điều thú vị mà DongNhacXua.com sưu tầm được trên mạng là bản nhạc xuân rộn rã “Cánh bướm vườn xuân” mà chúng ta quen thuộc là do nhạc sỹ Từ Vũ đặt lời Việt. Nhạc sỹ Từ Vũ cũng chính là tác giả bản “Gái Xuân” bất hủ mà chúng tôi đã giới thiệu trong hai bài trước. Hiện trên mạng chúng ta vẫn thấy nhiều thông tin cho rằng nhạc sỹ Phạm Duy là người chuyển lời Việt ngữ cho bản “Cánh bướm vườn xuân” nhưng theo thiển ý của chúng tôi thì trong bài viết đáng tin cậy dưới đây, chính nhạc sỹ Từ Vũ đã xác nhận ông chính là người đã đặt lời Việt.

Nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015, DongNhacXua.com chúc nhạc sỹ Từ Vũ dồi dào sức khỏe và tiếp tục cống hiến cho đời nhiều giai điệu đẹp!

Cánh bướm vườn xuân (Lời Việt: Từ Vũ). Ảnh: PhoMuaBan.vn
Cánh bướm vườn xuân (Lời Việt: Từ Vũ). Ảnh: PhoMuaBan.vn

canh-buom-vuon-xuan--1--phomuaban.vn--dongnhacxua.com

MỘT GIỜ VỚI NHẠC SỸ CA KHÚC “GÁI XUÂN”
(Nguồn: bài viết của tác giả Hoàng Hữu Quyết đăng trên http://hoanghuuquyet.vnweblogs.com ngày 29/01/2014)

Cứ mỗi độ xuân về, mọi nhà ai cũng chuẩn bị ngoài thức ăn, uống … Trong nhà luôn có một vài chậu hoa ,nhất là hoa Mai, Đào, Cúc…Và không bao giờ thiêú một vài CD. VCD nhạc xuân( thay pháo), để lòng mình thấy hân hoan khi gió xuân về, những phút giao mùa đến.

Tuy nhiên, nhạc xuân từ sau năm 1975 rất nhiều ca khúc của các nhạc sĩ viết về xuân. Nhưng lại rất ít bài khi nghe mà lòng mình thấy nôn nao xuân về, mặc dù trong ca từ nhắc đến từ xuân rất nhiều, nhưng vẫn không thấy xuân …Đó là điều đáng buồn…

Và ngược lại hầu hết những ca khúc xuân đi vào lòng người yêu nhạc lại nằm ở thời điểm sáng tác trước năm 1975 rất bất hủ, mỗi khi nghe, lòng người thấy rộn ràng, tươi trẻ…mọi điều phiền muộn đều được cởi bỏ ra khỏi tâm hồn mình và có cảm giác như mùa xuân đang đến bên lưng….

canh-buom-vuon-xuan

Đó là những giai điệu quen thuộc của ca khúc Gái Xuân lại vang lên: “Em như cô gái hãy còn xuân. Trong trắng thân chưa lấm bụi trần…”. Ai cũng biết đó là một ca khúc phổ từ thơ Nguyễn Bính, nhưng tên người phổ nhạc thì rất ít người biết đến. Trong một chuyến công tác tại Sài Gòn chúng tôi đã gặp một vài nhạc sĩ “cổ lai hy” để tìm hiểu nhưng chính họ cũng hụt trí nhớ. Cũng chính vì thế mà chúng tôi quyết tâm đi tìm tác giả ca khúc ” Gái Xuân” và cuối cùng đã xác định được tác giả ca khúc này là nhạc sĩ Từ Vũ, hiện ở số 19/14 Nguyễn Cửu Đàm (Q.Tân Bình, TP Hồ Chí Minh).

Sau đây là cuộc trao đổi nhanh với người nhạc sĩ tài hoa của ca khúc “Gái Xuân”.

Nhạc Sĩ Từ Vũ có vẻ bất ngờ và miễn cưỡng khi tiếp nhà báo. Nhưng ông cũng cho chúng tôi xem một chồng bản nhạc cũ, trong đó có vài tác phẩm của ông (kể cả bản gốc bài Gái Xuân). Ông kể: “Xuân Quý Tỵ (1953), tôi đang học lớp điện tử trong khuôn viên trường Petrus Ký. Lúc ấy tôi 21 tuổi sống xa gia đình, không bạn bè giữa Sài Gòn phồn hoa, đô hội. Buồn, chỉ biết lục sách báo ra đọc. Tình cờ mớ sách gối đầu giường có tập thơ Mây Tần của nhà thơ Nguyễn Bính. Tôi đọc thấy bài Gái Xuân, một bài thơ ngắn (chỉ hai khổ thơ) nhưng lại có hấp lực dẫn dắt tâm trí tôi quay về với cố hương ở Thường Tín (Hà Đông). Hà Đông là quê lụa nên câu “Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân ” như đưa tôi về trong hoài niệm… Rồi những câu “Lòng Xuân lơ đãng, ý xuân nồng. Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng. Đôi tám xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân cô ngủ có buồn không? “. Tài tình và nét thơ Nguyễn Bính diễn tả tâm trạng cô gái mới lớn. Tôi cũng là thằng thanh niên mới 21 tuổi. Thấm nhau lắm anh ạ. Tôi đọc bài thơ dăm lần là đã ngấm, cầm bút giấy viết luôn một mạch”. Chúng tôi hỏi: Với cây đàn guitar? Ông lắc đầu và nói: Ồ không, giấy bút và solfé cho đến lúc bản nhạc hoàn tất, sau đó mới dùng guitar để thẩm âm lại.

- Theo tôi được biết lúc đầu ca khúc Gái xuân ra đời với điệu Tango rất quý phái nhưng sau này…có nhiều điệu?

- Đúng vậy! đầu tiên ca khúc Gái Xuân ra đời với điệu Tango, nhưng dàn dà với lối hoà âm mới ở hải ngoại rồi chuyển qua Rumba, cha cha….Và tôi thấy cũng hay , rộn ràng, trẻ trung…Thể hiện đúng tình cảm của ca khúc .’

Khi chúng tôi nói: “Thưa nhạc sĩ, chúng ta trở về với bài Gái Xuân”, thì ông nói ngay: ” Xin đừng gọi tôi là nhạc sĩ. Cho đến bây giờ tôi cũng tự thấy mình là kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực sáng tác và ca nhạc, nhưng tôi vẫn còn đó một niềm đam mê. Số là năm 1950 tôi theo gia đình vào Sài Gòn, một lần ghé vô tiệm nhạc trên đường Catinat tôi mua được cuốn L’art de Composition Musicale. Cuốn sách đã cho tôi những căn bản về sáng tác. Tôi viết Gái Xuân trong giai đoạn này.”

- Khi viết ca khúc Gái Xuân ông có gặp khó khăn gì về ca từ không?

Viết, nhưng bài thơ quá ngắn, tôi đành mạn phép tác giả (đến nay tôi vẫn chưa từng gặp nhà thơ Nguyễn Bính lần nào),và đã thêm vô hai câu của tôi:”Xuân đi, xuân đến hãy còn xuân. Cô gái trông Xuân biết bao lần” để đủ độ dài thích hợp. Viết xong, cũng không nghĩ bài hát sẽ được phổ biến và đã đi vào trong tâm cảm người yêu nhạc. “

- Khi thêm hai câu của nhạc sĩ vào , ông có nghĩ thi sĩ Nguyễn Bính sẽ buồn không… ? Vì không còn nguyên thuỷ Gái Xuân ?

- Thực ra mà nói, khi đó trong lòng tôi trào dâng và cứ muốn viết sao cho đúng ý mình là tôi tự thêm để hoàn thành ca khúc mà thôi , không nghĩ đến điều đó.

Nhạc sĩ Từ Vũ kể tiếp: Dạo đó, tôi quen với ca sĩ Linh Sơn bèn nhờ cô ấy hát nhưng do cô ấy quá bận rộn, chúng tôi không có dịp trao đổi nên ngày ra mắt Gái Xuân, thú thật tôi vẫn chưa ưng ý lắm. Sau đó, tình cờ tôi gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn ở Đài phát thanh Sài Gòn, Tâm Vấn trách: “Sao anh không tặng tôi bài hát của anh”. Tôi đã chép tặng Tâm Vấn trên một tờ giấy. Sau đó tôi phải theo bố ra Phan Thiết nên cũng chẳng biết Tâm Vấn “xử lý”như thế nào với bài hát của tôi, chỉ thấy bạn bè viết thư ra cho biết Tâm Vấn hát ca khúc Gái Xuân rất hay và hát thường xuyên ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Vào những thập niên năm 1953 ở Phan Thiết, trong một đêm lang thang ngoài phố, tình cờ tôi nghe qua sóng của Đài Phát thanh Huế phát ca khúc này qua tiếng hát của cô Diệu Hương. Tôi không biết Diệu Hương là ai nhưng tiếng hát ấy đã làm tôi đứng tựa cột đèn, ngây ngất, đến bây giờ cảm giác ấy vẫn còn.

-Sau khi ca khúc Gái Xuân chào đời và được người yêu tân nhạc thời bấy giờ đón nhận một cách nhiệt tình. Vậy ông còn viết ca khúc Xuân nào nữa không?

- Viết ca khúc nói chung, Xuân nói riêng phải tuỳ vào thần hứng anh ạ! Nhiều lúc muốn viết mà viết không ra câu nào? anh cũng thấy rồi như nhạc sĩ La Hối chỉ viết một bài ” Xuân và tuổi trẻ”,Nhạc sĩ Ngọc Bích viết bài ” Mộng chiều Xuân”, nhạc sĩ Phạm Duy cũng chỉ hai bài” Hoa Xuân” và ” xuân ca”, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu chỉ viết bài “Em Tôi”, Nhị Hà chỉ viết bài “Trở về thôn cũ”…Sau đó có viết nữa đâu và những bài ấy vẫn đi vào lòng người yêu nhạc và ca khúc ấy vẫn vượt thời đó sao?

- Ngoài Gái Xuân( nhạc xuân) ông còn viết nhạc tình không?

-Ngoài Gái xuân, tôi viết khoảng 20 ca khúc nữa và những ca khúc này đều do tôi tự thể hiện. Ngoài ra, tôi thích đặt lời Việt cho một số ca khúc nước ngoài, trong đó có những ca khúc đã trở nên phổ biến tại Việt Nam từ năm 1957 như : Cánh bướm vườn xuân (Le Carisier et le pomier), Cánh buồm xa xưa (La Paloma…). Con gái tôi vừa đầu tư thực hiện đĩa CD Gái xuân gồm 10 ca khúc trong đó có các bài Mưa cao nguyên (thơ Hoàng Hương Sơn), Mưa tháng 6 (thơ Thường Đoan) và Mưa đời lãng du (thơ Trần Hữu Ngự).

Hy vọng CD mang chủ đề ” Gái Xuân” sẽ được bạn yêu nhạc đón nhận một cách nhiệt tình – Chúc ông một năm mới an khang- và hạnh phúc.

HHQ

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

‘Kẻ ngoại đạo’ Từ Vũ & Gái Xuân

Trong không khí rộn ràng cùa đất trời đang vào xuân, DongNhacXua.com xin gởi thêm tư liệu về bản ‘Gái xuân’ của nhạc sỹ Từ Vũ để người yêu nhạc có thêm thông tin.

