60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Hà Nội ơi!

Trong ký ức của cả một thế hệ những người rời xa miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng, có lẽ giai điệu và ca từ của bản “Nỗi lòng người đi” luôn mãi là một cái gì đó không thể phai mờ,; đó vừa là một sự ray rức khi phải chia tay với mảnh đất có quá nhiều kỷ niện, vừa là một sự vỗ về an ủi trong những tháng ngày tha phương ở miền Nam. Trong nỗ lực để lưu lại những khoảng khắc khó quên của lịch dân tộc, DongNhacXua.com xin gởi đến quý vị nhạc phẩm “Nỗi lòng người đi” của nhạc sỹ Anh Bằng và một bài viết chân thực của tác giả Hà Tường Cát.

 

Nỗi lòng người đi (Anh Bằng). Ảnh: vietstamp.net
Nỗi lòng người đi (Anh Bằng). Ảnh: vietstamp.net

noi-long-nguoi-di--1--anh-bang--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com noi-long-nguoi-di--2--anh-bang--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com noi-long-nguoi-di--3--anh-bang--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

NGÀY TÔI RỜI HÀ NỘI 60 NĂM TRƯỚC – KỶ NIỆM 60 NĂM DI CƯ
(Nguồn: tác giả Hà Tường Cát đăng trên nguoi-viet.com)

Hà Nội những ngày Tháng Tám, 1954 là khoảng thời gian mọi người đều bối rối, tất bật, và hoang mang với những gì sắp xảy đến. Còn tôi, người viết bài này, khi ấy còn là một chú bé mới lớn, đủ để biết được nhiều chuyện nhưng chưa thể cảm nhận và suy nghĩ về nhiều việc khác.

Ngã 5 trung tâm thành phố từ hồ Hoàn Kiếm đến phố Hàng Ðào không còn nhộn nhịp sau ngày Hiệp Ðịnh Geneva 20 Tháng Bảy, 1954. (Hình: Hà Tường Cát)
Ngã 5 trung tâm thành phố từ hồ Hoàn Kiếm đến phố Hàng Ðào không còn nhộn nhịp sau ngày Hiệp Ðịnh Geneva 20 Tháng Bảy, 1954. (Hình: Hà Tường Cát)

Tôi nhớ rằng hiệp định đình chiến ký kết ngày 20 Tháng Bảy ở Geneva không được đón mừng như sự khởi đầu của một giai đoạn hòa bình. Từ nhiều năm, tiếng “đại bác đêm đêm vọng về thành phố” đã là chuyện bình thường không làm mấy ai quan tâm lo lắng. Hệ thống đồn bót do quân đội Liên Hiệp Pháp thành lập làm vòng đai bảo vệ vùng đồng bằng sông Hồng, có thông lệ bắn yểm trợ lẫn cho nhau bằng ít phát trọng pháo vu vơ ngay cả khi không bị tấn công, mà chỉ nhằm mục đích răn đe đối phương hay tạo sự an tâm cho đơn vị bạn.

Giữa đất nước chiến tranh, Hà Nội là một hậu phương hoàn toàn thanh bình. Thời kỳ ấy hiếm có những cuộc đột kích vào thành phố hay nổ bom khủng bố. Chiến tranh chỉ xuất hiện gián tiếp bằng những đơn vị quân đội trở về hậu cứ nghỉ ngơi sau một chiến dịch dài. Lúc đó cái làm cho người dân e ngại là những chú “Tây say,” lính Lê Dương uống rượu đi lang thang phá phách trên đường phố. Tuy nhiên chuyện ấy chỉ xảy ra ở một số khu vực gần các doanh trại và tình trạng gây rối loạn ít khi lên tới mức độ trầm trọng.

Ðối với đám học sinh nhỏ chúng tôi thì chiến tranh là những hình ảnh lạ mắt, có thể là hấp dẫn như phim chiếu bóng. Buổi nào có giờ nghỉ học tình cờ, chúng tôi thường kéo nhau ra chơi ngoài bờ sông và từ trên đê cao thỉnh thoảng nhìn thấy máy bay thả lính nhảy dù xuống bãi tập ở phía xa bên kia sông Hồng.

Cảnh tiêu điều của Chợ Hôm, chợ lớn thứ nhì của Hà Nội sau chợ Ðồng Xuân. (Hình: Hà Tường Cát)
Cảnh tiêu điều của Chợ Hôm, chợ lớn thứ nhì của Hà Nội sau chợ Ðồng Xuân. (Hình: Hà Tường Cát)

Trong mấy tháng đầu năm 1954, tôi theo dõi được trận Ðiện Biên Phủ qua những chiếc máy bay. Những máy bay vận tải DC-3 Dakota của quân đội Pháp, sau này gọi là C-47, lên xuống phi trường quân sự Bạch Mai đều đặn hàng ngày lượn vòng trên phía Nam thành phố và bay qua nhà tôi cả ngày lẫn đêm. Tôi cũng quen để phân biệt được ngay cả các máy bay chiến đấu F6F Hellcat của hải quân và F8F Bearcat của Không Quân, thoạt nhìn rất giống nhau. 

Bay cao hơn ngang qua không phận Hà Nội là những chiếc máy bay oanh tạc B-26 của Không Quân Pháp và sau đó một vài chiếc PB4Y-2 Privateer của Hải Quân Mỹ cất cánh từ phi trường Cát Bi, Hải Phòng. 

Cũng là lần đầu tiên những chiếc “máy bay hai mình” Flying Box Car của Mỹ (C-119 của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa sau này) chở hàng thả dù xuống Ðiên Biên Phủ tiếp tế cho quân đội Pháp, thường xuyên bay ngang bầu trời Hà Nội mỗi ngày. Ngoài ra đám bạn học chúng tôi cũng thường rủ nhau đến bãi đất trống trước bệnh viện quân sự Ðồn Thủy để nhìn thấy tận mắt những chiếc trực thăng tải thương từ Ðiện Biên Phủ trở về khi cứ điểm này chưa bị siết chặt vòng vây. 

Bằng sự tò mò ham thích về các loại máy bay như thế, việc di cư vào miền Nam bằng đường bay được coi như một cơ hội vô cùng thú vị, chứ ở tuổi thiếu niên tôi chưa thể hiểu hay có quan tâm thắc mắc gì về tương lai. Có điều tôi không khỏi có nhiều lưu luyến với những nơi chốn, với nếp sinh hoạt đã quen và một số bạn bè thân ở lại miền Bắc. Thứ tình cảm ấy là do tuy còn bé, tôi đã có nhiều kỷ niệm về Hà Nội hơn những người cùng lứa tuổi. Là con một trong gia đình nên ông bố tôi đi đâu cũng dắt theo, chỉ dẫn tỉ mỉ về thành phố Hà Nội và làng mạc phụ cận, từ Nghĩa Ðô trong các tác phẩm của nhà văn Tô Hoài thời tiền chiến cho tới làng Vòng nổi tiếng về làm cốm, Trại hàng hoa Ngọc Hà hay làng Nhật Tân chuyên trồng cành đào bán ngày Tết…

Thời gian ấy nhiều người vẫn tin rằng di cư vào Nam chỉ là một cuộc ra đi tạm thời, hai năm sau có tổng tuyển cử sẽ có thể trở về bình thường. Nhưng bố tôi bảo rằng sẽ còn lâu lắm hay không bao giờ trở về nữa. 
Tôi chẳng thắc mắc vì sao ông tin như vậy, và bây giờ chắc chắn hiểu rằng ông không thể nào mường tượng rằng tôi sẽ còn phiêu bạt xa hơn rất nhiều nữa.

Những ngày trước khi rời Hà Nội, tôi thường xách chiếc Kodak 6×9, kiểu máy chụp hình kéo ra như chiếc đàn phong cầm, đi chơi khắp thành phố để cố ghi lại những kỷ niệm. Ðó là những hình ảnh qua cặp mắt của một thiếu niên, nghĩa là rất trẻ con, không có trình độ diễn tả được những nét tiêu biểu trong sinh hoạt của một thành phố đang biến chuyển. 

Chợ Trời ở đường Hồ Xuân Hương gần hồ Thuyền Quang, nơi dân chúng chuẩn bị di cư bán đi các đồ đạc trong nhà, là khu vực đông đảo nhất Hà Nội vào Tháng Tám, 1954. (Hình: Hà Tường Cát)
Chợ Trời ở đường Hồ Xuân Hương gần hồ Thuyền Quang, nơi dân chúng chuẩn bị di cư bán đi các đồ đạc trong nhà, là khu vực đông đảo nhất Hà Nội vào Tháng Tám, 1954. (Hình: Hà Tường Cát)

Thành phố đông đúc hơn do dân chúng từ các tỉnh đồng bằng đổ về tìm đường di cư, nhưng sinh hoạt ở những khu phố buôn bán thì sút giảm không còn vẻ rộn rã thường ngày. Nơi tập trung nhộn nhịp nhất là khu vực gần hồ Thiền Quang phía Nam thành phố, một khu nhà dân, không có những cửa hàng thương mại nhưng có hè phố rộng. Nơi đây trở thành Chợ Trời (dân Bắc gọi là Chợ Giời) có lẽ là đầu tiên ở Hà Nội. 

