Nghệ sỹ guitar Trung Nghĩa: kỷ niệm học đàn khó quên

Ngoài nhạc sỹ sáng tác và ca sỹ trình diễn, góp phần quan trọng vào nền nhạc xưa là đóng góp của các nhạc công. Dòng Nhạc Xưa đã có bài giới thiệu ngón đàn tuyệt kỹ của Vô Thường. Hôm nay chúng tôi hân hạnh mượn một bài viết của tác giả Trần Chí Phúc để vinh danh một trong những tay guitar ghi dấu ấn sâu đậm nhất trong làng nhạc Việt: nghệ sỹ Trung Nghĩa.

Danh cầm Trung Nghĩa – kỷ niệm học đàn guitar khó quên

(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv ngày 2015-06-15)

Trong một lần ngồi tâm tình văn nghệ, nhạc sĩ Guitar Trung Nghĩa kể rằng hồi còn bé có nhạc sĩ Đỗ Văn Ngọc thấy anh mê đàn nên tới nhà xin phép thân phụ để cho anh được học ông ta nhưng bị từ chối. Sau đó ông này có chở Trung Nghĩa đến nhà của nhạc sĩ Hùynh Háo để xin làm đệ tử. Thập niên 60 Hùynh Háo rất nổi tiếng ở Sài Gòn và được giới ca nhạc gọi là Anh Hai, trong khi đó nhạc sĩ Hùynh Anh được gọi là Anh Ba.

Sài Gòn trong tân nhạc: Đêm nhớ về Sài Gòn (Trầm Tử Thiêng)

Tiếp nối chủ đề “Những địa danh đã đi vào nhạc“, Dòng Nhạc Xưa xin mời quý vị trở về Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông qua một bài viêt của tác giả Trần Chí Phúc phân tích nét nhạc Trầm Tử Thiêng trong bản nhạc “Đêm nhớ về Sài Gòn” nổi tiếng.

 

Đêm Nhớ Về Sài Gòn – nỗi sầu nghệ thuật của Trầm Tử Thiêng

(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv ngày 2015-04-25)

1- Đêm nhớ về Sài Gòn, thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi. Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi. Đường im nghe quá khứ trong sầu. Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau. Tình lẻ loi canh thâu.

Lịch sử cafe Sài Gòn xưa

Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu một bài viết có giá trị của tác giả Tâm Triều về cái thú uống cafe lâu đời của dân Sài Gòn và qua đó chúng ta có dịp xuôi dòng thời gian gần một thế kỷ để biết thêm về sự hình thành của thú cafe Sài Thành. Ngoài ra, tác giả cũng giới thiệu các quán cafe và các phòng trà nhạc xưa của Hòn Ngọc Viễn Đông ngày nào.

Phong cách cà phê Sài Gòn xưa

(Nguồn: bài viết của tác giả Tâm Triều đăng trên madeinsaigon.vn)

Hồi xửa hồi xưa… có một Sàigòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”. Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao thì gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt….

TRỞ VỀ THẬP KỶ 50 : CÀ PHÊ VỚ

Năm một ngàn chín trăm… hồi đó người Sàigòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh… có khói này là do các xếnh xáng A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo… chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.

Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu ? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc dợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi . . .”kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu này mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.

Người Em Văn Khoa (Châu Kỳ)

Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng) từ lâu đã đi vào thơ nhạc. Bao nhiêu con tim của biết bao thế hệ, dù không còn ngồi ở giảng đường Văn Khoa nhưng với họ, mỗi lần ghé thăm, mỗi khi nhớ về, hay đơn giản chỉ bất chợt nghe một câu hát của ngày xưa cũ là cũng đủ làm con tim bồi hồi xao xuyến. Trong niềm cảm xúc ấy, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bản “Người em Văn Khoa” của nhạc sỹ Châu Kỳ và một bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương.

Ảnh: http://thaolqd.blogspot.com

Văn Khoa, ngày tháng cũ

(Nguồn: bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương đăng trên lethieunhon.blogspot.com ngày 2017-0316)

Thi đậu tú tài phần thứ hai, vì học ban C, nên khi bước vào đại học, tôi không có nhiều chọn lựa như bạn bè cùng lứa. Tôi đã chọn Đại học Văn Khoa Sài Gòn chỉ vì đây là ngôi trường thân thiện với tôi từ khi còn là học sinh trung học: qua giới thiệu của các thầy giáo, kệ sách nhà tôi đã có những cuốn sách của các giáo sư nổi tiếng ở trường.