‘KẺ NGOẠI ĐẠO’ TỪ VŨ & CA KHÚC ‘GÁI XUÂN’
(Nguồn: tác giả Đoàn Thạch Hãn đăng trên cand.com.vn ngày 19/11/2012)

Có những nhạc sĩ đã lưu lại được tên tuổi với đời chỉ bằng một tác phẩm duy nhất. Đó là trường hợp Lê Trạch Lựu với “Em tôi”, La Hối với “Xuân và tuổi trẻ”, Nhị Hà với “Trở về thôn cũ” và Lê Hoàng Long với “Gợi giấc mơ xưa”… Từ Vũ có đến 20 ca khúc, và một số bài hát ngoại quốc do ông đặt lời Việt. Tuy nhiên, nhắc đến ông, người ta chỉ nghĩ đến “Gái xuân” (phổ thơ Nguyễn Bính). Ca khúc này đã đưa ông lên hàng “chiếu trên” của làng âm nhạc Việt Nam, dù ông luôn khiêm tốn nhận mình chỉ là “kẻ ngoại đạo”.

Chỉ còn một năm nữa thôi là “Gái xuân” tròn 60 tuổi. Nhưng dường như ca khúc này vẫn trẻ mãi không già, cho dù tác giả bài thơ đã hóa thành người thiên cổ từ lâu, và người phổ nhạc giờ đây đã bước sang tuổi 80. Có thể nói, trong danh mục bài hát Việt, nói về mùa xuân, ngày càng dài thêm, thì “Gái xuân” vẫn là một trong những nhạc phẩm đặc sắc nhất. Hát thì cứ hát, nghe thì cứ nghe, nhưng có mấy người biết “Gái xuân” đã ra đời như thế nào? Phần lớn, người ta chỉ biết “Gái xuân” là một trong những bài thơ hay của thi sĩ Nguyễn Bính, được phổ nhạc một cách xuất thần. Nhưng ít ai biết, người đã thổi âm điệu cho hồn thơ đó bay cao chính là Từ Vũ.

Tên khai sinh của Từ Vũ là Trần Đỗ Lộc. Ông sinh năm 1932 tại Thường Tín, Hà Tây (nay là Hà Nội). Khác với nhiều nhạc sĩ đã làm quen với nốt nhạc từ thuở thiếu thời. Từ Vũ thì lại khác. Dù rất yêu thích bộ môn này, nhưng đến khi đã trở thành một thanh niên 18 tuổi, ông vẫn chưa biết vị trí của 7 nốt nhạc nằm ở vị trí nào trên khung, và một nốt đen khác với một nốt trắng ra làm sao! Năm 1950, ông theo gia đình vào Nam sinh sống. Một buổi chiều, lang thang trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi), ông ghé vào một tiệm sách ở khu vực E – Den, và tình cờ nhìn thấy nơi đây bày bán cuốn “L’ Art de Compositon Musiccale” (Nghệ thuật sáng tác âm nhạc). Thế là ông vội mua ngay, đem về nhà tự học một cách say mê, để từ đó nắm vững căn bản sáng tác ca khúc. Chính cuốn sách này là người thầy đầu tiên dẫn dắt Từ Vũ đi vào con đường âm nhạc.

Mùa xuân năm 1953, chàng trai Từ Vũ tròn 21 tuổi, sống kiếp tha phương giữa đất Sài Gòn hoa lệ, không có gia đình, người thân, bạn bè bên cạnh. Ông nằm trên gác trọ tìm quên nỗi buồn bằng sách báo cho vơi nỗi nhớ nhà. Bất chợt ông tìm thấy trong đống sách báo lộn xộn đó tập thơ “Mây Tần” của thi sĩ Nguyễn Bính. Khi đọc đến bài “Gái xuân”, một bài thơ thất ngôn rất ngắn, chỉ vỏn vẹn 2 khổ, 8 câu, ông đã rung động tận đáy lòng. Nhạc sĩ Từ Vũ nói: “Tôi không thể nén được cảm xúc khi đọc câu “Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”. Đích thị đây phải là một cô gái Hà Đông, quê tôi. Bởi lẽ, không chỉ lụa Hà Đông đã nổi tiếng từ ngàn xưa trên đất Bắc, mà gái Hà Đông cũng nổi tiếng đẹp đẽ, ngoan hiền, dịu dàng như lụa. Chẳng kém cạnh gì những cô gái quan họ Bắc Ninh. Rồi thì “…Đôi tám xuân đi trên mái tóc/ Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”. Thi sĩ Nguyễn Bính đã diễn tả tâm trạng cô gái quá tài tình. Tôi đọc đi, đọc lại bài thơ dăm ba lần là “ngấm” ngay vào máu, vào tim. Trong giây phút xuất thần, tôi viết ngay một mạch, không chỉnh sửa gì cả. Thế là thành nhạc phẩm “Gái xuân”.

Từ Vũ tiết lộ: “Có một điều, nguyên tác “Gái xuân” của Nguyễn Bính ngắn quá. Khi phổ nhạc, chẳng lẽ cứ lặp đi, lặp lại bấy nhiêu lời. Thành thử tôi mạn phép tác giả, thêm 3 câu trong khổ thơ này:

Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân
Cô gái trông xuân đến bao lần
Xuân đến hoa mai hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”

Sau khi hoàn thành “Gái xuân” cho đến khi bài hát được thịnh hành rồi đi vào lòng công chúng, mãi mãi tôi không một lần được gặp Nguyễn Bính để nói với ông một vài lời. Lòng tôi áy náy lắm! Không biết thi sĩ có gì trách móc hay không?

Không ai có thể nói thay Nguyễn Bính. Nhưng đứng trên phương diện nghệ thuật, chắc không ít người đồng tình rằng, nếu Từ Vũ không nói ra thì cũng chẳng mấy ai biết chuyện trên. Bởi vì, 3 câu mà ông thêm vào nghe cũng rất…Nguyễn Bính, và cũng chẳng kém phần tài hoa, đã nhập với toàn bộ bài thơ một cách hài hòa. Do đó, chắc Nguyễn Bính cũng vui lòng, bởi sự thêm thắt không làm mất đi giá trị và tứ thơ của nguyên bản. Nhưng sự áy náy của Từ Vũ chính là lòng tự trọng của một tài năng.

Theo lời kể của nhạc sĩ Từ Vũ thì ngày đó, ông có quen biết nữ ca sĩ Linh Sơn. Khi ra mắt “Gái xuân”, ông đã nhờ bà hát đầu tiên, nhưng không mấy thành công và Từ Vũ cũng không lấy làm hài lòng cho lắm. Một hôm, tình cờ gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn tại Đài Phát thanh Sài Gòn, bà Tâm Vấn trách ông sao không tặng bà bài “Gái xuân”? Ông đã viết vội ca khúc này lên một mảnh giấy và trao cho Tâm Vấn. Sau đó, Từ Vũ theo gia đình ra Phan Thiết và chưa được nghe Tâm Vấn hát một lần nào cả. Nhưng theo lời bạn bè viết trong những lá thư gởi cho ông thì Đài Phát thanh Sài Gòn đã thường xuyên phát đi, phát lại ca khúc “Gái xuân” với tiếng hát Tâm Vấn, rất được công chúng ưa thích. Đọc những lời đó, Từ Vũ rất vui. Nhưng ông không biết làm cách nào để chính tai mình có thể nghe được. Lúc bấy giờ phương tiện nghe nhìn như băng, đĩa còn quá nghèo nàn, khan hiếm. Ông lại ở xa, biết liên hệ với ai ở Đài Phát thanh Sài Gòn để biết trước họ sẽ phát lại “Gái xuân” vào thời điểm nào mà đón nghe. Thành ra mù tịt!

Một buổi tối cuối năm 1953. Từ Vũ rảo bước lang thang trên dường phố Phan Thiết trong cái se lạnh của buổi tàn đông ở vùng đất cực Nam Trung bộ. Bỗng dưng từ loa phóng thanh công cộng của Ty Thông tin Phan Thiết, tiếp sóng Đài Phát thanh Huế vang lên điệu nhạc Tango của bài “Gái xuân” qua tiếng hát của nữ ca sĩ Diệu Hương. Từ Vũ đã xúc động đến trào nước mắt. Đôi chân như bay bổng khỏi mặt đất, ông đứng dựa vào cột đèn, lắng nghe từng tiếng hát gõ nhịp trong tim. Đó là lần đầu tiên Từ Vũ gặp lại đứa con tinh thần của mình kể từ khi ông cho nó ra đời. Bài hát chấm dứt. Dù ông không biết Diệu Hương là ai, và đó là lần đầu ông mới nghe tên, thế mà cứ thẫn thờ, tiếc nuối! Biết bao giờ mới được nghe lại thêm lần nữa. Tối hôm đó, Từ Vũ không chợp mắt được. Ông nằm thương nhớ “Gái xuân” vang vọng mãi trong hồn giọng hát từ xứ Huế xa xôi. Đến bây giờ ca khúc này đã được nhiều ca sĩ trình bày thành công, và ông cũng có gần như đầy đủ băng đĩa lưu giữ, nhưng mỗi lần nhớ lại cái đêm hôm ấy đã trôi qua 60 năm trời, Từ Vũ vẫn còn đủ cảm xúc, ngất ngây như mới hôm qua.

Sau Linh Sơn, Tâm Vấn, Diệu Hương, đến lượt Thái Thanh, Sĩ Phú, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan, Hoàng Oanh, Lan Ngọc, Hương Lan, Băng Tâm, Ý Lan, Ánh Tuyết… và nhiều ca sĩ danh tiếng của thế hệ kế tiếp như: Trang Nhung, Quang Linh, Cẩm Ly, Hiền Thục, Hồng Ngọc, ban tam ca Áo Trắng, ban tam ca 3A…cũng hát “Gái xuân”. Nhất là vào dịp tết, cùng với “Ly rượu mừng”, “Xuân và tuổi trẻ”, “Gái xuân” là 3 ca khúc kinh điển, luôn vang lên trong từng mái ấm gia đình Việt Nam ở trong nước cũng như nhiều nơi trên khắp thế giới. Khi nghe ban tam ca Áo Trắng tập bài “Gái xuân”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Hồi mới lớn, “moa” đã rất thích bài này. Có thể nói, tết mà thiếu “Ly rượu mừng”, “Xuân và tuổi trẻ”, “Gái xuân” là đã mất đi một nửa mùa xuân”.

Một ca khúc được nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp hát, mỗi người một chất giọng, một phong cách khác nhau, nhưng hầu hết họ đều thể hiện thành công. Đó chính là điểm đặc sắc của Từ Vũ. Nói như giọng hát vượt thời gian Thái Thanh: “Bởi vì tự thân “Gái xuân” quá hay, khó mà hát dở cho được”. Khởi thủy, Từ Vũ viết “Gái xuân” bằng điệu tango dồn dập, lôi cuốn một cách sang trọng. Nhưng về sau, nhiều ca sĩ lại chuyển sang điệu Rumba, rồi Chachacha, với tiết tấu trẻ trung, phần phối âm, phối khí hiện đại, đã khoác cho ca khúc này một chiếc áo mới. Từ Vũ nhận xét: “Sự chuyển thể này tôi nghe cũng thấy hay, rộn ràng và tươi trẻ hơn. Vấn đề là vẫn giữ được cái hồn và tình cảm của ca khúc”.

Mặc dù chỉ với một “Gái xuân” thôi đã đủ để tên tuổi Từ Vũ vang danh với đời, nhưng ông luôn khiêm tốn nhận mình chỉ là “kẻ ngoại đạo”, rong chơi vào khu vườn âm nhạc mà thôi. Ông quả quyết: “Mọi lãnh vực sáng tác, kể cả âm nhạc đều tùy vào “thần hứng”. Không phải lúc nào cái giây phút thăng hoa, khiến tâm hồn mình bay bổng cũng đến. Một đời, đôi khi “thần hứng” chỉ đến một đôi lần, nếu không kịp ghi lại cảm xúc tuyệt vời đó là coi như chẳng có được gì”.