Khác với chợ trời năm 1975 ở Sài Gòn, dân Hà Nội 1954 không có nhiều thứ đồ gia dụng nên hầu hết những món đem ra bán là đồ gỗ, bàn ghế, giường tủ và cả bàn thờ.

Tôi rời bỏ miền Bắc ngày 30 Tháng Tám, 1954, 40 ngày sau Hiệp Ðịnh Geneve và hãy còn thời gian hai tháng để ai muốn ra đi hay ở lại được quyền tự do chọn lựa. Bố tôi nói là đừng nên đi trễ quá, có thể gặp khó khăn và không giải thích gì thêm. Hầu hết những gia đình định di cư vào Nam đều giữ kín ý định cho đến ngày ra đi. Trái lại gia đình tôi thì không làm được điều ấy. Trong khoảng một tháng trước ngày đi, nhà tôi trở thành chỗ tạm trú của nhiều người quen từ Nam Ðịnh, Ninh Bình, Phát Diệm lên Hà Nội tìm đường ra đi. 

Ðến lúc ấy tôi mới dần dần hiểu ra rằng bố tôi là người có nhiều liên hệ với Việt Nam Quốc Dân Ðảng, chẳng biết là đảng viên hay thế nào, vì ông không bao giờ cho biết. Ông nói với con đủ mọi chuyện nhưng trước sau không bao giờ nói chuyện gì liên quan đến chính trị. Sau này khi tôi trưởng thành và ông đã già yếu cũng không khi nào ông tỏ ra thắc mắc với sinh hoạt của tôi và luôn luôn đồng ý về tất các việc gì tôi làm. Ðó là điều khiến tôi rất thân và quý mến ông bố mình.

Buổi tối trước ngày đi, gia đình tôi thuê một chiếc xe “ba gác,” kiểu như xe bò bánh gỗ nhưng do người kéo, chất đầy hành lý, đi đến nơi tập trung ở một trường tư thục nhỏ ngay giữa trung tâm thành phố. Tôi nhớ đã làm một việc dại dột là khi mọi người còn đang bận rộn thu dọn nơi tạm trú qua đêm thì lén ra ngoài và đi bộ chừng hơn một cây số trở về để nhìn lại căn nhà cũ.

Bà mẹ tôi chửi mắng nặng nề khi thấy tôi về sau khoảng một giờ vắng mặt đâu mất khiến mọi người đều sợ tôi “bị người ta bắt thì sao.” Như thường lệ, ông bố tôi bình thản can thiệp, nói rằng việc qua rồi không có gì lo lắng nữa. Nhưng nghĩ lại tôi mới cảm thấy hơi sợ, không phải vì cho rằng có ai muốn bắt mình, nhưng nhớ lại cảnh đường phố vắng lặng dù mới là chập tối, các nhà đều đóng cửa sớm, sinh hoạt khác hẳn bình thường trước kia.

Chúng tôi lên máy bay từ phi trường Gia Lâm và bay ngang thành phố thân thiết một lần chót cho tới gần 40 năm sau mới có lần thấy lại. Ðó là một máy bay vận tải C-46 hai động cơ cánh quạt chở được trên 50 người, nghĩa là gần gấp đôi loại C-47 quen biết hơn với mọi người. Thân máy bay ghi tên hiệu CAT (Civil Air Transport) có vẻ như một máy bay hàng không dân dụng, thật ra hầu hết sứ mạng của nó là những hoạt động bí mật. Ðây là kiểu máy bay gắn bó với chiến tranh Việt Nam sau này, thường không sơn chữ số và dấu hiệu gì trên thân, thi hành những phi vụ thả dù biệt kích, đồ tiếp liệu hoặc chuyên chở hàng hóa và nhân viên cho các cơ quan dân sự hay tình báo Hoa Kỳ.

Bố tôi (quần áo trắng đội mũ) đứng chờ danh sách di cư vào Nam tại sở học chính Bắc Việt, Hà Nội, cuối Tháng Bảy, 1954. (Hình: Hà Tường Cát)
Bố tôi (quần áo trắng đội mũ) đứng chờ danh sách di cư vào Nam tại sở học chính Bắc Việt, Hà Nội, cuối Tháng Bảy, 1954. (Hình: Hà Tường Cát)

Qua khung cửa sổ máy bay là hình ảnh của những nơi sẽ trở thành rất thân thuộc với tôi trong hơn 30 năm kế tiếp, từ bờ biển, sông ngòi, núi rừng Trường Sơn cho đến các chiếc tàu biển trên dòng sông uốn cong bên thành phố Sài Gòn có những nhà mái ngói đỏ.

Tuy nhiên khác nhạc sĩ Vũ Thành và nhiều người ở thế hệ ông chỉ có “Giấc Mơ Hồi Hương,” sau này tôi có thể trở lại nơi cũ dù trong những hoàn cảnh và điều kiện khác với mong ước. Ðiều tình cờ chua chát là tôi trở về gần quê cũ, 23 năm sau cũng đúng vào ngày 30 Tháng Tám, trên đoàn xe chở “tù cải tạo” xuất phát từ trại T-20 đi ngược quốc lộ 1 về hướng Bắc. 

Lần thứ nhất tôi thực sự trở lại Hà Nội là năm 1989 khi làm việc trong văn phòng của một nhóm tư vấn đầu tư ở Sài Gòn, và được cử đi thương lượng cho một hãng Pháp có dự án mua lại các xe điện cũ ở Hà Nội để thay thế bằng xe bus. Năm ấy thành phố chưa thay đổi nhiều ngoại trừ một số cư xá mới xây cất cho cán bộ công nhân và những “chuồng cọp” trên các tầng lầu. Trong thời chiến tranh, dân Hà Nội ở những căn hộ do chính quyền phân phối cấp phát, tìm cách tăng diện tích bằng cách lấn ra ngoài các bao lơn được quây xung quanh bằng lưới sắt và họ đặt cho cái tên là “chuồng cọp.” Chưa phát triển theo đường lối kinh tế tư bản nên thành phố năm ấy còn sạch sẽ vì chẳng có nhiều hàng hóa tiêu dùng và rác.

Nhưng tới năm 2010 khi Hà Nội kỷ niệm “1000 năm Thăng Long” thì nhiều cảnh vật đã hoàn toàn khác. Ðường phố đầy người và xe cộ, nhất là xe máy hai bánh, hàng quán mọc lên vô trật tự khắp nơi và những nét cổ xưa chỉ còn rải rác len lỏi ở một đôi chỗ. Giống như Sài Gòn, Hà Nội có rất nhiều quán cà phê từ hạng sang trọng và đẹp cho đến những quán nằm trong các ngõ phố hay trên tầng lầu hiểm hóc. Ðó là nơi hấp dẫn du khách tò mò và người như tôi, muốn trao đổi tìm hiểu những khía cạnh sinh hoạt của người mới và người cũ.

Một buổi tối vào Cà Phê Giảng, tên quen thuộc của dân Hà Nội ngày xưa, bây giờ không còn là căn nhà nhỏ bé ở phố Cầu Gỗ mà là cửa hàng ba tầng lầu gần hồ Hoàn Kiếm, tôi có dịp ngồi nói chuyện với một nhóm sinh viên vừa mãn giờ học về. Họ không còn cắn hạt hướng dương bỏ rác đầy sàn mà phần lớn đều bận bịu với máy điện thoại di động trong tay. Tình cờ một cô bé nhận xét: “Bác nói tiếng Hà Nội chuẩn lắm.” Tôi bật cười hỏi lại theo em thế nào là chuẩn? Ðúng là có một thời gian người dân miền Nam, trong đó có tôi, cảm thấy thứ tiếng của dân “Bắc Kỳ 75″ rất khó nghe. Nhưng rồi tôi thành thật giải thích với họ: “Chẳng có thứ tiếng Hà Nội nào là chuẩn. Thời vua Lý Thái Tổ 1000 năm xưa khác, thời Tây trước 1954 khác và sau này khác. Không có người Hà Nội truyền thống đâu, hầu hết họ là người từ những nơi khác đến thành phố làm việc ở mỗi thời kỳ của lịch sử. Như thế tôi coi giọng Hà Nội ngày nay không giống tôi mới là Hà Nội chuẩn.”