Văn Khoa trong thời chiến

Buổi học đầu tiên, tôi đứng ở hành lang dãy phòng học gần gốc cây me bây giờ, nhìn lên lầu một: thầy Nguyễn Văn Trung và thầy Lý Chánh Trung mặc sơ mi trắng, mang giày săng-đan đứng tựa vào lan-can hàn huyên với các thầy giáo trẻ. Đó là hai người thầy mà tôi ngưỡng mộ khi trích văn trong một bài báo Xuân hồi học lớp 10 ở trường Trung học Trần Quốc Tuấn và chỉ hình dung khuôn mặt qua tấm ảnh chụp những giáo sư ngồi tuyệt thực trước hành lang Hạ nghị viện để đòi chính quyền trả tự do cho các sinh viên tranh đấu.

Nhiều năm trôi qua, sau này nhớ lại những ngày tháng cũ, đôi khi những kỷ niệm êm đềm làm ta quên hết những điều chưa tốt đẹp. Thật ra, Văn Khoa hồi ấy, giữa không khí chiến tranh nóng bỏng bao trùm đời sống, còn rất nhiều thiếu thốn và bất tiện để có thể xem là một trường đại học đúng nghĩa. Tòa nhà trên đường Cường Để này vốn là nơi đóng quân của “Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống”, nhường chỗ cho nhà trường chuyển đến từ đường Gia Long, nhưng vẫn giữ một phần diện tích cho mục đích quân sự, với hàng rào kẽm gai ngăn cách. Trong sân trường xe cộ để ngổn ngang. Dãy phòng học một tầng mái thấp, nóng bức, với những chiếc ghế hàn vỉ sắt làm rách quần những sinh viên đãng trí. Muốn đến giảng đường học môn Văn minh Việt Nam, môn học thường phải đi sớm để giữ chỗ vì quá đông sinh viên nghe giảng, phải bước lên cầu thang cạnh một nhà vệ sinh luôn bốc mùi, đến nổi có lần thầy Thanh Lãng nói đùa cái mùi đó là đặc trưng của trường Văn Khoa! Cũng vì lớp đông nên sinh viên thường chỉ nghe giảng, ghi chép và đọc cours; vài lần muốn tổ chức séminaire, thầy Nguyễn Văn Trung phải đi dã ngoại với chúng tôi ra La San Mai Thôn hay rừng cao su gần Đường Sơn Quán.

Nhưng Văn Khoa để lại ấn tượng sâu đậm không phải vì cảnh quan mà vì những con người đáng quý trọng. Hồi đó, ngay trong hai năm đầu, lớp chúng tôi đã được học thầy Trần Thái Đỉnh với cách giảng bài khúc chiết, thầy Lê Tôn Nghiêm – sâu sắc, thầy Lê Thành Trị – điềm đạm, thầy Giản Chi – lão thực, thầy Bửu Dưỡng – uyên bác, thầy Nguyễn Duy Cần – nghiêm nghị… Có những lần giờ tan học qua lâu, thầy Kim Định với chiếc áo dài trắng như một đạo sĩ, vẫn còn nán lại trên hành lang giải thích thêm cho chúng tôi về triết lý an vi. Thầy Lê Xuân Khoa lịch thiệp, bận công việc ở Viện Đại học, dành những buổi tối dạy cho chúng tôi môn triết học Ấn Độ.

Có thể nói Văn Khoa Sài Gòn là nơi tập hợp nhiều khuôn mặt trí thức tiêu biểu của miền Nam thời ấy. Văn Khoa cũng là nơi phát khởi những khuynh hướng học thuật mới mẻ, những phong cách độc đáo trong biên khảo, trước tác và dịch thuật. Những bộ sách về lịch sử triết học và văn học, về lý thuyết và phương pháp luận sử học, nhân học, ngữ học, phê bình văn học… của các giáo sư Đại học Văn Khoa chắc chắn sẽ được các thế hệ sau kế thừa.

Năm hòa bình đầu tiên

Mùa hè năm 1975, mọi thứ được sắp xếp lại, các thầy cô giáo dự lớp học chính trị riêng, sinh viên nghe giảng riêng, sau đó mỗi thầy được cử đến một tổ sinh viên để cùng thảo luận về “chuyên chính vô sản” và nhiệm vụ của nhà trường mới. Học chính trị xong, chúng tôi học chuyên môn với các thầy cô đến từ Hà Nội. Hầu hết thầy cô giáo Văn Khoa ở lại đều không lên lớp mà chỉ nghiên cứu thuần túy, một ít người chuyển sang dạy Hán Nôm hay ngoại ngữ. Hoàn cảnh đổi thay nhưng tình thầy trò không thay đổi: những ngày đầu tháng 5 thầy Lê Thành Trị, khoa trưởng, cùng sinh viên chuẩn bị hội trường đón tiếp đoàn giáo sư miền Bắc do ông Phạm Như Cương dẫn đầu; các thầy Lý Chánh Trung, Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh lên thăm chúng tôi trồng cây trên Chánh Phú Hòa; thầy Thanh Lãng mặc áo ký giả đến dự Hội Tết Văn Khoa năm hòa bình đầu tiên… Văn Khoa sẽ vui biết mấy nếu không khí hòa hợp đó còn mãi kéo dài.