Đĩa nhạc mới nhất của nhạc sỹ Từ Vũ. Ảnh: cand.com.vn
Đĩa nhạc mới nhất của nhạc sỹ Từ Vũ. Ảnh: cand.com.vn

Cho dù Từ Vũ muốn hay không muốn, cuộc đời vẫn gọi ông là nhạc sĩ bằng tất cả sự trân trọng. Tròn tuổi 80, ông đang sống tại số nhà 19/14, đường Nguyễn Cửu Đàm, quận Tân Bình, Tp HCM một cách thanh thản. Vừa rồi, được sự tài trợ của con gái, như một món quà tinh thần đầy ý nghĩa dành cho cha trong buổi hoàng hôn của cuộc đời, Từ Vũ đã thực hiện CD “Gái xuân” với 10 ca khúc, trong đó có những ca khúc phổ thơ do ông sáng tác sau này như “Mưa Cao nguyên” (thơ Hoàng Hương Sơn), “Mưa tháng 6″ (thơ Thường Đoan), “Mưa đời lãng du” (thơ Trần Hữu Ngự). Có lẽ, đây là đĩa nhạc đầu tiên và cũng là duy nhất của ông. Theo nhạc sĩ Từ Vũ, làm để chơi, như một kỷ niệm lưu lại ở đời này.

Một ngày nào đó, Từ Vũ cũng sẽ từ bỏ cõi tạm này ra đi. Nhưng chắc chắn “Gái xuân” vẫn còn ở lại và trẻ mãi không già như lời hát mà ông đã thêm thắt. Phải chăng đó cũng là một lời tiên tri: “Xuân đi xuân đến hãy còn xuân”

Đoàn Thạch Hãn

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Gái Xuân (Từ Vũ – Nguyễn Bính)

Một mùa xuân nữa lại về trên quê hương Việt Nam. Trong không khí rộn rã của xuân Ất Mùi 2015, DongNhacXua.com xin gởi đến người yêu nhạc xưa bản “Gái Xuân” của nhạc sỹ Từ Vũ, phổ theo lời thơ của thi sỹ Nguyễn Bính.

Gái xuân (Từ Vũ - Nguyễn Bính). Ảnh: phomuaban.vn
Gái xuân (Từ Vũ – Nguyễn Bính). Ảnh: phomuaban.vn

gai-xuan--1--tu-vu--nguyen-binh--phomuaban.vn

NHẠC SỸ TỪ VŨ: ĐÃ TÌM THẤY MỘT MÙA XUÂN TUẦN HOÀN
(Nguồn: tác giả Kiến Lâm đăng trên HaNoiMoi.com.vn ngày 3012/2012)

Nhạc sĩ Từ Vũ (tên thật là Trần Đỗ Lộc), sinh năm 1932 tại Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Ông là tác giả của những giai điệu quen thuộc: “Em như cô gái hãy còn xuân. Trong trắng thân chưa lấm bụi trần”. Hơn nửa đời người từ bỏ bảy nốt nhạc, nay ông lại “hồi xuân” để viết tiếp những khúc ngợi ca tình yêu, mùa xuân.

Nhạc sỹ Từ Vũ. Ảnh: HaNoiMoi.com.vn
Nhạc sỹ Từ Vũ. Ảnh: HaNoiMoi.com.vn

Năm 1954 NXB Tinh Hoa cho ấn hành cuốn sách nhạc trong đó có tác phẩm “Gái xuân” của nhạc sĩ Từ Vũ. Điều đặc biệt “Gái xuân” là nhạc phẩm mang âm hưởng miền Bắc đã trở thành món ăn tinh thần được yêu quý ở miền Nam. Từ ca sĩ đến người dân miền Nam chưa một lần đặt chân đến đất Bắc nhưng vẫn hào hứng hát: “Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/Gái xuân rũ lụa bên sông Vân”. Chính ca khúc này đưa nhạc sĩ Từ Vũ ngang hàng với các nhạc sĩ nổi tiếng ở thế hệ trước. 60 năm sau, ca khúc “Gái xuân” vẫn sống khỏe qua các thế hệ ca sĩ và trở thành một nhạc phẩm thân thuộc không thể thiếu trong dịp tết đến xuân về từ Nam ra Bắc. 

Trong căn nhà nhỏ đường Nguyễn Cửu Đàm, quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh, nhạc sĩ Từ Vũ kể với chúng tôi về những nốt nhạc “định mệnh” đời mình: “Khi đọc đến “Gái xuân” của Nguyễn Bính, tự nhiên nỗi nhớ quê hương, nhớ thương người con gái đang ở một phương trời xa ập tới, nghẹn lại, tôi phổ nhạc cho bài thơ chỉ trong một giờ đồng hồ là xong. Viết xong, tức tốc đạp xe đến nhà ca sĩ Linh Sơn nhờ thể hiện để làm món quà tặng người bạn gái du học. Không ngờ ca khúc lại trở nên nổi tiếng”. Ông bảo, hãnh diện nhất là ca sĩ miền Nam, người miền Nam đã hát “Gái xuân”. Sở dĩ như vậy bởi năm 1950 nhạc sĩ Từ Vũ theo gia đình vào miền Nam sinh sống và thường bị bạn bè chê cười gọi là “cá gỗ”, “rau muống”. Mối tình đầu của nhạc sĩ Từ Vũ với một cô gái miền Nam tan vỡ vì bị gia đình cô gái cấm cản. Rồi mối tình thứ hai cũng chẳng thể an bài, người yêu lần này là cô bạn gái cùng lớp tên là Thanh Vân, hai người thương nhau suốt một kỳ học nhưng phải chia tay nhau vì Thanh Vân ra nước ngoài du học. Trong buổi chiều cô quạnh, chàng trai trẻ thương nhớ người yêu, thương nhớ mùa xuân đất Bắc tìm được tập thơ Nguyễn Bính và đọc đến bài thơ “Gái xuân” thì cảm xúc dâng trào..

Góa vợ từ năm 39 tuổi, một mình ở vậy nuôi 4 con trưởng thành, cuộc đời nhạc sĩ Từ Vũ gắn với sự cô độc và khó khăn. “Xa Hà Nội, xa mùa thu, xa buổi sáng đầu đông và xa nụ cười hoa đào chớm xuân, tôi mất cảm xúc không thể nào viết được, do đó không còn sáng tác được ca khúc xuân. Năm 1993, có dịp trở về thăm Hà Nội, không khí trong lành của ngày đầu chớm xuân, tôi chợt nghe lời hát “Gái xuân” và tự nhiên bồi hồi, xúc cảm!”. Nhạc sĩ Từ Vũ quyết định thay đổi. Ông dành thời gian để chăm sóc vườn hoa trên sân thượng, cùng bạn bè đi viếng mộ các thi nhân lớn của Việt Nam như Hàn Mặc Tử, nhà thơ Tương Phố. Ngoài ra, ông tiếp tục phổ nhạc bài thơ “Hai sắc hoa Ti gôn” của TTKH và bài “Giọt lệ thu” của nữ sĩ Tương Phố . Ông bắt mạch cảm xúc tìm về sáng tác các ca khúc xuân ở tuổi 80. Ông khoe với chúng tôi ca khúc “Ta tìm thấy nhau” bằng ánh mắt hân hoan về một mùa xuân tuần hoàn của cuộc đời. 

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Đi Từ Bình Minh Tới Cuối Buổi “Chiều Vàng” (Orchid Lâm Quỳnh)

Trong quá trình tìm kiếm những tư liệu hiếm hoi về nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh, DongNhacXua.com vô tình gặp được bài viết của tác giả Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của nhà thơ Du Tử Lê. Chúng tôi xin mạn phép đăng lại để người yêu nhạc có thêm thông tin thú vị về bà Đặng Thị Thuận, người vợ đã hy sinh rất nhiều cho sự nghiệp sáng tác của nhà nhạc sỹ mà chúng ta yêu mến!

ORCHID LÂM QUỲNH – ĐI TỪ BÌNH MINH TỚI CUỐI BUỔI CHIỀU VÀNG
(Nguồn: tác giả Orchid Lâm Quỳnh đăng trên DuTuLe.com) 

Lý do mạnh mẽ nhất, thôi thúc tôi phải gặp bà cho bằng được, có lẽ vì những điều tôi nghe được từ phần đời thường lặng lẽ, ơ hờ, tưởng chừng tẻ nhạt, kéo dài trên nửa thế kỷ của bà, với tác giả “Lời Thề Xưa,” “Chiều Gặp Gỡ,” “Tâm Sự với Cây Đàn,” hay “Chiều Vàng,” “Nỗi Lòng,”…chỉ là cái phần ngoài da, che đậy chịu đựng…Ở lãnh vực này, tôi nghĩ, có phần vượt trên mức hy sinh, chịu đựng của bà Tú Xương!

Orchid và Bà Nguyễn Văn Khánh, 2006 (Hình Orchid Lâm Quỳnh)
Orchid và Bà Nguyễn Văn Khánh, 2006 (Hình Orchid Lâm Quỳnh)

Sự ơ hờ hay tẻ nhạt của một đời người, tôi nghĩ, nó cũng giống như cái biểu hiện bề mặt của hiện tại một địa danh từng một thời nổi tiếng. Cũng hệt như những du khách đến với Hà Nội hôm nay, trong cung cách “cưỡi ngựa xem hoa,” sẽ chẳng ghi nhận được gì nhiều, ngoài khu Phố Cổ, một số thắng tích đã xuống cấp như Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, chùa Một Cột, đê Yên Phụ, chùa Quán Sứ…

Như mẹ tôi từng bảo tôi rằng, bất cứ một đế đô, một thành phố lịch sử nào trên thế giới, đều bị bụi, rác thời gian xóa nhòa, vùi lấp mọi hào quang quá khứ. Chỉ khi nào ta lắng lòng, đào xới dĩ vãng, khi đó, ta mới có thể bắt gặp những kết tinh quý giá làm thành lịch sử nghìn năm của địa danh ấy.

Với cá nhân tôi, trường hợp bà Nguyễn Văn Khánh, nhũ danh Đặng Thị Thuận, có lẽ cũng là một điều gì tương tự…

Qua chuyện kể và nhất là qua những chi tiết tôi được nghe từ ông bà Hoàng Giác / Kim Châu, thì đằng sau cái đời thường lặng lẽ, ơ hờ, tưởng chừng tẻ nhạt của bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận, là cả một không gian dữ dội, đắng cay…tới độ tôi không dám tin có thật!

Vì thế, tôi nghĩ “trời có mắt,” khi buổi chiều, định soạn hành lý, để trưa hôm sau ra phi trường, trở về Cali, thì một nhân viên khách sạn, đưa cho tôi tờ giấy viết tay của nhạc sĩ Hoàng Giác. Ông viết: 

“Cháu Quỳnh,
“Đã tìm được địa chỉ của vợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, có người tình nguyện đưa các cháu đến gặp gia đình tại ngõ Khâm Thiên. Sáng nay sang tìm cháu không gặp.
“Vậy cháu về thì hãy sang bác để gặp người họ hàng tới trực tiếp gia đình.”

“Bác Hoàng Giác.” 

hoang-giac--orchid-lam-quynh--dutule.com--dongnhacxua.com 

Tôi và Hân, quyết định đổi vé, hoãn chuyến bay về Mỹ. Hôm sau, trời mới hừng sáng, chúng tôi đã rời khách sạn, tới nhà nhạc sĩ Hoàng Giác.

Người phụ nữ tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi là một người trong gia tộc của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh. Cô sốt sắng, mau mắn và nhiệt tình. Tôi thấy giống như chúng tôi được đưa đi…“tìm trầm” vậy.

Trên đường đi, nửa đùa, nửa thật, cô bảo, đường đến nhà nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, “Khó không thua gì đường lên…trời. Chỉ cần không đi một thời gian, là quên ngay, lạc ngay!”

Đúng vậy! Tôi không nhớ chúng tôi được dẫn xuyên qua bao ngõ, trổ qua bao ngóc ngách dích dắt…Nhiều lần theo chân cô, rẽ vào những con ngõ rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho một người đi. Tôi không biết người ta sẽ phải làm gì, nếu chẳng may, đang đi, có một người ngược chiều?