Tôi hiểu nhiều người sẽ không đồng ý với tôi về suy nghĩ ấy. Nhưng thời gian đem đến mọi thay đổi và muốn hay không muốn, phải chấp nhận thực tế là nói chuyện 60 năm cũ thì được, chứ người ta không thể trở lại với sinh hoạt của 60 năm hay 1000 năm trước.

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Bạch Đằng Giang (Lưu Hữu Phước)

Trong những ngày này, chứng kiến Trung Quốc liên tục bành trướng trên Biển Đông, lấn chiếm hải phận Việt Nam, DongNhacXua.com chúng tôi lại ngậm ngùi hoài niệm những chiến công hiển hách của các bậc tiền nhân. Một trong những địa danh đã ghi dấu nhiều lần quân Trung Quốc chuốc lấy thảm bại là Bạch Đằng Giang.

Hôm nay chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một bản hùng ca bất hủ của nhạc sỹ tiền bối Lưu Hữu Phước: tác phẩm “Bạch Đằng Giang”.

Cầu mong hào khí dân tộc Việt mãi mãi tồn tại trong dòng chảy của lịch sử!

Bạch Đằng Giang (Lưu Hữu Phước - Mai Văn Bộ - Nguyễn Thành Nguyên)
Bạch Đằng Giang (Lưu Hữu Phước – Mai Văn Bộ – Nguyễn Thành Nguyên)

bach-dang-giang--1--luu-huu-phuoc--vnguitar.net--dongnhacxua.comjpg

SÔNG BẠCH ĐẰNG
(Nguồn: wikipedia.org)

Sông Bạch Đằng đoạn gần cửa sông (ảnh chụp từ trên phà Đình Vũ cắt ngang sông ra đảo Cát Hải). Ảnh: wikipedia.org
Sông Bạch Đằng đoạn gần cửa sông (ảnh chụp từ trên phà Đình Vũ cắt ngang sông ra đảo Cát Hải). Ảnh: wikipedia.org

Sông Bạch Đằng, còn gọi là Bạch Đằng Giang (chữ Hán: 白藤江)(tên nôm: sông Rừng), hiệu là sông Vân Cừ, là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Longcửa Lục khoảng 40 km. Nó nằm trong hệ thống sông Thái Bình.

  • Điểm đầu là phà Rừng – Hải Phòng (ranh giới Hải Phòng và Quảng Ninh).
  • Điểm cuối là cửa Nam Triệu – Hải Phòng. Sông có chiều dài 32 km.
  • Các loại tàu thuyền có tải trọng 300-400 tấn tham gia vận tải được cả 2 mùa.

Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền nam Trung Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầysông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội

Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:

Hiện ở khu vực cửa sông Bạch Đằng có 3 ngôi đền thờ 3 vị anh hùng trên đó là đình Hàng Kênh (Lê Chân, Hải Phòng) thờ Ngô Quyền, đền Vua Lê Đại Hành ở thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và đền Trần Hưng Đạo ở phường Yên Giang, (Quảng YênQuảng Ninh).

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Thiên Thai (Văn Cao): Tiếng Ca Trù Trên Sông Hương

Đây là bài viết của tác giả Trác Như gởi cho DongNhacXua.com và thể hiện ý riêng của tác giả về nhạc phẩm bất hủ ‘Thiên Thai’ của nhạc sỹ Văn Cao. Xin cảm ơn sự quý mến của Trác Như dành cho DongNhacXua.com và xin mạn phép đăng lại để bạn đọc gần xa có thêm thông tin thú vị.

thien-thai--0--van-cao--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com
Thiên Thai (Văn Cao). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

thien-thai--1--van-cao--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com thien-thai--2--van-cao--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

TIẾNG CA TRÙ TRÊN SÔNG HƯƠNG
(Nguồn: tác giả Trác Như gởi cho DongNhacXua.com )

Năm 1940, một chàng trai Hải Phòng lưu lạc đến tận sông Hương ở Huế để rồi thai nghén một ý nhạc kéo dài cả mấy năm. Sông và núi ở Huế đã khiến Văn Cao mơ đến chốn tiên cảnh đã từng khiến hai chàng Lưu và Nguyễn quên cả lối về. Nguồn cảm hứng trên tưởng có lúc đã phôi pha  nhưng không ngờ lại trổi dậy khi người thanh niên 18 tuổi  trở về Hải Phòng và bất chợt nghe được điệu ca trù trên dòng sông Phi Liệt năm 1941. (1)
 
Ca khúc Thiên Thai chính thức được nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành ở Huế năm 1944 (2). Tuy sông Hương là nguồn sữa nuôi nấng giấc mộng bồng lai, nhạc sĩ đã chọn điển tích Trung Hoa làm bối cảnh cho bài hát, và sau cùng thì thanh âm phong phú và lả lơi của các ả đào đất Cảng đã giúp cảm xúc ông chín mùi để hoàn tất tác phẩm cổ điển này.
 
Chưa hề được nghe giọng ca của Kim Tiêu, người nghệ sĩ đầu tiên trình bày bản này thuở chiến tranh chống Pháp, chỉ biết trong các thập niên 60 và 70, hai tiếng hát gắn bó với Thiên Thai nhất vẫn là Thái Thanh và Hà Thanh. Tiếng hát Thái Thanh là một cọ vẽ có khả năng diễn đạt đủ loại ánh sáng và gam màu khác nhau. Những chấn động trong cảm xúc mà Thái Thanh mang đến cho Thiên Thai rất tương xứng với sự đa dạng và tinh tế của nhạc phẩm này, như Phạm Duy đã từng phân tích: “Văn Cao đã chuyển nét nhạc một cách rất tài tình, dùng những nốt-bán-cung để di chuyển rất nhanh chóng câu hát đi từ một chủ âm mineure này qua chủ âm mineure khác, cho ta thấy được rất nhiều mầu sắc của khung cảnh thần tiên này”. (2)
 
Hà Thanh (trái) & Thái Thanh (phải). Ảnh: tác giả Trác Như.
Hà Thanh (trái) & Thái Thanh (phải). Ảnh: tác giả Trác Như.
Hà Thanh thì ngược lại: trầm lặng và nhẹ nhàng hơn. Hà Thanh cho thính giả cơ hội để có những suy diễn riêng tư. Khác với bức tranh lộng lẫy mà tiếng hát Thái Thanh tạo ra, phần trình bày của Hà Thanh dường như có thể dùng để minh họa cho quan điểm của Nguyễn Đình Toàn: “Cái thế giới thần thoại của cổ tích không phải chỉ được Văn Cao minh họa bằng những màu sắc tuyệt vời mà hình như ông còn tạo dựng bằng pha lê nữa. Mọi góc cạnh đều rắn, chắc. Màu sắc của nó còn có thể biến đổi tùy thuộc chủ quan của người thưởng ngoạn nữa.” (3) Cái đẹp của thiên thai trong trường hợp này là cái  đẹp của vô tướng và tại đây  hạnh phúc chính là sự vắng mặt của những ràng buộc và bi lụy. Một thế giới không nhơ không sạch, không có bắt đầu và cũng chẳng có kết đoạn.
 
Nếu như Thái Thanh là tiếng ca trù đã giúp Văn Cao cụ thể hóa Thiên Thai thì Hà Thanh, tiếng hát đã được nhà văn Mai Thảo gọi là  “tiếng hát trên trời cao” (4), là dòng Hương luôn hiện hữu để lặng lẽ nuôi sống cái cảm hứng thuở ban đầu của người nhạc sĩ này. Ca khúc Thiên Thai chính là kết quả của những tiếng ca trù trên dòng Hương Giang vậy.
 
Tuy đã hơn một lần ghé qua xứ Huế, tôi chưa từng đặt chân đến Hải Phòng, quê hương của Văn Cao, người đã từng gọi mình là “người sông Ngự”. Tuy vậy, tôi có cảm giác Hải Phòng là những gì đối ngược với Huế.  Một bên nồng cháy, một bên thơ thẩn. Một bên reo hò bên sóng biển, một bên ngồi nhìn dòng sông trôi lững lờ. Một bên đỏ rực phượng vỹ, một bên thầm thì những rặng thùy dương. Mỗi bên là một nửa của Thiên Thai, nuôi nấng cho nhau những giấc mộng của “ngày tháng chưa tàn qua một lần”.
 
(1)  “Văn Cao – Người đi dọc biển” – Nguyễn Thụy Kha
(2) Hồi Ký – Phạm Duy
(3) “Nhạc sĩ Văn Cao” – Nguyễn Đình Toàn
(4) “Em Đã Hoang Đường Từ Cổ Đại”- casihathanh.wordpress.com
 
Trác Như
6/2014

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Phản đối Trung Quốc bành trướng trên biển Đông: Tiếng Dân Chài

Cũng như hàng triệu đồng bào Việt Nam và những người có lương tri khắp năm châu, DongNhacXua.com nghẹn lòng khi chứng kiến nhiều chiếc thuyền đánh cá của ngư dân chúng ta bị Trung Quốc ngang ngược tấn công ngay trên vùng biển nước nhà. Thêm một lần nữa, chúng tôi phản đối ý đồ bành trướng của Trung Quốc và không biết làm gì hơn là gởi đến bà con ngư dân lời chúc bình an và mong sao hòa bình, ấm no một ngày nào đó sẽ lại đến với Tổ Quốc thân yêu!