Còn nhớ một buổi tối trong năm học chuyển tiếp đó, khi đến cư xá Thanh Quan, tôi thấy thầy Phạm Văn Diêu và thầy Nguyễn Lộc, hai người đồng hương Quảng Ngãi, đều là chuyên gia về Nguyễn Du và Truyện Kiều, lần đầu gặp nhau chuyện trò tâm đắc về nghiên cứu văn học cổ điển ở hai miền. Khoa Ngữ Văn của chúng tôi từ đó là nơi quy tụ những thầy giáo muốn tìm một chỗ bình yên để làm khoa học: Nguyễn Văn Trung, Bửu Cầm, Phạm Hữu Lai, Trần Trọng San, Lưu Khôn, Nguyễn Tri Tài, Nguyễn Khuê… Những cuốn sách có thể chịu cảnh im lìm bám bụi trong phòng đọc hạn chế, nhưng người làm khoa học thì phải vượt qua hoàn cảnh, không để mình bám bụi, và rồi những cuốn sách mới lại tiếp tục ra đời.

Từ ngày thành lập Đại học Văn Khoa Sài Gòn (01-3-1957) đến nay đã 60 năm. Những thế hệ xây dựng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày nay không quên quá khứ, vì đó là một phần lịch sử của mình. Tôi thầm nghĩ, một may mắn của đời mình là được chứng kiến gần ba phần tư thời gian lịch sử đó của ngôi trường, từ thời sinh viên đến khi sắp về hưu, gắn bó với từng phòng học, từng dãy hành lang, thư viện và những khuôn mặt lúc cởi mở lạc quan, khi đăm chiêu sầu não, nhưng luôn ấp ủ những hoài bão khoa học.

Vài năm nữa ngôi trường sẽ chuyển hẳn ra ngoại thành với một cơ ngơi khang trang, bề thế; người đi xa về có thể không tìm ra nơi lưu giữ kỷ niệm học đường. Những người đã qua, những người còn lại và những người sẽ tới đâu thể nào có một lần hội ngộ cho tất cả. Qua trang viết này, chỉ mong gửi gắm một nỗi niềm chung mà từ những góc trời riêng rẽ, chúng ta có thể sẻ chia về những ngày tháng cũ.

Hoàng Trọng: Vua Tango

Dòng Nhạc Xưa đã có nhiều bài viết về nhạc sỹ Hoàng Trọng (1922 – 1998). Tuy nhiên sẽ là một điều thiếu sót khi không nói về các bản theo thể điệu tango lả lướt mà qua đó ông được người yêu nhạc xưng tụng là “vua tango của nền tân nhạc Việt Nam”. Trong bài viết mang tính chất tổng hợp này, chúng tôi dùng tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Nếu có gì chưa hợp lý, xin quý vị gần xa cùng góp ý hay thảo luận (qua trang web này hoặc qua Facebook facebook.com/dongnhacxua) để tất cả chúng ta có được thông tin chính xác nhất về nhà nhạc sỹ tài hoa Hoàng Trọng.

Nhạc sỹ Hoàng Trọng lúc trẻ. Ảnh: giadinhhoangtrong.wordpress.com

Nhạc sĩ Hoàng Trọng: Ông Vua Tango của nền tân nhạc Việt Nam

(Nguồn: bài viết của tác giả Cung Mi đăng trên sbtn.tv ngày 2016-07-16)

Thú chơi tờ nhạc xưa ở thành phố biển Nha Trang

Dòng Nhạc Xưa đã giới thiệu một thú chơi tao nhã và công phu của số ít người yêu nhạc xưa: sưu tầm tờ nhạc xuất bản trước 1975. Đây là một công việc khá vất vả mà chỉ những ai có lòng đam mệ thật sự mới theo đuổi được vì nguồn tư liệu qua 50 năm hoặc là hư hỏng, hoặc là thất lạc nên gây không ít khó khăn cho công tác tìm kiếm và lưu trữ. Một niềm an ủi nho nhỏ cho những nhà sưu tập nói chung và bản thân Dòng Nhạc Xưa nói riêng là càng ngày càng có nhiều bạn trẻ quan tâm đến các tờ nhạc đầy kỷ niệm này. Trong dòng cảm xúc ấy, chúng tôi xin giới thiệu về thú vui này của bạn bè thân hữu ở thành phố biển Nha Trang.
Tái bút: qua bài viết này, nếu may mắn anh Phương Chánh Hùng hay bạn bè xa gần đọc được thì nếu được xin gởi hình ảnh bản “Nhớ Nha Trang” của nhạc sỹ Minh Kỳ cho chúng tôi để lưu trữ trên trang web cho các thế hệ sau.