Dường như cảm được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn chúng tôi trong đường “lên trời,” hỏi tôi: “Cháu có biết chúng ta đang đi trên những đoạn đường hẹp này, gọi là gì không?”

Tôi đáp:

“Không cô ạ!”

Cô bật cười, bảo:

“Ở đây, người ta gọi là cái…ngách đấy!”

Tôi cũng bật cười, bất ngờ, thích thú. Hồi nào giờ, tôi vẫn nghĩ hai chữ “ngõ ngách” chỉ là một danh từ kép. Ngôn ngữ Việt có nhiều, rất nhiều những danh từ kép, như thế. Tôi nói ra với cô, sự “vỡ nhẽ” của mình, thay cho lời cảm ơn. Cô vui lắm. Cô nhắn nhủ:

“Còn nhiều đều ở đây đáng cho con học đấy. Con phải về đây nhiều nhiều mới được.”

Tôi đáp:

“Vâng ạ,” và thấy “đường lên trời dường như đã phần nào ngắn bớt.

Cuối cùng, như một phần thưởng xứng đáng cho lòng chân thành, tha thiết của mình, chúng tôi cũng tìm ra chỗ ở đầu tiên, và sau chót của tác giả “Nỗi Lòng.”

Tôi không biết cảm giác của Hân! Riêng tôi, ngay khi vừa bước chân vào căn nhà, như một di tích của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, tôi đã có cái cảm giác vắng vẻ, bùi ngùi…Nó rất gần với một ca từ, trong ca khúc “Chiều Vàng” của ông: 

“Giờ đây viếng thầm hồn cố nhân – Năm tháng trôi theo sóng gió đời…” 

Nếu tôi hiểu không lầm thì ca khúc này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh viết gửi cho linh hồn một người yêu của ông, đã mất. (Hay ít ra thì, dù người đó vẫn còn sống, nhưng với ông, kể như đã quá cố…!)

Ngoài cụm từ “…viếng thầm hồn cố nhân,” trước đó còn có một ca từ khác của ông, cho thấy tính cách này dứt khoát hơn, rõ ràng hơn nữa, đó là câu: 

“Hồn em có cùng người chứng minh…” 

Thêm ca từ này, tôi nghĩ người nghe có thể khẳng định rằng “cố nhân” hay “người xưa” của ông, trong ca khúc, đã đi khỏi cuộc đời này.

Nếu suy nghĩ của tôi không sai, thì “Chiều Vàng” có lẽ là ca khúc đầu tiên (và duy nhất?) của nền tân nhạc Việt Nam, được viết cho một người tình đã chết.

Mấy chục năm sau, một người ngưỡng mộ tài hoa Nguyễn Văn Khánh, thuộc thế hệ 1,5 là tôi, đâu ngờ, khi có cơ hội tìm thăm ông; thì chính ông, tác giả, cũng đã từ lâu, qua đời! Và tôi (chứ không phải ông,) tìm đến để thầm viếng linh hồn ông (chứ không phải linh hồn cố nhân của ông!)

Tuy thế, tôi vẫn thấy tôi may mắn. Tôi hạnh phúc hơn rất nhiều người khác. Ít ra tôi vẫn có cơ hội được gặp gỡ, được nhìn tận mắt, được chạm bằng tay vào xương thịt người bạn đời của ông: Bà Đặng Thị Thuận. Bởi vì, trước sau gì, thời gian rồi cũng sẽ đem bà về bên kia thế giới, với ông. Cũng như thời gian đã đem đi khỏi cuộc đời này, khỏi chúng ta một Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Tuân, Văn Cao…Và, gần hơn, là một Phạm Đình Chương, Lê Thương, Mai Thảo, Nguyên Sa, Văn Phụng, Tạ Tỵ, Đỗ Ngọc Yến…   

Tiếp tôi trong căn nhà, nơi ở cuối cùng của tác giả “Nghệ Sĩ với Cây Đàn,” là bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận và, anh Nguyễn Mạnh Phú, trưởng nam của ông bà. Có thể vì có chung với nhau một mẫu số, là lòng yêu mến, trân trọng tài năng người quá cố, nên dù chỉ là hàng con, cháu, lại mới gặp lần đầu, nhưng chúng tôi đã được bà Nguyễn Văn Khánh đối xử với một tinh thần cởi mở, thoải mái. Giống như thể bà, cháu chúng tôi cùng hè nhau kể “chuyện xấu” người ông thân yêu, vắng mặt.

Ở tuổi 86, vào mùa hè, Hà Nội, 2006, bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận đã tặng cho chúng tôi những nụ cười móm mém hồn nhiên; những sôi nổi, hào hứng qua giọng nói trầm, bổng phản ảnh nhịp chảy dồn dập, hay khoan nhặt của dòng suối kỷ niệm, dĩ vãng.

Tôi cũng ghi nhận được, một cách hạnh phúc xen lẫn ngậm ngùi, khi đôi mắt già nua; khi lớp da nhăn bởi mưu sinh, đã lên nước thời gian; và luôn cả những sợi tóc mai bạc thếch, phất phơ sót lại…chốc chốc lại ánh lên niềm hãnh diện, hân hoan.

Tôi cũng hạnh phúc ước ao, phải chi những giây phút, những hình ảnh bất chợt tôi ghi nhận được từ nơi bà, sẽ mãi mãi còn đó. Tôi muốn nói những lần bà lấy tay che…miệng! Cử chỉ tố cáo sự e thẹn, xấu hổ nơi bà! (Một hành động thường chỉ thấy ở những thiếu nữ mới lớn)

Đó cũng là lúc, tôi chợt thấy hàm răng đen lánh, hạt huyền còn giữ được của bà, mới đẹp làm sao!

Cử chỉ, hàm răng hạt huyền của bà Nguyễn Văn Khánh / Đăng Thị Thuận, giúp tôi hiểu rõ hơn, thấy hay hơn, mấy câu ca dao sau đây: 

“Năm quan mua lấy miệng cười,
“Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.” 

Với những người của Hà Nội cũ, ở thập niên 1940, nhiều người, tới giờ còn nhớ, ở khu Khâm Thiên, có một thiếu nữ nổi tiếng về nhan sắc và, giỏi giang, nết na, tên là Đặng Thị Thuận. Khi ấy, dân số Hà Nội còn thưa thớt. Nên người con gái họ Đặng đã sớm được nhiều gia đình thế giá ngắm nghía, cầu cạnh cho con trai họ.

Phần mình, Đặng Thị Thuận lại không một chút bận tâm về đường chồng con.

Nhưng, người con gái họ Đặng, không trong lớp người này. Nàng thuộc thành phần thiếu nữ bên ngoài. Nàng cũng không màng tới những trào lưu Văn học, Nghệ thuật phương Tây, đang thay da, đổi thịt Hà Nội. Nàng chỉ chú tâm vào việc giúp cha mẹ, chăm lo gia đình.

Cho nên, đầu năm 1942, được bà dì mai mối cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh,  thoạt tiên, người con gái họ Đặng đã lạnh lùng từ chối. Thậm chí, nàng cũng chẳng có cái tò mò coi mặt chàng trai đến nhà cầu hôn mình.

Bây giờ, nhớ lại, với nụ cười móm mém hân hoan, bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận kể tiếp:

“…Vì bà dứt khoát không chịu, nên bà đâu có coi mặt ông! Ấy vậy mà bà chị dâu của bà thì lại tò mò, hăng hái bảo với bà rằng:

“Mày không chịu, nhưng cứ để tao ra coi cái mặt mẹt của nó xem sao…”

Và, con biết không, chỉ ít phút sau, bà ấy chạy vào bếp, kháo với bà rằng, ‘Tao thấy mặt mũi nó được đấy, Thuận à.’ ”

Vì đã được coi ảnh nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh trước khi gặp bà, tôi bèn ngắt lời bà:

“Chứ không phải bà đã biết rõ từ trước, là ông đẹp trai quá trời à? Bây giờ ông mất rồi, bà nói thiệt con nghe đi!”

Người bạn đời của tác giả “Chiều Vàng,” ở tuổi 86, cười thẹn, lấy tay che miệng, chối:

“Ối dào! Bà mà nói dối cho trời chu đất diệt bà đi…”

Tôi vội ôm bà:

“Bà ơi! Con chọc bà đó mà!”

Sau đấy, khi biết cha mẹ, các anh các chị trong nhà cùng “chấm” nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, người con gái họ Đặng, cuối cùng, nhận lời lên xe hoa. năm đó, bà nói:

“Bà đúng 20 tuổi!”

Cuộc hôn nhân thuở ban đầu, không được khởi đi từ một tình yêu có trước. Nhưng, không vì thế mà sau đó, người con gái họ Đặng, một thời nổi tiếng nhan sắc khu Khâm Thiên, không yêu thương chồng, trái lại…

Bà kể, những năm đầu của cuộc hôn nhân, tác giả “Nỗi Lòng” thường xuyên ở nhà. Ông tự tạo lấy cho mình một căn nhà nhỏ, như một không gian riêng, để làm việc.

Căn phòng, hay cái không gian riêng đó, của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, không xa ngôi nhà chính bao nhiêu. Nhưng nó lúp xúp, nhỏ bé như một cái hang. Nó lại được làm dưới gốc cây đa, cho nên sau này, mọi người, cũng như gia đình và, chính ông, cũng gọi một cách thân yêu là: “Cái Miếu.”

Nguyễn Mạnh Phú, Orchid, bà Nguyễn Văn Khánh (Hình Orchid Lâm Quỳnh)
Nguyễn Mạnh Phú, Orchid, bà Nguyễn Văn Khánh (Hình Orchid Lâm Quỳnh)

Theo lời kể của anh Nguyễn Mạnh Phú, trưởng nam cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh thì chính ở tại cái Miếu kia, nhạc phẩm đầu tay, nhan đề “Thu,” viết cho thân mẫu của anh, ra đời năm 1946. Kế tiếp, là những ca khúc như “Chiều Vàng,” rồi “Nỗi Lòng,” được thân phụ anh viết năm 1951.

Cũng thời gian này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh đã viết ca khúc “Nghệ Sĩ với Cây Đàn.” Anh Phú kể:

“Bản nhạc ấy, ông viết sau khi đi Bắc Ninh, thăm một người yêu cũ, nhưng không gặp được…”

Cũng trong cái Miếu (bây giờ vẫn còn) cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh đã sáng tác những ca khúc khác, tương đối cũng được nhiều người biết, như “Chiều Gặp Gỡ,” “Lời Thề Xưa,” hay Tâm Sự với Cây Đàn”…

Nhưng, điều mà bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận hãnh diện, hạnh phúc kể cho chúng tôi nghe là:

“Lúc ông ngồi viết nhạc trong miếu, bao giờ bà cũng là người ngồi sau, cầm quạt, quạt cho ông đấy, con ạ!”

Mặc dù, bà cũng không quên nhấn mạnh rằng, bà không biết gì về âm nhạc. Bà cũng chẳng quan tâm bao nhiêu tới các ca khúc của ông; ngoài ý thức tôn trọng chồng, tôn trọng công việc và sự nghiệp của chồng. Bên cạnh đó, bà cũng là người tần tảo, lặng lẽ tự lực nuôi ba người con bà có với ông.

Tính tới ngày 20 tháng 8 năm 1976, là ngày tác giả “Chiều Vàng” từ trần, Tôi không biết bà Nguyễn văn Khánh / Đặng Thị Thuận đã được sống bên chồng bao nhiêu năm tháng! Ngay bà khi được hỏi, bà cũng không biết. Chỉ biết, như bà kể, thì rất ít.