Nhân dịp này DongNhacXua.com xin gởi đến quý vị bản “Tiếng dân chài” nổi tiếng của nhạc sỹ Phạm Đình Chương. Qua nét nhạc tài tình của nhà nhạc sỹ, chúng ta như hình dung ra khung cảnh mênh mông của biển cả, sự hồ hỡi của ngư dân ngày ra khơi, tính tương thân tương ái của bạn thuyền và niềm vui vỡ òa ngày trở về đất liền. Theo thiển ý của chúng tôi, “Tiếng dân chài” xứng đáng được tôn vinh là một trong những nhạc phẩm hay nhất viết cho đời ngư phủ.

Tiếng dân chài (Phạm Đình Chương). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Tiếng dân chài (Phạm Đình Chương). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

tieng-dan-chai--1--pham-dinh-chuong--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com tieng-dan-chai--2--pham-dinh-chuong--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

16h ngày 26/5, tàu cá ĐNa 90152 TS do thuyền trưởng Đặng Văn Nhân cầm lái, đang đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa thì bất ngờ bị tàu cá Trung Quốc hung hãn đâm chìm ở vị trí cách giàn khoan Hải Dương-981 mà nước này hạ đặt trái phép 17 hải lý. Mười ngư dân may mắn thoát chết. Chiếc tàu bị chìm theo phương thẳng đứng, mất 4 ngày tàu cứu hộ, kiểm ngư Việt Nam mới lai dắt về đến vịnh Đà Nẵng.
16h ngày 26/5, tàu cá ĐNa 90152 TS do thuyền trưởng Đặng Văn Nhân cầm lái, đang đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa thì bất ngờ bị tàu cá Trung Quốc hung hãn đâm chìm ở vị trí cách giàn khoan Hải Dương-981 mà nước này hạ đặt trái phép 17 hải lý. Mười ngư dân may mắn thoát chết. Chiếc tàu bị chìm theo phương thẳng đứng, mất 4 ngày tàu cứu hộ, kiểm ngư Việt Nam mới lai dắt về đến vịnh Đà Nẵng.

Xem thêm: http://vnexpress.net/photo/thoi-su/vet-dam-chi-mang-lam-chim-tau-ca-da-nang-2998990.html

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Vĩnh biệt nhạc sỹ Thanh Bình (1932-2014)

Thôi rồi còn chi đâu em ơi,
Có còn lại chăng dư âm thôi …

DongNhacXua.com chúng tôi xin mượn hai câu đầu trong bản ‘Tình lỡ‘ nổi tiếng của nhạc sỹ Thanh Bình để bắt đầu bài viết vĩnh biệt người nhạc sỹ tài hoa nhưng gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Ông đã mãi mãi rời xa “những nẻo đường Việt Nam” (tên một nhạc phẩm nổi tiếng khác của nhạc sỹ Thanh Bình) để về với các bận tiền nhân mà phiêu diêu miền cực lạc!

NHẠC SỸ THANH BÌNH: CUỘC ĐỜI KHÔNG NHƯ TÊN GỌI
(Nguồn: tác giả Minh Nga đăng trên báo Người Lao Động)

Ông về với đất trời khi ước nguyện gặp lại con chưa thành…. Ông đã ra đi tìm sự thanh bình, bỏ lại cuộc đời bể dâu, chất chứa đau buồn

Không biết có phải là điềm báo trước hay không, ca sĩ Ánh Tuyết, người đã đi tìm ông và gần gũi với ông nhất trong những năm tháng cuối đời của ông, cho biết cả đêm đó chị không ngủ được. “Tự dưng tôi thấy nóng ruột, nằm thao thức mãi. Đến khoảng hơn 4 giờ ngày 23-5, tôi nhận được cuộc điện thoại của chị Phượng – cháu ruột ông – nói trong nước mắt: “Cậu đã đi rồi!”.

Một cuộc đời sóng gió

Biết bao người đã chìm đắm trong cảm xúc mỗi khi những câu hát khắc khoải như rút tâm can trong bài Tình lỡ mà chẳng hay biết tác giả của nó là ai. Mãi cho đến khi ca sĩ Ánh Tuyết có bài viết về cuộc đời ông, trước lần tổ chức đêm nhạc quyên góp giúp đỡ ông vào đầu tháng 1 năm nay, nhiều người mới biết đến nhạc sĩ Thanh Bình. Cuộc đời ông không hề “thanh bình” như tên gọi. Cả một đời, ông phải chôn chặt và cất giấu quá nhiều nỗi buồn tủi khi không có được một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc riêng trọn vẹn.

Nhạc sĩ Thanh Bình và ca sĩ Ánh Tuyết (Ảnh do ca sĩ Ánh Tuyết cung cấp)
Nhạc sĩ Thanh Bình và ca sĩ Ánh Tuyết (Ảnh do ca sĩ Ánh Tuyết cung cấp)

Trong đêm nhạc đầu tiên cũng là cuối cùng của đời mình, ông xúc động nói với Ánh Tuyết: “Cả đời tôi chưa bao giờ được ngồi xem đêm nhạc của mình như thế. Bây giờ có chết tôi cũng mãn nguyện rồi!”.

Theo lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, khi Thanh Bình đã là nhạc sĩ, ông chỉ là nhạc công đi đàn dạo. Một lần, ông được bạn bè giới thiệu gặp đàn anh trong nghề để học hỏi. Ấn tượng của ông về Thanh Bình là “một chàng trai đẹp, hào hoa, phong nhã”. Ông chỉ dám đứng xa xa nhìn chứ không dám lại gần. Mãi một thời gian sau, 2 người quen biết nhau, coi nhau như anh em. Thanh Bình đã dạy ông rất nhiều về nghề. Nguyễn Ánh 9 không biết nhiều về đời tư của nhạc sĩ Thanh Bình vì lúc đó, Thanh Bình sống rất khép kín, ít khi chia sẻ chuyện riêng: “Có lẽ anh ấy gặp quá nhiều chuyện buồn trong cuộc sống nên giữ cho riêng mình”. Thanh Bình sáng tác ít, nổi tiếng nhất là ca khúc Tình lỡ do được sử dụng trong phim Nàng. Nguyễn Ánh 9 kể: “Có lần tôi hỏi anh ấy tại sao lại viết nhạc ít vậy, anh ấy nói rằng viết nhạc đâu phải để kiếm tiền. Có cảm xúc thì mới viết được”.

Gặp lại nhạc sĩ Thanh Bình trong đêm nhạc do ca sĩ Ánh Tuyết tổ chức cho ông, sau 30 năm xa cách,nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 buồn thương khi nhìn thấy sự tàn tạ của đồng nghiệp đàn anh. “Thú thật là lúc gặp lại anh ấy, tôi không nhận ra. Thời gian trôi qua, anh ấy đổi thay nhiều nhưng chẳng ngờ từ một chàng trai hào hoa phong nhã ngày nào mà bây giờ anh ấy lại tiều tụy quá”.

Tình duyên bẽ bàng

Đúng như tên gọi ca khúc Tình lỡ nổi tiếng của ông, cuộc tình nào của ông cũng đầy nỗi buồn thăm thẳm. Đời ông không biết bao lần rơi vào cảnh chông chênh, không ít lần tưởng chừng đã chạm tay vào hạnh phúc nhưng rồi lại tan như bọt nước. Ca khúc Tình lỡ chính là câu chuyện tình mà ông viết cho mình, khi duyên tình với người con gái Hải Phòng quá ngắn ngủi. Cô gái bị gia đình ép lấy chồng, ông phải thốt lên bằng những lời ca da diết: “Thôi rồi, còn chi đâu em ơi! Có còn lại chăng dư âm thôi. Trong cơn thương đau men đắng môi…”.

Người đàn bà nên duyên chồng vợ với ông rất xinh đẹp và họ có với nhau một con gái. Đớn đau thay, vợ ông bỏ nhà đi khi con gái mới lên 3 tuổi, một mình ông nuôi con trong muôn vàn khó nhọc. Không ít lần ông tự hỏi: “Yêu nhau là thế, sao bỏ đi quá dễ dàng?”. Ông không muốn nhớ về những ký ức đã đi vào dĩ vãng nhưng ở đời lạ lắm! “Khi không muốn còn gì để nhớ. Là lúc lòng không thể nào quên” (thơ Phan Vũ). Thanh Bình cũng như vậy.