Thú chơi tờ nhạc xưa

(Nguồn: bài viết của tác giả Thành Nguyễn đăng trên BaoKhanhHoa.com.vn ngày 2017-06-16)

Cùng với băng đĩa, những năm gần đây, người thích đồ xưa còn sưu tầm những tờ nhạc xưa. Những tờ nhạc được ấn hành trước năm 1975 một thời gần như bị lãng quên nay lại có một đời sống khác. Không rầm rộ như ở TP. Hồ Chí Minh nhưng ở Nha Trang vẫn có những người đang lưu giữ hàng ngàn tờ nhạc xưa…

Anh Phương Chánh Hùng với tờ nhạc Nhớ Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ – Hồ Đình Phương. Ảnh: baokhanhhoa.com.vn

Tờ nhạc đã từng có một đời sống rất mạnh mẽ. Nó không đơn thuần là một bản nhạc để người chơi đàn, ca sĩ tập hát mà còn là ấn phẩm nghệ thuật với những hình vẽ minh họa, hay và đẹp. Theo họa sĩ Lê Vũ, những năm trước giải phóng miền Nam, các nhà sách lớn ở Nha Trang bán các tờ nhạc rất nhiều. Trai gái yêu nhau thường tặng những tờ nhạc đầy tình ý. Sau năm 1975, khi nhạc xưa không còn thịnh hành, những tờ nhạc đầy tính nghệ thuật ấy không còn được xuất bản. Và theo thời gian, những tờ nhạc ấy cũng không còn được trân trọng lưu giữ; chỉ một số ít người có ý thức sưu tầm mới gìn giữ những tờ nhạc xưa. Cách đây khoảng 15 năm, những người bán sách cũ ở đường Hoàng Hoa Thám, Nha Trang vẫn thường bán những tờ nhạc xưa với giá khoảng 5.000 đồng/tờ.

Tùng Giang: cuộc đời & âm nhạc

Dòng Nhạc Xưa đã có vài bài viết về sinh hoạt âm nhạc của cố nhạc sỹ Tùng Giang. Chúng tôi rất vui khi nhận được nhiều phản hồi và một số câu hỏi của các bạn trẻ về nhà nhạc sỹ đa tài. Để có thêm thông tin, xin quý vị tìm hiểu tiếp về Tùng Giang qua bài phỏng vấn với VietWeekly.

Nói chuyện với NS Tùng Giang

(Nguồn: bài viết của tác giả Thủy Tiên đăng trên amnhac.fm)

Tùng Giang trình bày Biết Đến Thuở Nào trong Đêm Tưởng Niệm Trường Kỳ, nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana, California, 2.4.2009.

LTS VietWeekly: Vừa qua, nghệ sĩ Tùng Giang thoát khỏi cơn bạo bệnh, sau cuộc giải phẩu, ông đã dần dần bình phục và, một lần nữa, thần tài đã gõ cửa ngay giường bệnh: Trung tâm TN đã mời ông (cùng hai nhạc sĩ khác) tham gia vào cuốn DVD mới nhất của họ. Nhạc sĩ Tùng Giang đã dành cho Việt Weekly một cuộc phỏng vấn về những gì liên quan đến văn nghệ và đời sống của ông.

Kiếp nào có yêu nhau (Minh Đức Hoài Trinh – Phạm Duy)

Tiếp nối bài viết về sự ra đi của nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu một bài viết của tác giả Hiếu Dũng – Ngân Vi đăng trên ThanhNien.vn đầu năm 2013.

 

Kiếp nào có yêu nhau (Minh Đức Hoài Trinh – Phạm Duy). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Kỳ 6: Yêu nhau kiếp nào

(Nguồn: bài viết của tác giả Hiếu Dũng – Ngân Vi trên thanhnien.vn ngày 2013-01-01)

Mối duyên với nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh trải dài gần hết một kiếp người của nhạc sĩ Phạm Duy. Từ những chuyến rong ruổi thời trai trẻ, từ trong kháng chiến, đến mùa đông lạnh lẽo trên đất người… Giai đoạn nào cũng phảng phất bóng hình giai nhân.