Bà nói, trong suốt 34 năm làm vợ tác giả “Nỗi Lòng,” trừ một thời gian ngắn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh bị tù vì trốn lính thời Pháp thuộc; tổng số thời gian ông ở nhà, chỉ khoảng một phần ba, hai phần ba của quãng đời chồng vợ này, là thời gian nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh rong ruổi theo những đam mê tình ái, với nhiều phụ nữ khác!

Một trong những phụ nữ khiến tác giả “Lời Thề Xưa,” quên bẵng lời…thề, bỏ nhà ra đi dài lâu nhất; đến độ đã có với người đàn bà đó, 7 người con; là người phụ nữ tên Sâm, cô là một ca sĩ. Tôi nghĩ rằng hình ảnh người đàn bà này, nhiều phần sẽ mãi ở trong ký ức chịu đựng, nhẫn nhục của bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận.

Sở dĩ tôi có cho mình cảm tưởng này, bởi vì, mùa hè năm 2006, dù đã ở tuổi 86, khi kể tôi nghe, câu chuyện về người phụ nữ có tới 7 con với chồng mình, bà Nguyễn Văn Khánh còn nhắc, từng tiếng: “…tên là Lê Thị Sâm!”

Bà cũng kể thêm rằng, ba năm trước khi chồng bà qua đời, bà Sâm đã quyết liệt xua đuổi tác giả “Nỗi Lòng!”

Không còn chọn lựa nào khác, nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh buộc lòng phải trở về với vợ con; cùng chứng bệnh viêm quai hàm, giai đoạn cuối.

Đó cũng là thời gian thân phụ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh năn nỉ cô con dâu cả, đem hai đứa con nhỏ bệnh tật, quặt quẹo, còn sống sót trong số 7 đứa con của kẻ “cướp chồng” mình về nuôi “làm phúc.”

Không một ai biết được bà Nguyễn Văn Khánh / Đặng Thị Thuận có thực tâm tự nguyện nuôi hai đứa con bệnh tật của “kẻ thù,” (chữ này của tôi,) lấy phước; hay chỉ vì nể lời cha chồng? Nhưng, mọi người đều công nhận, nếu không có công sức chăm sóc ngày đêm, chạy chữa, bác sĩ, thuốc men…của bà, thì hai người con của bà Sâm chắc chắn cũng đã chung số phận ngắn ngủi như 5 anh chị của họ, trước đấy.

Trước việc làm cực kỳ nhân đức, cao thượng của mình, bà Nguyễn Văn Khánh đã rất chân thành, khiêm tốn, khi nói:

“Nhiều người bảo bà…’mát’ tay nuôi con nhỏ…”

Anh Nguyễn Mạnh Phú kể thêm:

“Mẹ tôi đã cứu sống hai đứa con riêng của bố tôi và người vợ lẽ như một phép lạ!”     

Riêng bà Sâm thì đã từ trần năm 1979, khoảng trên dưới 3 năm, sau cái chết của thân phụ anh.                                     

“Bà ấy không được thấy hai đứa con còn lại của bà ấy với bố tôi, nay đã nên người…” Anh Phú kết luận một cách hân hoan và tiếc rẻ.

Tôi không thể hình dung, và cũng không thể tưởng tượng, sau chừng đó cay đắng, chịu đựng, vậy mà, mỗi lần, khi tôi cố tình chọc ghẹo bà, bằng những câu hỏi lập đi lập lại nhiều lần; đại ý như “Bà có ghen với ông không?” “Đã lần nào bà đi đánh…ghen chưa?” Hoặc, “Bà có biết bài này ông làm cho cô nào không?” Thì bao giờ bà cũng đáp, trước nhất, bằng những nụ cười móm mém hồn nhiên, nét duyên dáng xưa cũ…Và, sau đó là những lời nói ngắn gọn, dứt khoát. Thí dụ như:

“Không.”
“Chả đời nào.”

Hoặc:

“Không.”
“Chả bao giờ!”

Hay:

“Không.”
“Tôi không ghen.”
“Tôi mặc kệ.”
Bà cũng kể, có lần các chị em bên chồng rủ bà đi đánh ghen…Nhưng bà từ chối. Bà bảo:

“Ai đi thì đi. Tôi í à…tôi chả đi đâu hết!” 

Trước khi chúng tôi phải chia tay, bằng một giọng thản nhiên, với đôi mắt đục nắng mưa, năm tháng, thỉnh thoảng, hướng về phía bàn thờ chồng, nơi mà sau di ảnh là bài hát “Nỗi Lòng,” do chính nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh kẻ nhạc, viết lời, bà tâm sự:

“Vậy đó! Con biết không, sau những năm tháng bỏ vợ, bỏ con đi biền biệt như thế, nhưng mỗi khi ông đau ốm hay bị chúng nó đuổi ra khỏi nhà, trở về với bà, bà vẫn lo cơm nước chu đáo cho ông. Mỗi khi ông ra ngoài cái Miếu viết nhạc, hay làm gì đó, chớ bao giờ bà quên mang ra cho ông một chai rượu… Bà cũng không ngừng tay quạt cho ông đâu nhé! Dù cho bà chẳng biết, và cũng chẳng bao giờ hỏi ông viết gì?…” 

Bà cho tôi cảm tưởng, nội việc là: “Bà Nguyễn Văn Khánh,” chừng đó thôi, với bà, đã quá đủ!

(May 2007) 

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

‘Nỗi lòng’ trong ‘Chiều vàng’ (Nguyễn Văn Khánh)

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh (? – 1976) là một trong số những nhạc sỹ để lại cho hậu thế chỉ một vài tác phẩm nhưng những sáng tác ấy đã trở thành bất hủ. ‘Nỗi lòng’ và ‘Chiều vàng’ là hai bản nổi bật mà người nhạc sỹ tài hoa để lại cho người yêu nhạc chúng ta. DongNhacXua.com xin trân trọng giới thiệu dòng nhạc Nguyễn Văn Khánh cùng bài viết của nhà báo Hà Đình Nguyên.

Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

chieu-vang--1--nguyen-van-khanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

NHỮNG BÓNG HỒNG TRONG THƠ  NHẠC: CÓ MỘT “CHIỀU VÀNG” TRẢI “NỖI LÒNG”
(Nguồn: nhà báo Hà Đình Nguyên đăng trên ThanhNien.com.vn ngày 16/02/2012)

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ 2 của nền tân nhạc VN. Tuy nhiên, ông chỉ để lại vài tác phẩm, trong đó nổi bật là các ca khúc Chiều vàng và Nỗi lòng…

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn

“Ngón nghề độc chiêu” của Nguyễn Văn Khánh là chơi đàn guitar Hawaienne (Hạ uy cầm). Không biết ông học từ ai, nhưng theo Hoài Nam trong 70 năm tình ca âm nhạc Việt Nam (Đài SBS, Úc, thực hiện) thì trước 1954, ở Hà Nội chỉ có 2 nhạc sĩ chuyên đàn và sáng tác cũng như dạy đàn bằng Hạ uy cầm là William Chấn (thầy của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) và Nguyễn Văn Khánh. Riêng ông Khánh lại đánh đàn bằng tay trái, cho nên “nếu không phải là… thiên tài thì cũng là người có khả năng đặc biệt”. Cùng thời với ông là những nhạc sĩ: Hoàng Dương, Hoàng Trọng, Nguyễn Thiện Tơ, Hoàng Giác, Tu My, Hùng Lân… góp phần làm nên thời cực thịnh của tân nhạc VN thập niên 1944-1954…

Dạo nền tân nhạc mới thành hình ở nước ta (đầu thập niên 1940), “các chàng nghệ sĩ Tây nhạc” luôn là thần tượng của nhiều cô gái, nhất là ở các chốn thị thành. Ở Hà Nội, Nguyễn Văn Khánh mở lớp dạy Hạ uy cầm và Tây ban cầm ở gần ga Hàng Cỏ (lối đi xuống chợ Khâm Thiên), phía trước nhà có một cái ao, bên kia ao là nhà trọ của các nữ sinh. Những đêm trăng sáng, Khánh đem đàn ra sân chơi, tiếng đàn Hạ uy cầm réo rắt… Phía bên kia ao, đám nữ sinh rủ nhau ra ngồi nghe đàn trông như một đàn cò trắng.

Vậy mà ở gần đó, ngay phố Khâm Thiên, có một thiếu nữ đẹp người, đẹp nết nhưng lại chẳng chút động lòng hoặc tơ tưởng đến “các chàng nghệ sĩ Tây nhạc”, nàng chỉ chăm lo phụ giúp cha mẹ. Cô gái ấy tên Đặng Thị Thuận. Cô gái không màng đến những chàng nghệ sĩ hào hoa kia lại “bị” bà dì của mình mai mối cho Nguyễn Văn Khánh. Lúc đầu, cô Thuận cứ “ứ thèm”, chẳng cần biết Khánh là ai, thậm chí khi nhà trai đem lễ vật đến chạm ngõ, cô cũng chẳng thèm… len lén xem mặt anh chàng kia như những cô gái khác thường làm. Ấy thế nhưng, bà chị dâu của cô lại xăng xái: “Mày không chịu, nhưng cứ để tao xem cái mặt mẹt của nó xem sao!”. Lát sau, bà chị dâu ấy chạy vào bếp, mách: “Tao thấy mặt mũi nó cũng được đấy, Thuận à!”… và được sự “động viên” của những người thân trong gia đình, cô Đặng Thị Thuận chính thức trở thành bà Nguyễn Văn Khánh vào đầu năm 1942. Khi ấy cô 20 tuổi!

Vợ chăm chồng viết nhạc cho người yêu

Cuộc hôn nhân tuy không hình thành từ tình yêu trước đó nhưng không vì thế mà cô Thuận đẹp người, đẹp nết lại quên mất cái “nết” của mình. Cô một mực ân cần chăm lo cho chồng, thậm chí lo cả cho gia đình nhà chồng. Có lẽ cảm được tấm chân tình của vợ nên mấy năm đầu của cuộc hôn nhân này ông Khánh “tu chí”, thường xuyên ở nhà (bởi sau đó là quãng thời gian dài ông đi phiêu bạt giang hồ). Thời gian này, ông cất căn nhà nhỏ, không xa ngôi nhà chính là mấy, vì căn nhà nhỏ ấy nằm lúp xúp bên một gốc đa nên cả nhà và cả chính ông đều gọi một cách thân thương là “cái miếu”. Đó là không gian riêng của ông, nơi ông ngồi để sáng tác các ca khúc riêng tặng… những người phụ nữ khác! (thực ra ca khúc đầu tay của Nguyễn Văn Khánh có tựa là Thu, viết năm 1946 được riêng tặng cho vợ, nhưng vì tặng vợ nên cô Thuận cất làm kỷ niệm, thành ra không phổ biến), còn những Chiều vàng, Nỗi lòng, Nghệ sĩ với cây đàn, Lời thề xưa, Chiều gặp gỡ… (sáng tác từ năm 1951 trở về sau) đều viết cho những phụ nữ khác. Mỗi khi viết xong một ca khúc, ông Khánh thường tự tay mang lên Đài phát thanh Hà Nội rồi tự hát: “Yêu ai, yêu cả một đời. Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta. Đau tủi cả lòng, vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…” (Nỗi lòng). Rồi “…Lời thề nguyền ngờ đâu xa vắng. Tình tràn đầy sầu chung non nước. Hồn em có cùng người chứng minh. Anh bước ra đi luyến tiếc hoài. Đời còn có em nay là thôi… (Chiều vàng).