Ông bảo đời cứ ném ông vào khoảng trời cay đắng. Con gái lớn, có chồng nhưng cuộc hôn nhân không trọn vẹn, lại vướng vào vòng lao lý. Người già thường sống nương nhờ con nhưng có ai ngờ một ông già 80 tuổi như nhạc sĩ Thanh Bình lại bị con rể nhẫn tâm bỏ rơi ở bến xe, phải sống vất vưởng 18 ngày ở đó. Đó là một khoảng đời cay nghiệt nhất đối với ông. May nhờ đứa cháu gái gọi ông bằng cậu (chị Phượng) tìm được, đưa ông về và cưu mang đến cuối đời.

Nhắm mắt mà không được gặp con

Trong những năm tháng cuối đời, sống với các cháu trong gian nhà đơn sơ, ông ít khi nhắc lại quá khứ với ai, chỉ tâm sự với ca sĩ Ánh Tuyết mỗi lần chị đến thăm. Người nhạc sĩ tóc đã phai màu vẫn ôm nỗi cô đơn với một biển sầu hiu hắt. Bao nhiêu ngày đợi tháng chờ con mòn mỏi là bấy nhiêu đau buồn, lo lắng không yên. Có nhiều lần chị Phượng thấy ông ngồi khóc một mình, gặng hỏi mãi ông mới nói: “Cậu nhớ con Ngọc (con gái của ông – PV) quá! Không biết bao giờ mới được gặp lại nó đây? Chỉ sợ cậu ra đi mà chưa gặp lại con”. Chị Phượng kể những lá thư chị Ngọc gửi về, ông cất giữ cẩn thận và mang ra đọc đi đọc lại. Mỗi lần đọc là đỏ hoe mắt. “Nhiều lần ông đòi xuống trại giam ở lại với con gái nhưng tôi cứ động viên ông ráng khỏe sẽ đưa ông đi gặp con. Ông nghe vậy, ngày nào cũng chờ đợi, trông ngóng” – chị nói.

Ca sĩ Ánh Tuyết cũng không ít lần hứa sẽ dẫn ông đi thăm con gái nhưng đều lỗi hẹn. Chị đang liên lạc mọi cách để chị Ngọc về gặp cha lần cuối. Chị cũng hứa sẽ thực hiện cho ông một album kỷ niệm, tập hợp tất cả những sáng tác của ông nhưng tất cả giờ đều dang dở…

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Vĩnh biệt nhạc sỹ Tô Vũ – Hoàng Phú (1923-2014)

Ngày 13/05/2014, tân nhạc Việt Nam chứng kiến sự ra đi mãi mãi của một trong những bậc tiền bối, người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà nhạc Việt. DongNhacXua.com muốn nói đến sự ra đi của nhạc sỹ Tô Vũ, tức Hoàng Phú của nhóm Đồng Vọng ngày nào. Qua bài viết này, chúng tôi xin được phép gởi lời chia buồn đến gia quyến nhà nhạc sỹ và cầu chúc linh hồn ông an nghỉ miền miên viễn.

Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

em-den-tham-anh-mot-chieu-mua--1--to-vu--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com em-den-tham-anh-mot-chieu-mua--2--to-vu--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

ĐÔI NÉT VỀ NHẠC SỸ TÔ VŨ
(Nguồn: wikipedia.com)

Nhạc sỹ Tô Vũ. Ảnh: Hà Đình Nguyên (thanhnien.com.vn)
Nhạc sỹ Tô Vũ. Ảnh: Hà Đình Nguyên (thanhnien.com.vn)

Tô Vũ (tên thật: Hoàng Phú, 9 tháng 4 năm 1923 – 13 tháng 5 năm 2014) là một nhạc sĩgiáo sư, nhà nghiên cứu âm nhạcđương đại của Việt Nam. Ông cùng với người anh là nhạc sĩ Hoàng Quý đã có mặt từ những ngày đầu tiên của tân nhạc Việt Namđồng thời là những thành viên sáng lập ra nhóm Đồng Vọng, đại diện cho âm phái Hải Phòng. Hoạt động của nhóm trong làng âm nhạc Việt Nam thời tiền chiến từng tạo nên tiếng vang và để lại ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam. Nghệ danh Tô Vũ là do các bạn văn nghệ đặt cho ông, mượn tên của nhà ngoại giao Tô Vũ thời Hán Vũ Đế ở Trung Quốc.

Tô Vũ sinh ngày 9 tháng 4 năm 1923 tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang nhưng từ khi còn nhỏ ông đã chuyển về sống tại Hải Phòng cùng bốn người anh em ruột của mình. Hoàng Phú ít hơn người anh Hoàng Quý ba tuổi. Mẹ mất sớm, bố đi làm xa nên chủ yếu gửi tiền về nuôi các anh em ông. Trong số các anh em, Hoàng Quý và Hoàng Phú đặc biệt say mê âm nhạc. Hai anh em học được những kiến thức âm nhạc đầu tiên (violin) qua một phụ nữ người Pháp tên Leprêtre là chủ cửa hiệu Orphée, chuyên bán nhạc cụ và sách nhạc Tây ở Hải Phòng thời đó. Tuy nhiên, người tích cực khuyến khích hai anh em họ Hoàng đi theo “âm nhạc cải cách” (tân nhạc) là thầy dạy môn văn chương Pháp tên là Ngô Đình Hộ (tức nhạc sĩ Lê Thương), để cùng thầy biểu diễn trong các tiết mục văn nghệ của trường.

Năm 1939, Hoàng Quý và Hoàng Phú (Tô Vũ) quy tụ một số bạn bè trong đó có Phạm NgữCanh Thân và Văn Cao để lập ra nhóm nhạc Đồng Vọng. Nhóm Đồng Vọng sinh ra từ phong trào hướng đạo sinh do Hoàng Quý làm trưởng nhóm, lập ra với ý nghĩa như là tiếng gọi tập hợp thanh niên lại với nhau. Từ phương châm này, nhóm Đồng Vọng đã góp phần cổ suý cho nền tân nhạc Việt Nam. Nhóm sáng tác được khoảng 60 ca khúc mang nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng dân tộc. Ngoài ra, một số tình khúc của nhóm như Cô láng giềng của Hoàng Quý và Bến xuân của Văn Cao cho đến nay vẫn được coi như những tuyệt phẩm của nền tân nhạc Việt Nam.

Cũng như người anh Hoàng Quý, Hoàng Phú sớm tham gia Việt Minh. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ tại miền Bắc, Hoàng Phú gia nhập Ban Văn nghệ tuyên truyềnKiến An (Hải Phòng), còn Hoàng Quý cũng tích cực sáng tác và hoạt động cách mạng. Các ca khúc Cảm tử quânSa trường hành khúc của ông đã ra đời trong giai đoạn này. Nhưng vì mắc bệnh nan y nên Hoàng Quý đã qua đời giữa năm 1946 khi mới 26 tuổi. Khi đó Hoàng Phú vẫn hoạt động cách mạng trên địa bàn Hải Phòng. Ca khúc nổi tiếng nhất của ông là Em đến thăm anh một chiều mưa được sáng tác vào năm 1947, khi đơn vị của ông đang công tác tại huyện Tiên Lãng (Hải Phòng). Cũng trong thời kỳ này, nghệ danh Tô Vũ của Hoàng Phú đã được các bạn bè cùng hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ đặt cho ông.

Dù nhận được học bổng du học Pháp nhưng do anh trai là nhạc sĩ Hoàng Quý mất sớm nên Hoàng Phú quyết định ở lại Hải Phòng để lo cho những người em còn lại. Ông xin vào dạy hợp đồng ở trường Bình Chuẩn (tiền thân là Trường Bonnal, nay là Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền). Năm 1948, Hoàng Phú được chọn là đại biểu của Chiến khu 3 đi dự Đại hội Văn hóa Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất. Năm 1950, Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật được thành lập, Tô Vũ được mời tham gia trong ban nghiên cứu âm nhạc do nhạc sĩ Văn Cao làm trưởng ban.

Khác với nhiều tên tuổi của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam (nhạc tiền chiến) không còn hoặc ít sáng tác về sau, Tô Vũ vẫn tiếp tục sáng tác trong giai đoạn chiến tranh sau này, nổi bật là các ca khúc như Cấy chiêmNhớ ơn Hồ Chí Minh và Như hoa hướng dương. Bên cạnh viết bài hát, ông còn sáng tác nhạc cho các loại hình sân khấu như tuồngchèo,cải lương, múa rối,… và cho điện ảnh. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về chèo, cồng chiêngđàn đá, thang âm – điệu thức và âm nhạc dân gian Việt Nam.[1]

Ông cũng từng đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện âm nhạc cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh, Thư ký Đoàn Nhạc sĩ Khu III đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam (Nhạc viện Quốc gia sau này). Ông còn là một nhà nghiên cứu có thâm niên và uy tín trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc (nhạc truyền thống) cũng như âm nhạc hiện đại. Bên cạnh đó, ông cũng có công lớn trong việc đào tạo nhiều tài năng thế hệ sáng tác nhạc sau này. Sau sự kiện 1975, ông chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh và làm Viện phó Viện Nghiên cứu Âm nhạc, phụ trách bộ phận phía nam.[1] Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 1 (năm 2001).