Hà Thanh – Tiếng Hát Của Một Thời Đã Qua

Dòng Nhạc Xưa vừa nhận được email của người quản trị trang casihathanh.wordpress.com giới thiệu bài cảm nhận về giọng hát của cố danh ca Hà Thanh (1937 – 2014). Bài viết là của một cậu học trò lớp 9 có tên Đinh Hoàng Anh. Dòng Nhạc Xưa chưa có cơ hội tiếp xúc với tác giả nhưng xét nội dung sâu sắc của bài viết, chúng tôi mạn phép đăng tải để người yêu nhạc có dịp ôn lại những kỷ niệm về dòng nhạc xưa cũ.

Ca sỹ Hà Thanh. Ảnh: CaSiHaThanh.wordpress.com

Tiếng hát của một thời đã qua

(Nguồn: bài viết của Đinh Hoàng Anh – Cảm nhận âm nhạc của một học sinh lớp 9 – đăng trên casihathanh.wordpress.com ngày 2017-06-12)

Ảnh: https://casihathanh.wordpress.com

Đã gần một thế kỉ qua,kể từ khi tân nhạc bắt đầu xuất hiên để rồi sinh ra bao nhạc sĩ tài danh: Văn Cao,Phạm Duy,Hoàng Giác,Lê Thương…cùng với đó là những bản tiền chiến lãng mạn (mang trình độ thưởng thức sâu rộng cao,phong phú hơn) để phân biệt với nhạc vàng(bolero) sau này tại miền Nam Việt Nam. Nói đến những ca sĩ của dòng nhạc này chúng ta không thể không nhắc tới nữ danh ca Hà Thanh _ giọng ca vàng trong nền tân nhạc trước 1975 ,tiếng hát của miền sông Hương núi Ngự.

Nói tới cô Hà Thanh là nhớ tới Huế bởi âm sắc địa phương trong giọng hát của nữ ca sĩ tài danh.Không phải ngẫu nhiên Hà Thanh được mệnh danh là «Con chim Hoạ Mi xứ thần kinh» miền thùy dương mặc dù cũng có nhiều ca sĩ xuất thân từ Huế như Thanh Thúy, Lệ Thanh. Và không phải bài hát nào cô Hà cũng hát giọng Huế mà phần lớn các ca khúc của cô hát giọng Bắc (tiếng chuẩn). Một số bài về Huế cô vẫn hát tiếng Bắc như Khúc tình ca xứ Huế, Thương về xứ Huế…Nhưng trong tiếng hát ấy vẫn mang âm thanh dịu ngọt vang lộng tha thiết,trìu mến mang hơi hướng sắc thái thơ mộng,trữ tình.Bởi một số phụ âm,ngữ điệu,cách nhả chữ khi cô Hà hát có sự luyến láy vần điệu riêng như s,r,tr…đặc biệt trong nhạc phẩm Ai ra xứ Huế (nước sông Hương còn thương chưa cạn, chim núi Ngự tìm bạn bay về…) thì có lẽ chỉ có người gốc Huế như cô mới có thể truyền tải tự nhiên đến như vậy.

Lưu lại chút âm xưa

Đâu đó trong cuộc sống hiện đại hối hả, chúng ta vẫn bắt gặp một không gian tĩnh lặng cho những thanh âm của ngày xưa cũ. Trong dòng cảm xúc đó, Dòng Nhạc Xưa xin đăng một bài viết giới thiệu một người đam mê sưu tập nhiều thiết bị nghe nhạc cũ, anh Nguyễn Thanh Khiết.

Một chiếc máy hát nhạc băng cối TEAC X-20R. Ảnh: geocities.co.jp

Lưu lại chút âm xưa

(Nguồn: bài viết của tác giả Ngoc Trinh đăng trên giaoduc.edu.vn ngày 2015-09-02)

Bởi yêu thích các thiết bị âm thanh từ nhỏ, thế nên đi đến đâu có ai bán, anh Nguyễn Thanh Khiết đều tìm cách mua lại. Từ radio, cassette, máy hát băng cối cho đến cả ti vi đen trắng.

“Gia tài” của anh gần 200 thiết bị các loại, được trưng bày cẩn thận trong quán cà phê gia đình. Quán nằm nép mình trong con hẻm yên tĩnh bên đường Lê Đức Thọ, phường 16, quận Gò Vấp, TP.HCM. Khách đến quán lần đầu có thể lạ, lần sau thành thân quen bởi mê các bản nhạc mộc của Khánh Ly vang lên từ chiếc máy hát băng cối hiệu TEAC (X-2OR Nhật Bản).