Bà Thuận, vợ nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn
Bà Thuận, vợ nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh. Ảnh: ThanhNien.com.vn

Chuyện ông viết ca khúc vì những người phụ nữ khác là có thật (trừ bài Thu). Người nhà ông kể rằng bài Nghệ sĩ và cây đàn được ông viết sau chuyến đi Bắc Ninh thăm người yêu cũ nhưng không gặp. Lạ một điều, mỗi lần ông ngồi viết nhạc trong “miếu” thì lúc nào bà Thuận cũng ngồi phía sau cầm quạt, quạt cho ông. Bà không biết tí gì về âm nhạc, cũng chẳng quan tâm ông viết nhạc cho ai ngoài việc tôn trọng chồng và tôn trọng nghề nghiệp của chồng…

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh mất ngày 20.8.1976, bà Thuận tính, vậy là bà làm vợ ông những 34 năm, nhưng khoảng thời gian ông ở cạnh bà chỉ bằng một phần ba con số đó. Hai phần ba thời gian còn lại ông đuổi theo những cuộc tình khác, và người khiến cho ông “bận bịu” nhất là Lê Thị Sâm – bà này đẻ cho ông Khánh những 7 đứa con. Tuy thế, vào năm 1973 bà Sâm cũng quyết liệt xua đuổi “bố của bầy trẻ” ra khỏi nhà khi ông bị chứng viêm quai hàm – giai đoạn cuối. Bà Thuận lại mở rộng vòng tay đón “chàng nghệ sĩ Tây nhạc… đa tình” trở về mái nhà xưa lo thuốc thang. Chẳng những thế, bố chồng của bà lại năn nỉ cô con dâu “đẹp người, đẹp nết” đưa 2 đứa con quặt quẹo của chồng bà với bà Sâm (5 người con trước của họ mất vì bệnh) về nuôi “làm phúc”. Ai cũng khen bà nhân hậu, cao thượng, bà chỉ cười, khiêm tốn: “Tôi chỉ được cái nuôi con nhỏ “mát tay”!”. Bà Sâm mất năm 1979, không thấy được hai người con của mình giờ đây đã được nuôi dạy nên người…

Hà Đình Nguyên

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than

Nhân ngày giỗ đầu của ca sỹ Hà Thanh, được sự cho phép của ban quản trị trang CaSiHaThanh.wordpress.com, DongNhacXua.com xin trích đăng bài viết của học giả Nguyễn Đắc Xuân về người ca sỹ đã được ái mộ qua nhiều thế hệ. Tựa bài viết “đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than” là một câu trong bản “Tiếng Sông Hương” của nhạc sỹ Phạm Đình Chương.

ĐÊM ĐÊM KHUA ÁNH TRĂNG VÀNG MÀ THAN
(Nguồn: bài viết của học giả Nguyễn Đắc Xuân đăng trên CaSiHaThanh.wordpress.com)

Ca sỹ Hà Thanh. Ảnh: CaSiHaThanh.wordpress.com
Ca sỹ Hà Thanh. Ảnh: CaSiHaThanh.wordpress.com

Đầu năm 1966, nhạc sĩ Phạm Duy ra Huế với tập Mười bài Tâm ca do Lá Bối xuất bản. Phạm Duy được tiến sĩ Lê mời về ở lại gian hộ của ông tại 2 Lê Lợi, Huế. Tôi kể lại chuyện được ca sĩ Hà Thanh hát cho nghe lần đầu bài Tâm ca số 5 Để lại cho em. Nhạc sĩ Phạm Duy đề nghị tiến sĩ Lê mời Hà Thanh qua 2 Lê Lợi hát chơi. Thế là buổi hát Tâm ca đầu tiên diễn ra ở Huế. Mỗi bài Tâm ca Hà Thanh chỉ đọc qua là có thể hát được ngay. Trong không khí bức xúc không được thể hiện khát vọng hòa bình, không được phản đối chiến tranh của Mỹ, bài Tâm ca số 1 Tôi ước mơ phổ thơ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, qua giọng Hà Thanh lần đầu tiên oà vỡ mất sự sợ hãi trong tâm trí chúng tôi.

“Tôi vẫn sống, tôi vẫn ăn và tôi vẫn thở… Nhưng đến bao giờ tôi mới nói được điều tôi ước mơ… Tôi ước mơ?”

Tiếng hát hay, nội dung câu hát kích vào nỗi khát vọng của mọi người gây nên một hiệu ứng cảm thụ lạ lùng. Ước mơ của Thiền sư Nhất Hạnh cũng là ước mơ của dân tộc lúc ấy.

“Ông Hoàng âm nhạc” Phạm Duy hết lời ca ngợi tài năng của Hà Thanh. Lần đầu tiên ca sĩ Hà Thanh biết đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Chị ngỏ ý muốn tìm đọc cả tập thơ Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện của nhà sư vừa ở Hoa Kỳ về. Tiến sĩ Lê không giấu được sự cảm phục, say đắm của mình. Ông gọi xe chạy qua phố mua về tặng ngay cho Hà Thanh một chiếc ghi ta của Ý. Thùng đàn của Ý to hơn thùng đàn sản xuất ở Việt Nam, tiếng đàn rất ấm, hợp với giọng Hà Thanh vô cùng. Tiến sĩ Lê tỏ tình với ca sĩ Hà Thanh qua món quà văn nghệ ấy. Và, cũng từ ấy tiến sĩ Lê và tôi có nhiều dịp qua lại gặp gỡ chuyện trò với ca sĩ Hà Thanh…..

Ca sỹ Hà Thanh. Ảnh: CaSiHaThanh.wordpress.com
Ca sỹ Hà Thanh. Ảnh: CaSiHaThanh.wordpress.com

Sau chín năm băng rừng, lội suối, xuôi ngược Trường Sơn, suýt chết nhiều lần tôi may mắn được sống sót chứng kiến được ngày đất nước thống nhất. Tôi tìm bà con, bạn bè chia sẻ hạnh phúc hòa bình. Vào Sài Gòn, tôi đi tìm ca sĩ Hà Thanh. Phải khó nhọc lắm mới tìm ra được nơi ở của chị trong tòa nhà tại ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Võ Thị Sáu ngày nay. Tôi không hiểu tòa nhà đó của ai và do đâu chị được ở đó. Tòa nhà lớn và toàn người lạ nên hỏi mãi mới đến được chỗ chị đang ở. Tôi thật không thể nào hiểu nổi: Ca sĩ Hà Thanh với đứa con gái ba bốn tuổi ở dưới gầm cầu thang trong tòa nhà lớn ấy. Ca sĩ Hà Thanh ngồi trên một chiếc chiếu éc bên cạnh dựng cây đàn ghi ta, một cái va li, một chiếc lò sô và một thau đựng vài cái chén dĩa. Chị ngước nhìn tôi miệng cười với đôi hàm tăng trắng muốt. Hai dòng lệ rơi xuống chiếu, chị nhoài người ra đứng dậy bắt tay tôi. “Ôi Xuân! Xuân… mà!”. Tôi hiểu chị muốn nói Xuân chết rồi mà! Nhiều người cũng đã tưởng như vậy nên tôi hiểu ý chị ngay. “Đáng lẽ chết rồi nhưng bom đạn và sốt rét chê nên còn sống đây”. Tôi định hỏi vì sao chị lại rơi vào hoàn cảnh như thế nầy nhưng tôi sợ ảnh hưởng đến niềm vui chị đang gặp lại bạn cũ sau gần chục năm chiến tranh, lời đã ra đến môi tôi ngậm lại. Hà Thanh kéo tôi ngồi xuống chiếu chị cho biết chồng chị là Trung tá thiết giáp Bùi Thế Dung đang đi học tập, chỗ ở cũ bị giao cho chủ mới, chị đang chờ tìm chỗ ở khác nên mẹ con tạm thời ở đây. Chị nói với giọng rất tự nhiên, không một chút bối rối xúc động. Tôi đọc được sự vui mừng đất nước được hòa bình trong giọng nói của chị. Sự “đổi đời” của gia đình chị như một lẽ tự nhiên. Nói chuyện một lúc, chị như sực nhớ ra điều gì và bảo tôi:

– Tối rồi, còn chén cơm mình chiên lên cùng ăn nghe!

Lời mời của Hà Thanh dưới gầm cầu thang cũng hồn nhiên không khác nào lời mời những bữa tiệc diễn ra ở nhà chị 18 Huyền Trân Công Chúa mười năm trước ở Huế. Một chén cơm nguội chia cho ba người mà sao tôi ăn thấy ngon làm sao. Ăn xong, chị quay lại lấy cây đàn và bảo tôi:

– Mừng chiến tranh chấm dứt, mừng Xuân bình yên trở về Hà hát tặng Xuân bài Tiếng sông Hương của Phạm Đình Chương nhé!

Tôi chưa kịp cám ơn thì bị cháu Kim Huyên dùng dằng tỏ ra khó chịu. Tôi hơi ngượng với cháu. Chị biết thế nên bảo con:

– Cậu Xuân là bạn của mẹ và của mấy dì, cậu đi xa mới về, mẹ hát mừng cậu. Con ngoan mẹ thương!

Kim Huyên không vùng vằng nữa nhưng mặt không vui. Hà Thanh so dây rồi cất giọng hát: “Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương Giang…” Tiếng hát chị vút lên “vọng tiếng”và hạ dần xuống “em xinh em bé” êm ái lạ thường. Tiếng hát như một làn gió mát dịu xuyên qua đầu óc đang đan xen những vui buồn của tôi. Tôi lặng người đi và tự nhiên tôi cảm thấy sợ không dám nhìn sự hồn nhiên của chị. Bỗng nhiên chị nhìn tôi và nở một nụ cười khi bắt đầu hát đến mấy câu: “Hò ơi, bao giờ máu xương hết tuôn tràn/ Quê miền Trung thôi kiếp điêu tàn/ Cho em vang khúc ca nồng nàn/ Ngày vui tan đao binh/ Mẹ bồng con sơ sinh/ Chiều đầu xóm/ xôn xao đón người hùng binh/ Ngậm ngùi hân hoan tiếng cười đoàn viên”.

Nếu người khác tặng tôi câu hát nầy giữa lúc này thì tôi sẽ nghĩ họ trêu tôi. Nhưng đối với Hà Thanh thì không phải thế. Nội dung bài hát mâu thuẫn với hoàn cảnh bi đát hiện tại của chị nhưng nó lại lô-gíc với tình bạn của chị với tôi. Một cảm tưởng được và mất trong tôi. Được nhiều nhưng mất cũng không nhỏ. Tôi lặng người và chỉ nói được một câu:

– Thấm thía quá chịu Hà ơi!.

Bỗng nhiên cháu Kim Huyên khóc ré lên, chị lại dỗ cháu. Chị hát cho tôi nghe những bài mới ra đời từ sau ngày tôi thoát ly theo kháng chiến. Chị tự đệm đàn cho chị hát. Chị hát say sưa. Hát toàn bài vui. Chị hát đến khuya. Kết thúc bằng bài Hoa xuân. Đến lúc nầy tôi mới ngộ ra rằng chị hát không những để tặng tôi mà tôi cũng là một cơ hội để chị hát. Hát để vượt qua sự thử thách quá lớn chị đang cố gắng vượt qua. Biết thế nên tôi không dám chia tay chị dù trời đã khuya. Trong đời tôi chưa bao giờ được thưởng thức một “sô” diễn tân nhạc sâu thắm và da diệt đến thế.

Rồi từ đó tôi lo việc lập gia đình, đi “học Huế” để làm người cầm bút của xứ Huế không mấy khi được gặp lại Hà Thanh. Đột nhiên đến năm 1982, không rõ ai đã mách cho chị biết chỗ ở của tôi, (vì đến năm đó tôi đã chuyển đến bốn năm địa chỉ) chị ghé lại nhà tôi – một gian phòng hẹp của nhà hộ sinh Kim Cúc cũ tại 16 Lý Thường Kiệt – mời tôi lên 18 Huyền Trân Công Chúa (đã đổi thành 18 Bùi Thị Xuân) ăn cơm chia tay để chị đi “đoàn tụ” ở Hoa Kỳ. Sau bữa cơm chia tay đó tôi nghĩ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Hà Thanh nữa.