Tô Vũ qua đời hồi 3 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 5 năm 2014 tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 92 tuổi.[1]

TÔ VŨ VÀ NHỮNG KỶ NIỆM TỪ CHIỀU MƯA NĂM ẤY
(Nguồn: vnExpress.net)

Hơn nửa thế kỷ trước, ca khúc “Em đến thăm anh một chiều mưa” từng làm xao xuyến bao con tim đang yêu. Tác giả của ca khúc bất hủ này giờ đã bước vào tuổi 80 nhưng vẫn còn rất sung sức. Dưới đây là tâm sự của ông.

- Ông có thể nói đôi chút về hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “Tiếng chuông chiều thu”, “Tạ từ”…?

- Mọi người nhớ nhiều đến những ca khúc này vì nó được phổ biến và lưu truyền ở miền Nam từ lúc ra đời (1947-1948) cho đến nay. Em đến thăm anh một chiều mưa tôi viết năm 1947, khi đơn vị tuyên truyền huyện An Lão chúng tôi tiếp nhận 3 nữ cứu thương của huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, trên đường phục vụ chiến đấu bị lạc đơn vị. Được khoảng 2 tháng thì 3 cô gái ấy phải trở về đơn vị cũ cách chỗ chúng tôi khoảng 8 km đường bộ. Khi chia tay, chúng tôi hẹn sẽ sang thăm nhau vào chủ nhật mỗi tuần. Hôm ấy trời mưa, chúng tôi không thể sang thăm bên kia được. Buổi chiều, trời vẫn mưa, tôi đang ở nhà thì em một mình đội mưa đến thăm… Xúc động, tôi đã viết nên bài hát này. Tuy nhiên, theo thời gian, tôi không nhớ nổi người nào trong 3 cô gái đã hiện ra với tôi trong chiều mưa năm ấy. Còn bài Tạ từ là tôi viết giùm cho một người bạn vào năm 1947, anh ấy tên là Nguyễn Văn Huấn (hiện là bác sĩ, sống ở Pháp) đem lòng yêu tiểu thư người Hà Nội tên là Ánh Hà, theo gia đình sơ tán về Thái Bình, nhưng sau đó gia đình cô này không quay về Hà Nội.

- Anh trai Hoàng Quý của ông rất nổi tiếng với “Cô láng giềng”. Ông có biết gì về cô láng giềng này không?

- Hồi đó, chúng tôi chưa biết viết theo kiểu người thật, việc thật. Có thể có một phần sự thực cộng với ít nhiều hư cấu, bởi xung quanh nhà tôi ở Hải Phòng, chẳng thấy nhà ai có vườn, mà chẳng thấy nhà nào trồng hoa tường vi để đôi ta cùng đứng bên bờ tường vi cả.

- Là một nhạc sĩ xuất phát từ trào lưu tân nhạc, lại là người gốc Bắc, do đâu ông lĩnh hội một cách thấu đáo về cổ nhạc và cả đờn ca tài tử Nam Bộ?

- Tôi là người đầu tiên nghiên cứu về chèo cổ một cách hệ thống, bài bản. Nhưng rồi tôi nghĩ, chỉ biết âm nhạc cổ truyền của một nửa nước thì chưa được, bèn quyết tâm theo GS Lưu Hữu Phước vào Nam làm việc, nghiên cứu về các loại nhạc cụ còn mới mẻ như đàn đá, cồng chiêng Tây Nguyên.

(Theo Thanh Niên)

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

Phản đối Trung Quốc bành trướng trên biển Đông: Gần lắm Trường Sa

Mấy ngày gần đây, Trung Quốc lại ngang ngược đưa dàn khoan vào thềm lục địa của Việt Nam, một hành động leo thang trong nỗ lực thôn tính cả vùng biển Đông. Cũng như hàng triệu người có lương tri, nhất là những người con dân tộc Việt, DongNhacXua.com xin góp một tiếng phản đối thông qua một nhạc phẩm ra đời cách đây đã hơn 30 năm: ‘Gần lắm Trường Sa’ của nhạc sỹ Hình Phước Long.

ĐÔI NÉT VỀ BÀI HÁT ‘GẦN LẮM TRƯỜNG SA’ CỦA NHẠC SỸ HÌNH PHƯỚC LONG
(Nguồn: BaiCaDiCungNamThang.net)

Đã gần 30 năm trôi qua kể từ khi bài hát ra đời, nhưng giai điệu thân thương, quen thuộc bài hát “Gần lắm Trường Sa” của nhạc sĩ Hình Phước Long vẫn không bị lãng quên mà ngày càng đi sâu vào lòng người. Bài hát chẳng những là “bài ruột” của người lính Hải quân mà còn là bài hát được nhiều người trên khắp mọi miền Tổ quốc yêu thích. Và mỗi lần biển Đông “dậy sóng” thì giai điệu bài hát lại vang xa, càng nhắc nhở chúng ta luôn hướng về nơi ấy- nơi quần đảo xa xôi đang có những người lính ngày đêm chắc tay súng canh giữ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhạc sỹ Hình Phước Long. Ảnh: BaiCaDiCungNamThang.net
Nhạc sỹ Hình Phước Long. Ảnh: BaiCaDiCungNamThang.net

Nhạc sĩ Hình Phước Long, sinh năm 1950, tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ông là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Tỉnh Khánh Hòa quê ông ngoài thành phố biển Nha Trang xinh đẹp, còn là nơi đặt bản doanh của Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 4 với vịnh Cam Ranh nổi tiếng về vị trí chiến lược quân sự, nên ông có dịp chứng kiến nhiều hình ảnh cũng như hoạt động của lực lượng Hải quân Nhân dân.

Về hoàn cảnh ra đời bài hát ông cho biết: Trong một lần dự trại sáng tác được tổ chức tại TP Nha Trang, vào năm 1982 của thế kỷ trước, một chiều khi ông đạp xe dọc đường Trần Phú đã bất ngờ bắt gặp hình ảnh một cô gái mặc áo dài đang đứng dõi mắt về hướng biển khơi. Hình ảnh một người con gái đứng cô đơn giữa trời và biển trong ánh hoàng hôn dần buông, đã làm trái tim người nhạc sĩ xúc động thật sự và ông đã tự đặt cho mình câu hỏi: Phải chăng cô gái ấy có người yêu là lính Hải quân đang làm nhiệm vụ tận ngoài quần đảo Trường Sa và cô đang gửi nỗi nhớ thương của mình về phương trời xa xăm ấy?

Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm cách Cam Ranh trên 459Km, nơi mà ông chưa từng đặt chân tới mà chỉ nghe kể lại rằng nơi ấy điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, chỉ có cây phong ba, cánh chim hải âu làm bạn với những người lính trong sóng cuồng, bão giật… Và từ hình ảnh bất chợt ấy, cảm thông với nỗi niềm của một tình yêu đôi lứa phải tạm xa nhau vì nhiệm vụ, một giai điệu mang hơi hướng dân ca đã chợt lóe lên trong đầu ông:

“Không xa đâu Trường Sa ơi! Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh/ Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em…”

Và với cảm xúc tuôn trào, không lâu sau đó ông hoàn thành bài hát “Gần lắm Trường Sa”, qua giọng hát của ca sĩ Anh Đào, trên sân khấu của đoàn Ca múa nhạc Hải Đăng và sau này của những ca sĩ nổi tiếng khác như Thanh Thúy, Long Nhật, Khánh Hòa… bài hát đã nhanh chóng lan tỏa khắp nơi. Dù lúc ấy chưa đặt chân đến Trường Sa nhưng những gì ông mô tả rất thật, rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của những người lính đảo:

“Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ, bên đồng đội yêu thương.
Chỉ có loài chim biển, sóng vỗ điệp trùng quanh gành trúc san hô.
Trường Sa ơi! Biển đảo quê hương, đôi mắt biên cương, vẫn sáng long lanh giữa sóng cuồng bão giật, đảo quê hương!”

Bài hát không chỉ thay lời một người con gái gửi lòng thương nhớ về người yêu là lính thủy mà là cả một hậu phương lớn đang ngày đêm cùng hướng về nơi ấy.

“Anh ơi có nghe lời người từ phố biển, khi ngọn triều dâng cao.
Khi cánh hải âu về, khi nắng sáng mùa, nơi gành trúc san hô.
Chiều Nha Trang, sao bỗng bâng khuâng, như thấy anh đang sừng sững kiên trung giữa pháo đài giữ đảo, Trường Sa ơi!”

Đến năm 1984, nhạc sĩ Hình Phước Long mới có dịp theo đoàn ra thăm Trường Sa. Những người lính Hải quân đã được tận mắt chứng kiến và nghe chính tác giả hát bài “Gần lắm Trường Sa” cho các anh nghe. Đã gần 30 năm trôi qua kể từ khi bài hát ra đời, nhưng với giai điệu thân thương, quen thuộc, bài hát “Gần lắm Trường Sa” của nhạc sĩ Hình Phước Long ngày càng đi sâu vào lòng người. Bài hát chẳng những là “bài ruột” của người lính Hải quân mà còn là bài hát được nhiều người trên khắp miền Tổ quốc yêu thích. Và mỗi lần biển Đông “dậy sóng” do các âm mưu đen tối gây ra, thì giai điệu bài hát lại vang xa, càng nhắc nhở chúng ta luôn hướng về nơi ấy- nơi quần đảo xa xôi có những người lính đang ngày đêm chắc tay súng canh giữ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đến nay nhạc sĩ Hình Phước Long đã sáng tác 15 ca khúc về Trường Sa, nhưng có lẽ bài hát “Gần lắm Trường Sa” ông sáng tác năm 1982 đã góp phần làm cho Trường Sa- không xa, là một bài hát đưa tên tuổi nhạc sĩ sáng tác, lẫn ca sĩ thể hiện sống mãi với thời gian.

Anh Tiến (TP Vĩnh Long)

Gần lắm Trường Sa
Sáng tác: Hình Phước Long
Trình bày: Hoài Thanh

Mỗi cánh thư về từ đảo xa
Anh thường nói rằng: “Trường Sa xa lắm em ơi !”
Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ, bên đồng đội thân yêu
Chỉ có loài chim biển, sóng vỗ điệp trùng, quanh đảo trúc san hô
Trường Sa ơi ! Biển đảo quê hương
Vẫn đứng hiên ngang giữa sóng cồn bão dạt, đảo quê hương
Canh giữ đêm ngày giữa biển khơi
Thương nhớ sao vơi người chiến sỹ Trường Sa ơi !

Không xa đâu Trường Sa ơi !
Không xa đâu Trường Sa ơi !
Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh
Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em

Mong cánh thư về từ đảo xa
Nơi thành phố này Trường Sa vẫn bên em
Anh ơi có nghe lời người từ phố biển
Khi ngọn triều dâng cao, khi cánh hải âu về
Sóng vỗ điệp trùng quanh đảo trúc san hô
Trường Sa ơi ! Biển đảo quê hương
Vẫn thấy anh đang giữa sóng cồn giữ đảo, đảo quê hương
Canh giữ đêm ngày giữa biển khơi
Thương nhớ sao vơi người chiến sĩ Trường Sa ơi !

Không xa đâu Trường Sa ơi !
Không xa đâu Trường Sa ơi !
Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh
Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em
Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh
Vẫn gần bên anh vì Trường Sa luôn bên em

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Khúc Hát Ân Tình (Xuân Tiên)

DongNhacXua.com chúng tôi không có nguồn tư liệu đáng tin cậy để biết được hoàn cảnh mà nhạc sỹ Xuân Tiên sáng tác bản ‘Khúc hát ân tình’. Theo tư liệu trên wikipedia.com thì nhạc sỹ Xuân Tiên sinh năm 1921, tức thuộc hàng “trưởng lão” của nền tân nhạc Việt Nam. Hiện ông đang an hưởng tuổi già ở xứ sở Australia. Theo hiển ý của chúng tôi, có lẽ nhà nhạc sỹ sáng tác ‘Khúc hát ân tình’ sau năm 1954, khi con sông Bến Hải vô tình trở thành chứng nhân bất đắc dĩ cho một trong những cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Nước Việt Nam đã thống nhất, đúng như mơ ước của nhạc sỹ Xuân Tiên về viễn cảnh “một nhà thân ái”. Nhân bài viết này, DongNhacXua.com chúc nhạc sỹ Xuân Tiên và gia đình nhiều sức khỏe và nếu có duyên thì người yêu nhạc thuộc thế hệ trẻ như chúng tôi có thêm nhiều tư liệu về bản nhạc nổi tiếng này để cung cấp cho quý vị.

Khúc hát ân tình (Xuân Tiên). Ảnh: http://phammusic.free.fr/
Khúc hát ân tình (Xuân Tiên). Ảnh: http://phammusic.free.fr/

ĐÔI NÉT VỀ NHẠC SỸ XUÂN TIÊN
(Nguồn: phammusic.free.fr)

xuan-tien--phammusic.free.fr--dongnhacxua.com

Ngày sinh 28 tháng giêng, 1921
Nơi sinh Hà Nội, Việt Nam

Quá trình rèn luyện kỹ năng sử dụng nhạc cụ và kiến thức nhạc học

1927 Mandoline, nhạc lý Tây phương và Trung Hoa

1936 Clarinette, Saxophone và Sáo Tây, hoà âm tây phương

1941 Các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, Thái Lan, Lào và Cam Bốt

Khảo sát âm nhạc ba miền Bắc, Trung, Nam

1941-46 Trumpet, Trombone, Banjo, Guitar, Violin, Xylophone, Vibraphone, Piano, Accordeon, Button accordeon, Bandoneon.

Trình tấu

1941-42 Trình tấu Clarinette, Saxophone và Sáo Tây từ Bắc chí Nam

Xuất bản

1949 Các sách Tự học Kỹ Thuật Ðộc Tấu Clarinette, Saxophone và Sáo Tre

Cải tiến sáo tre

1950 Cùng với bào huynh là nhạc sĩ Xuân Lôi cải tiến sáo tre thành hai loại 10 lỗ và 13 lổ có khả năng bao gồm nhiều âm giai khác nhau, kể cả âm giai dị chuyển. Hai loại sáo này hiện được tàng trữ tại Musée de l’Homme, Paris, France.

Ðiều khiển dàn nhạc

1944-46 Hà Nội: Victoria, Muolin Rouge, Hotel Splendide và Lucky Star

1951-52 Nam Ðịnh: Văn Hoa

1952-75 Sài gòn: Văn Cảnh, Ðại Kim Ðô, Blue Diamond, Eden Rock, Palace Hotel, Bách Hỷ

Làm việc với các đài phát thanh

1952-75 Pháp Á, Sàigòn, Quân Ðội, Mẹ Việt Nam

Sáng chế các loại nhạc cụ mới

1976 Sáng chế cây đàn 60 dây có khả năng bao gồm tất cả các âm giai. Kỹ thuật trình tấu tương tự như cây đàn Tranh, nhưng tay phải để gảy giai điệu và tay trái để đệm hợp âm 

1980 Sáng chế căy đàn bầu mới với trái bầu dài làm bằng hộ khuếch âm. Ðàn này đã được đem ra trình tấu nhiều lần ở Úc Ðại Lợi.

dan-bau-xuan-tien

Những ca khúc phổ thông nhất

1939-42 “Chờ một kiếp mai”, “Trên kiếp hoa”

1952-62 “Khúc hát ân tình”, “Hận Ðồ Bàn”, “Về dưới mái nhà”, “Duyên Tình”

1963-83 “Ðường đi lối về”, “Xa quê hương”, “Ðất Việt”

1987-95 “Lòng người xa quê”, “Tiếng bình minh”, “Tiếng trống trong rừng sâu”

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Giấc Mơ Hồi Hương

Trong ký ức của nhiều thế hệ người miền Bắc, đặc biệt là những người con của Hà Nội, phải lìa xa miền quê yêu dấu để di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954, bản ‘Giấc mơ hồi hương’ của nhạc sỹ Vũ Thành vẫn mãi là những khắc khoải khó phai mờ trong tâm trí. Không phải ai cũng có thể thuộc được bài này và không phải ca sỹ nào cũng có thể hát tròn trịa được hết các nốt nhạc, thế nhưng ‘Giấc mơ hồi hương’ như là một cái gì đó thật đặc biệt, thật lôi cuốn để cho tất cả những ai ‘lìa xa thành đô yêu dấu’ nuôi hoài một ‘giấc mơ hồi hương’.

Nhân bài viết này, DongNhacXua.com xin kính chúc linh hồn nhạc sỹ Vũ Thành thảnh thơi an nghĩ nơi chốn xa xăm!