….
…. Năm 2006, tôi sang Boston ở miền Đông bắc Hoa Kỳ chuẩn bị thực hiện đề tài “Phong trào Thơ văn âm nhạc vận động hòa bình những năm 1964 – 1966 ở miền Nam Việt Nam” cho Trung tâm William Joiner, không ngờ tôi lại được liên lạc với Hà Thanh.

Một cuộc hàn huyên hào hứng. Tình người xóa đi hết những khoảng cách, những dị biệt. Gặp lại Hà Thanh trên đất Mỹ không tiện nhắc lại những chuyện cũ. Chị biết tôi nguyên là một sinh viên Phật tử, lại là người đi theo khuynh hướng hòa bình, hòa giải dân tộc của Thầy Nhất Hạnh từ hồi nửa thế kỷ trước nên chị kể chuyện chị quy y lại với Thầy và chị dành nhiều thời gian tu chánh niệm, niệm Phật, hát nhạc Thiền và tọa Thiền theo pháp môn Làng Mai. Chị tặng tôi một CD chị niệm A Di Đà Phật rất thanh thoát. Cho đến bây giờ, mỗi lần thấy đầu óc căng thẳng tôi lại nghe chị niệm Phật thay cho những bài hát êm dịu mà trước đây tôi rất thích. Qua điện thoại nhiều hôm tôi ngỏ ý mời chị về sống cuối đời ở Huế. Chị bảo tôi:

– Cái nhà ở Huế đã cho đứa cháu rồi. Hà về Huế ở mô?

Tình thiệt tôi đáp:

– Trời ơi, chị về vô lẽ cháu chị không dành lại cho chị một phòng để chị sống và ca hát sao?

Chị lại bảo:

– Ở đây Hà ít giao du với cộng đồng người Viêt, nhiều khi cũng buồn và nhớ Huế lắm. Hà cũng muốn về. Nhưng có lẽ Hà phải giúp nuôi con của con gái Kim Huyên lớn lớn một chút rồi sẽ về!

Tôi biết chị từ chối khéo lời mời của tôi nhưng tôi vẫn hy vọng và có ý chờ…

Nhưng… rồi, đúng vào ngày đầu năm 2014, chị đã qua đời ở Boston miền Đông Hoa Kỳ.

Tôi không còn cơ hội gặp lại chị, nhưng Huế tôi luôn có ca sĩ Hà Thanh, cũng như luôn có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – người cùng thời với chị.

Huế, mùa Xuân 2015
Nguyễn Đắc Xuân

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Hoàng Nguyên, Dòng Nhạc Yêu Thương, Dòng Đời Ngang Trái!

Tiếp nối dòng nhạc Hoàng Nguyên, người yêu nhạc xưa không thể nào không nhắc đến sáng tác nổi tiếng của nhà nhạc sỹ và có lẽ cũng là một trong những bản tình ca hay và buồn nhất của nền nhạc Việt: nhạc phẩm “Cho người tình lỡ”. Để giới mộ điệu có thêm thông tin về cuộc đời chìm nổi của nhạc sỹ Hoàng Nguyên, DongNhacXua.com xin mạn phép đăng lại bài viết dưới đây.

Cho người tình lỡ (Hoàng Nguyên). Ảnh: VietStamp.net
Cho người tình lỡ (Hoàng Nguyên). Ảnh: VietStamp.net

cho-nguoi-tinh-lo--1--hoang-nguyen--vietstamp.net--dongnhacxua.com cho-nguoi-tinh-lo--2--hoang-nguyen--vietstamp.net--dongnhacxua.com

HOÀNG NGUYÊN, DÒNG NHẠC YÊU THƯƠNG, DÒNG ĐỜI NGANG TRÁI
(Nguồn: tác giả Vương Trùng Dương đăng trên DacTrung.com)

Đà Lạt mệnh danh thành phố ngàn hoa, nơi đó, có nhiều loài hoa chỉ thích hợp với khí hậu lành lạnh cao nguyên. Giữa khung trời ngàn hoa, có loài hoa được viết thành ca khúc – Hoa Anh Đào – trở thành hình ảnh quen thuộc, tiêu biểu, gợi tình, gợi nhớ cho phố núi mù sương, thơ mộng được vang vọng cho cả bốn mùa nhờ dòng nhạc của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.

Nói đến Hoàng Nguyên, mọi người đều liên tưởng đến hai nhạc phẩm một thời yêu thương, vang bóng: Ai Lên Xứ Hoa Đào & Bài Thơ Hoa Đào. Và, ngược lại, nói đến Đà Lạt cùng Hoa Anh Đào, chúng ta gợi nhớ Hoàng Nguyên.

Lãng đãng, mờ ảo với khói sương, với màu hoa, với mây trời… giữa chốn trần tục được thăng hoa qua lời ca tiếng nhạc, như lạc bước vào chốn bồng lai.

Ai Lên Xứ Hoa Đào, bắt gặp hình ảnh:

“Ai lên xứ Hoa Đào, dừng chân bước lần theo đường hoa.
Hoa bay đến muôn người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai,
Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa,
Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương,
Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa, lặng bước trong lãng quên…”

Với tâm hồn lữ khách mộng mơ, trữ tình… ru hồn vào cõi mộng cùng bóng dáng giai nhân như tơ vương mây trời giăng mắc trong Bài Thơ Hoa Đào:

“Ngày nào dừng chân phiêu lãng, khách tới đây khi hoa đào vương lối đi.
Màu hoa in dáng trời, tình hoa lưu luyến người,
Bồi hồi lòng lữ khách thấy cơi vơi…

…Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần
Tóc mây buông lơi tha thiết bên hồ.
Đợi tình quân đến trong giấc mơ…”.

Chàng lữ khách đó sinh trưởng và lớn lên ở Quảng Trị và Huế. Cũng như nhiều chàng trai trẻ khác, trót nghe theo “tiếng gọi” tham gia kháng chiến chống Pháp vào đầu thập niên 1950, đụng chạm thực tế phủ phàng, ngán ngẫm, chàng giã từ núi rừng miền Trung, chu du vào thành phố mù sương. Mang tâm hồn nghệ sĩ, Hoàng Nguyên (nhà giáo Cao Cự Phúc) có năng khiếu về hội họa và âm nhạc như Văn Cao. Và, chàng thư sinh đó mang tâm hồn lãng mạn, say mê hình ảnh theo truyền thuyết hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu vào dịp tết Đoan Ngọ lạc chốn thiên thai với thiên nhiên, mây ngàn gió núi, tiếng thông reo, suối gọi như tiếng nhạc quyện hồn cùng hình ảnh tiên nữ, ca khúc Đường Nào Lên Thiên Thai xuất hiện cùng với bước chân lãng du chàng phiêu bạt trong nỗi mê hoặc, trong lời cám dỗ ở tâm hồn nghệ sĩ bởi phù hợp với khung cảnh trữ tình làm thành ca khúc, say đắm khán thính giả thành phố mù sương:

“Cầm tay em, anh hỏi: đường nào lên thiên thai, đường nào lên thiên thai…
Nơi hoa xuân không hề tàn
Nơi bướm xuân không hề nhạt
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ…”

Rồi, nơi đó, tâm trạng, niềm khắc khoải, ưu tư được tỏ bày:

“Anh nào biết đường lên thiên thai!
Khi trời đất còn vương thương đau
Khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu?
Anh nào biết đường lên thiên thai
Khi lòng còn như băng buốt giá
Và tình còn e ấp nói không nên lời…”

Dáng người dong dỏng cao, mái tóc chải bồng bềnh, nhà giáo, nhạc sĩ bước vào tuổi đôi mươi, tay ôm cây đàn guitare, giọng hát trầm buồn, điểm chút phong trần, lãng tử trông tựa bức tranh The Guitarist của Picasco, trở thành thần tượng cho bao kiều nữ yêu văn nghệ và, vô hình chung gợi lại quá khứ đáng “lưu ý” của chính quyền.

Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt, Thượng tọa Thích Thiện Tấn (anh ruột thầy Nhất Hạnh) làm Hiệu trưởng. Nhà giáo Cao Cự Phúc dạy Việt văn lớp đệ lục, thầy Nhất Hạnh dạy Việt văn lớp đệ thất. Tên tuổi hai nhà giáo như một hấp lực, lôi cuốn học sinh đến trường Tuệ Quang.

Chẳng được bao lâu, sóng gió cuộc đời nổi dậy, năm 1956, trong một trận lùng bắt ở Đà Lạt, trường Tuệ Quang có nhiều nhà giáo bị bắt như Lý Quốc Việt, giáo sư Toán Lý Hóa, Nguyễn Hữu chỉnh, giáo sư Pháp văn… vì hoạt động đảng phái (Đại Việt) và Cao Cự Phúc vì có tham gia trong phong trào “kháng chiến” chống Pháp. Hoàng Thi Thơ ở Sài Gòn phối hợp cùng Hoàng Nguyên, tổ chức đại nhạc hội tại Đà Lạt. Đêm đó có truyền đơn phản động đã rãi bên ngoài. Trưởng ty Công an Cảnh Sát Phạm Trọng Lý (cha ghẻ nữ ca sĩ được thành danh trong mấy thập niên qua) đã có thành kiến với Hoàng Nguyên, nhân cơ hội nầy, quy kết đầu mối có bàn tay của “đối tượng” nên đem nhân viên công lực đến nhà khám xét. Chẳng may, bắt gặp được nhiều bản nhạc tiền chiến, có cả bản “Tiến Quân Ca” của Văn Cao, nhạc phẩm đó Hoàng Nguyên rất ái mộ. Văn Cao đã nổi danh với ca khúc Thiên Thai. Dưới mắt quan chức thẩm quyền, đứng đầu là Trung tá Tỉnh trưởng, nhạc phẩm Đường Nào Lên Thiên Thai có phần ủy mị, yếm thế, ru ngủ tuổi trẻ và ông cho rằng, người sáng tác nhạc phẩm nầy mơ về một thiên đường không tưởng, vẫn còn đi theo con đường của văn nghệ sĩ bên kia vỹ tuyến… Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957.

“… Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác. Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho ái nữ ông, tên H. năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nhóm lên vũ bảo. Trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái nầy nẩy nở.

Chợt khi người con gái của Chúa Đảo mang thai. Mối tình hai nhịp so le bị phát giác. Để giữ thể thống cho gia đình. Vị Chúa Đảo giữ kín chuyện nầy và chỉ bảo riêng với người gây ra tai họa là nhạc sĩ Hoàng Nguyên: ông ta đòi hỏi Hoàng Nguyên phải hợp thức hóa chuyện lứa đôi của hai người với điều kiện vận động cho người nhạc sĩ được trả tự do…” (Lâm Tường Dũ – Tình Sử Nhạc Khúc).

Đứng trước hoàn cảnh tiến thối lưỡng nan, Hoàng Nguyên phải hứa để đáp ứng điều kiện nhằm gỡ danh dự cho gia đình vị Chúa Đảo.

Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, lên Đà Lạt thăm lại trường cũ. Dù rất yêu thích thành phố cao nguyên, song cuộc sống không được thoải mái nên chàng về ở Sài Gòn. Tuy đã hứa và “Đây là mối tình lớn của người nghệ sĩ. Nhưng cánh chim bằng yêu chuộng tự do và nghệ thuật, Hoàng Nguyên không dám trở lại hải đảo để làm rễ ở một nơi rất thiếu tình người, quanh năm suốt tháng khô cằn với sinh hoạt hẹp hòi của những người áo xanh… Chàng đành làm cánh chim bay không bao giờ trở lại” (LTD – TSNK). Mối tình ngang trái nầy thấp thoáng trong tác phẩm “La Chartreuse de Parme” của văn hào Pháp Stendhal, nàng Clélia Conti, con gái trấn thủ ngục thành Parme, đẹp, quyến rũ, ngất ngây bao con tim, cả chàng văn sĩ, định mệnh trớ trêu, chỉ còn lại ảo ảnh, ngang trái và bi thương.

Ở Sài Gòn, Hoàng Nguyên vừa tiếp tục con đường văn nghệ vừa dạy học ở trường tư thục Quốc Anh, vừa tìm cách tiến thân trên con đường học vấn. Năm 1961, Hoàng Nguyên theo học tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn, ban Anh văn. Thời gian theo học đại học, Hoàng Nguyên được sự bảo bọc của Ô.B Phạm Ngọc Thìn, Thị trưởng Phan Thiết, tư thất ở Sài Gòn. Phu nhân Phạm Ngọc Thìn là nữ tài tử Huỳnh Khanh cảm mến tài nghệ và tính tình của Hoàng Nguyên nên nhận làm em nuôi, nhân tiện dạy kèm con gái của ông bà là cô Ngọc Thuận. Ngọc Thuận là một thiếu nữ đài các, tâm hồn lãng mạn, làm thơ, viết văn, viết báo.. dười bút hiệu Trưng Liệt Dung.

Hoàng Nguyên khởi đầu là em nuôi của gia đình Ô.B Phạm Ngọc Thìn để dạy cho ái nữ, dần dà hai tâm hồn thầy trò đa cảm gặp nhau, Hoàng Nguyên yêu đắm đuối cô con gái ông Phạm Ngọc Thìn và cuối cùng trở thành rể của gia đình ân nhân trên. Nhạc khúc Thuở Ấy Yêu Nhau ra đời trong khoảng thời gian nầy:

“Thuở ấy yêu nhau anh làm thơ
Thuở ấy yêu nhau em đợi chờ,
Dòng nước Hương Giang trôi lặng lờ
Chưa biết chi giận hờn và chưa biết sầu mộng mơ…

…Và người lên xe hoa
Từ giã bến sông dài!
Để đến hôm nay tôi ngồi đây
Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy. Người ơi, thơ ngây đã lỡ rồi
Khi ta xa nhau rồi, tôi xin chép lại vần thơ”.

Ca khúc bày tỏ nỗi niềm của chàng nhạc sĩ với người con gái đã có đứa con với chàng ở Côn Sơn, được gia đình đưa về sinh sống bên dòng Hương Giang. Chàng đã bắt được liên lạc với nàng nhưng nàng đã chịu đắng cay với niềm đau phụ tình nên không thể hàn gắn mối tình mang đậm vết thương. Nàng tạo lập cuộc đời mới với người đàn ông khác.

Trở lại Sài Gòn, Hoàng Nguyên nhận Ngọc Thuận làm vợ. Và, chàng dù biết qua bằng hữu về tính “lãng mạn, đa tình” của người vợ nhưng định mệnh mang đến hệ lụy và oan nghiệt trớ trêu với cuộc đời, đành chấp nhận. Thiên tình sử xảy ra giữa chàng nhạc sĩ và nhà báo, Tổng thư ký tờ Kỷ Nguyên Mới, tác giả TSNK và cũng là tác giả tác phẩm bằng xương bằng thịt, nhường tác quyền cho chàng nhạc sĩ trông nom. Và tiếp nối với người tình, chủ nhân “tổ hợp GIÓ”.

Thế nhưng, Ngọc Thuận lại rất ghen tuông. Khi biết được ẩn tình của ca khúc Thuở Ấy Yêu Nhau, nàng đã tức giận, đốt nhiều sáng tác viết tay của Hoàng Nguyên, không muốn người chồng bị cắm sừng còn vướng mắc hình ảnh người tình xưa cũ nào trong cung đàn nét nhạc.

Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường được thuyên chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng. Ban nhạc Hương Thời Gian của Anh Việt giao cho Hoàng Nguyên làm trưởng ban, phần kỷ thuật và hòa âm do Nguyễn Hậu (em ruột của Nguyễn Hiền) đảm nhận. Hương Thời Gian xuật hiện trên Truyền thanh & Truyền hình đã thu hút khá đông thính giả mộ điệu.

Thế rồi, “Trong một chuyến công tác bằng xe Jeep ở miền Đông, Hoàng Nguyên qua đời tại dốc 47 Vũng Tàu bằng tai nạn xe hơi năm 1972″ (LTD – TSNK). Hoàng Nguyên vĩnh viễn ra đi vào cõi miên viễn lúc vừa 40, được chôn cất ở nghĩa trang đô thành, để lại vợ và 3 con.

Năm 1973, nhóm thân hữu Hoàng Nguyên gồm nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Anh Việt, Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài cho xuất bản tuyển tập nhạc của nhóm thân hữu nói trên để phổ biến, lấy tiền xây mộ bia cho Hoàng Nguyên.

Hoàng Nguyên sáng tác rất nhiều nhạc phẩm, đã một thời vang vọng, nét nhạc lời ca nhẹ nhàng, duyên dáng, trử tình, đam mê… vương vấn đau thương.

Nhạc khúc Tà Áo Tím đã làm sống dậy hình ảnh yêu kiều, thướt tha của chốn thần kinh bên dòng sông Hương, núi Ngự:

“Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang
Tôi gặp một tà áo tím
Nhẹ thấp thoáng trong nắng hương
Màu áo tím sao luyến thương
Màu áo tím sao vấn vương…

…Mặc thời gian dìu đôi cánh biếc
Mặc dòng sông dịu nghiêng luyến tiếc
Mặc chiều thu buồn như hối tiếc…

Tôi mơ màu áo, ước mong sao áo màu khép kín tin nhau…
…Người áo tím qua cầu, và áo tím phai mầu
Để dòng Hương Giang hờ hững cuốn nơi nào!”.

Trong ca khúc Cho Người Tình Lỡ, tỏ bày tâm trạng của người nghệ sĩ cho cuộc tình ngang trái, lỡ làng:

“Anh giờ đây như là chim
Rã rời cánh, biết bay phương trời nao!
Em giờ đây như cành hoa
Cho tả tơi đong đưa ngọn gió nào…
Thế là hết nước trôi qua cầu
Đã chìm sâu những tháng ngày đam mê,
Thôi đành quên những thương yêu đầu
Như là yêu, với nay đã quá xa!.”

Niềm cay đắng, bi thương đó, cùng với sự nuối tiếc để trang trải, tha thứ cho nhau, thấp thoáng trong tình khúc Đừng Trách Gì Nhau:

“Ôi! trời làm giông tố,
Để người thầm trách người sao hững hờ khôn nguôi.
Ôi! nửa đời gió sương
Mà còn đắng cay, mà còn chua xót vì nhau…

…Oán trách nhau chi, bơ vơ nhiều rồi, xót xa nhiều rồi”.

Khi khoác áo chiến y, Hoàng Nguyên sáng tác nhiều nhạc phẩm về hình ảnh người chiến sĩ, tình ca Lá Rụng Ven Sông là một trong những bản tango hay nhất vào thập niên 60 & 70:

“Thương ai ngoài sương gió
Đời lính chiến gian lao
Đêm đêm nhìn tay súng
Lòng nghĩ tới mai sau
Thương ai vì sông núi
Mà khoác áo chinh y
Thương ai vẫn thương ai.
Thương ai, đã thương ai rồi
Dù tháng năm dần trôi
Dù lá hoa tàn phai
Lòng nầy vẫn nhớ thương ai…”

Trong chinh chiến, người chiến binh vẫn mang nặng tình cảm chan chứa, lãng mạn giữa cảnh ngăn cách tiền tuyến, hậu phương được gởi gấm trong nhạc phẩm Sao Em Không Đến:

“Đời tôi từ ngày khoác áo chiến binh
Lên đường, biết rằng lòng nầy đã bớt vấn vương
Chiều nay, lòng chợt thấy nhớ thương em
Thương về mái tóc êm đềm
Buông dài phủ kín hồn anh…”

* *

Mùa hè 1971, ba tháng quân trường bên cạnh nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Cả hai, theo học Khóa III Trung cấp CTCT tại Trường ĐH.CTCT ở Đà Lạt. Anh đảm nhận Ủy viên Văn nghệ, tôi phụ trách Ủy viên Báo chí. Trở lại thành phố mù sương, với anh, được trở về chốn cũ ở thập niên 50, với tôi ở thập niên 60. Cùng chung căn phòng, anh em chúng tôi thường viện cớ công tác sinh hoạt văn nghệ, báo chí nên được cơ may ưu đãi, trốn học để la cà, bát phố. Chúng tôi có bốn người thường ngồi ở Thủy Tạ trên hồ Xuân Hương cho lãng quên đời. Hình ảnh và tên tuổi Hoàng Nguyên rất thân quen với Đà Lạt vì vậy khi anh liên lạc để tổ chức văn nghệ cho khóa, được nhiều bóng hồng đáp ứng. Tính tình, điềm đạm, ít nói, không thích phê phán, chỉ trích người vắng mặt, anh sống nhiều với nội tâm, chỉ lắng nghe, ít đả phá. Khi đề cập đến những khuôn mặt nhạc sĩ bạn như Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Hiền… anh chỉ nhắc đến những bản nhạc hay của họ được nhiều người ưa thích.

Đối diện quân trường có trường nữ Trung học Bùi Thị Xuân, thời gian liên lạc cho chương trình văn nghệ anh có “mối giao cảm” với hai cô giáo, trong đó có Ấu Lăng (em ruột của Bùi Tín). Điểm hẹn của chúng tôi, thông thường ở Thủy Tạ, khi có chuyện riêng tư tâm tình với nhau, ngồi trong nhà kiếng, bằng hữu ngoài cuộc đọc thơ Vũ Hoàng Chương “lũ chúng tôi lạc loài năm bảy đứa” ngồi ngoài nhìn sương đêm, hồ nước.

Thuở đó, tôi vẫn luyện chưởng, nghe nhạc cổ điển và thường kể những mối tình hoa mộng qua ngòi bút của Kim Dung. Một buổi tối, ngồi nhậu ở Câu Lạc Bộ, nghe Dương Hùng Cường đang theo học khóa Căn Bản CTCT nói về cuộc tình đầy bi thương mà Hoàng Nguyên chấp nhận, tôi mới vỡ lẽ. Thảo nào, những lúc nhìn anh, thoáng hiện nỗi u buồn xa vắng mênh mông. Tôi hiểu niềm đau thương, khắc khoải trong anh như chấp nhận định mệnh oan khiên đành cam chịu như lời Virgile: “La femme est toujours un être inconstant et changeant” (Đàn bà luôn luôn là người nhẹ dạ và thay đổi).

Thời gian thấm thoát trôi qua với bao biến thiên tình đời và nhân thế. Giờ dây, bên bờ đại dương, trong bốn anh em, đêm đêm café tán ngẫu, thân quen với tác giả có chung cuộc tình ngang trái, nghe nhạc, nhắc lại kỷ niệm xa xưa như lời ca anh viết “cuộc tình nào không thương đau anh ơi, đừng trách nhau chi”!.

Anh đã ra đi biền biệt, lời ca nét nhạc vẫn còn để lại cho nhân thế thưởng thức. Tiếc rằng, thời gian qua, nhiều trung tâm sản xuất Cassette, CD, Video… không tôn trọng nhạc sĩ sáng tác, chỉ để tên ca sĩ, trong đó có nhiều nhạc phẩm của anh. Tiếng hát Xuân Thu với Ai Lên Xứ Hoa Đào, Anh Khoa qua Bài Thơ Hoa Đào, Hà Thanh trong Thuở Ấy Yêu Em, Tà Áo Tím, Jo Marcel với Lá Rụng Ven Sông… gắn bó với tình ca của Hoàng Nguyên qua năm tháng.

Mong một ngày nào đó, có muôn ngàn cánh Hoa Anh Đào phủ lên mộ anh, tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa trong nghệ thuật nhưng gặp bao ngang trái trong cuộc đời.

Vương Trùng Dương

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.