Giấc mơ hồi hương (Vũ Thành). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Giấc mơ hồi hương (Vũ Thành). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

giac-mo-hoi-huong--1--vu-thanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

ĐÔI NÉT VỀ NHẠC SỸ VŨ THÀNH
(Nguồn: wikipedia.com)

nhac-sy-vu-thanh--dongnhacxua.comNhạc sĩ Vũ Thành sinh năm 1926 tại Hà Nội. Vũ Thành vừa là nhạc trưởng vừa là một nhạc sĩ sáng tác. Trước năm 1954, nhạc sĩ Vũ Thành là công chức và là nhạc trưởng trong ban nhạc “Việt Nhạc” của đài phát thanh Hà Nội. Chính thời kỳ này nhạc của Vũ Thành được hát nhiều nhất. Âm hưởng thanh tao, óng ả của những dòng nhạc tuyệt vời của Vũ Thành đem đến một luồng không khí mới mẻ cho nhạc Việt, lúc đó còn nặng những âm điệu ủ ê, sướt mướt của cung Ré thứ trong hầu hết nhạc của Đặng Thế Phong, của Văn Chung và một số của Văn Cao. Sau năm 1954, Vũ Thành di cư vào Nam. Ông có thời gian làm chỉ huy trưởng ngành quân nhạc của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và từng giữ chức vụ chủ sự phòng văn nghệ Đài phát thanh Quốc gia Sài Gòn. Sau năm 1975, ông định cư và mất tại Hoa Kỳ năm 1987.

Ngoài tài năng của một người viết “Giai điệu” ông còn là người soạn “hòa âm phối khí” có công nhất với tân nhạc Việt Nam. Công việc này trái với sáng tác ca khúc, ông làm rất nhiều. Có thể nói hầu hết các ca khúc của Phạm DuyDương Thiệu TướcThẩm OánhCung Tiến được ông làm đẹp bằng những hoà âm công phu, tuyệt diệu. Ông đã nâng những ca khúc phổ thông lên hàng tác phẩm nghệ thuật.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết về Vũ Thành (trong bài “Phòng Trà Đầu Tiên ở Hà Nội”):

“Tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, có thêm Phòng Trà Tuyết Sơn với Vũ Thành thổi sáo tây và đánh guitare tay trái. Nói về nhạc sĩ Vũ Thành thì ông là một trong những người viết nhạc đầu tiên của Tân Nhạc.

Đầu thập niên 40, nhạc Việt còn nặng những âm điệu ủ ê, sướt mướt của cung Ré thứ trong hầu hết nhạc của Đặng Thế Phong, của Văn Chung và một số của Văn Cao. Ca khúc Vũ Thành có nét nhạc thanh tao, óng ả đem đến một luồng không khí mới mẻ cho Tân Nhạc. Lấy ví dụ bài Say Nhạc Canh Tàn:

Gió xuân đưa mây chiều về
Nắng Xuân đưa tin nhạn về
Giờ này hương lúa thương gợi tình quê
Lòng người tha hương khóc biệt ly
Gió Xuân đưa hương ngập trời.
Ý Xuân thiết tha nghẹn lời
Giờ này ngân phím loan nặng tình phai
Đàn buông lãng du hồn u hoài…
Đêm tha hương lắng trong ly rượu ngát hương
Giấc cô miên canh trường
Hồn người chinh phụ cuốn theo mây nơi sa trường
Âm thanh xưa lả lướt trên đường tô
Nằm gieo mối cùng sầu lai láng mơ hồ
Ôi quê hương thấu chăng bao niềm luyến thương
Biết chăng bao đêm trường,
Nhẹ lần đường tơ phím, quan sa tình hờ
Ôi than chi còn nhắc chi tình xưa
Hồn say tiếng đàn hòa thêm khúc đàn lắng mơ hồ…

Cũng vẫn là tình cảm chung của các nhạc sĩ thời đó, nói tới tình quê, tiếng tơ, mối sầu (không hiểu vì sao mà sầu?), ca tụng thiên nhiên… nhưng ca khúc Vũ Thành không nằm trong thể tangorumba hay slow fox mà mang tính chất bán cổ điển Tây Phương, nghe rất sang trọng, quý phái. Tôi tin rằng ca sĩ thời đó như Minh Đỗ là phải chọn nhạc Vũ Thành để hát tại phòng trà…”

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.

60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014): Người Đầu Tiên Hát ‘Câu Hò Bên Bờ Hiền Lương’

Lang thang trên mạng internet để tìm tư liệu cho loạt bài ’60 Năm Hiệp Định Genève (1954-2014)’, DongNhacXua.com thu lượm được một tư liệu quý về dòng nhạc xưa ở miền Bắc.

Nghệ sỹ Văn Hanh với 2 chiếc đĩa rất hiếm hoi còn giữ được, thu âm những bài hát của mình từ năm 1957. Ảnh: Hà Tùng Long
Nghệ sỹ Văn Hanh với 2 chiếc đĩa rất hiếm hoi còn giữ được, thu âm những bài hát của mình từ năm 1957. Ảnh: Hà Tùng Long

NGƯỜI ĐÂU TIÊN HÁT ‘CÂU HÒ BÊN BỜ HIỀN LƯƠNG’
(Nguồn: tác giả Hà Tùng Long đăng trên GiaDinh.net.vn )

Giadinh.net – Lâu nay, mỗi lần nhắc đến bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” là người ta nghĩ ngay đến giọng hát ngọt ngào, trong trẻo của nữ Nghệ sỹ Nhân dân Thu Hiền. Thế nhưng ít ai biết được, người đầu tiên hát ca khúc này lúc bài hát vừa “ra lò”, trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt lại là nam ca sỹ Văn Hanh – một trong những nam ca sỹ khá nổi tiếng của Đài Tiếng nói Việt Nam lúc bấy giờ. Người ca sỹ ấy giờ đã ở vào tuổi ngoại bát tuần, thế nhưng mỗi lần nhắc đến “Câu hò bên bờ Hiền Lương” , trong ông lại trỗi dậy bao kỷ niệm. 

“Say” hát quên cả ngủ

Tiếp chúng tôi trong phòng khách nhỏ bé của căn hộ tập thể thuộc khu tập thể Đài Tiếng nói Việt Nam, nghệ sỹ Văn Hanh bắt đầu câu chuyện với chúng tôi bằng lời giải thích về một sự nhầm lẫn mà bao nhiêu năm qua người đời không hay biết, đó là chữ “bến” và chữ “bờ” trong tựa đề bài hát. Theo ông, lúc nhạc sỹ Hoàng Hiệp gửi bài hát này đến Ban biên tập âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam, chính ông là người đã nhìn thấy tận mắt trong bản thảo nhạc và lời của bài hát đề chính xác là “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Và tựa đề đó không chỉ đúng theo cách đặt của tác giả bài hát mà còn đúng với thực tế lúc bấy giờ. Ông nói: “Vào năm 1957, khi bài hát ra đời, đất nước ta đang bị chia cắt làm đôi lấy cầu Hiền Lương làm nơi phân chia ranh giới. Ở phía nam cầu Hiền Lương là đất của địch và ở phía bắc của cầu là đất của ta. Bởi thế, giữa hai bên chỉ có hai bờ đất nhỏ bé chạy dài dọc theo sông Bến Hải chứ làm gì có bến nào để thuyền bè đỗ lại như bây giờ đâu; vậy mà bao năm qua, người ta lại có thể nhầm thành “Câu hò bên bến Hiền Lương…”.

Ông kể, ông đến với bài hát này vừa là một sự tình cờ nhưng cũng như một cái duyên. Vào một buổi tối buồn, ngồi một mình trong phòng chẳng biết làm gì nên ông lang thang lên phòng biên tập xem có bài hát nào mới để tập hát vu vơ cho đỡ buồn. Thường ở phòng biên tập của ban âm nhạc, bao giờ cũng có một phòng để các bài hát, bản nhạc của các nhạc sỹ ở các nơi gửi về. Trong mớ giấy tờ lộn xộn, ông cầm đại một tờ lên, lần giở ra xem thì gặp đúng bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” – bài hát đầu tay của nhạc sỹ Hoàng Hiệp vừa mới gửi về được mấy hôm. Xem qua ca từ, nốt nhạc của bài hát, ông như bị cuốn hút bởi thứ âm điệu rất đặc biệt của bài hát này. Ông mang đàn ra vừa tập hát vừa tự đệm nhạc cho mình thì phát hiện là bài hát này rất phù hợp với chất giọng của ông. Ông lại một mình say sưa với bài hát cho đến lúc gà gáy báo sáng mới sực nhớ là mình quên đi ngủ.

nghe-si-van-hanh--tap-album--giadinh.vn--dongnhacxua.com

“Lúc đó, tôi có cảm tưởng như bài hát này nhạc sỹ Hoàng Hiệp sáng tác để dành cho riêng tôi hát vậy. Bài hát mang âm hưởng dân ca đồng thời lại nuột nà, tình cảm, nó rất phù hợp với khả năng thể hiện của mình. Ngay sáng hôm đó, tôi đã đề nghị với đồng chí phụ trách đoàn ca nhạc của đài cho tôi được hát thu âm bài hát và đã được đồng chí trưởng đoàn đồng ý. Tôi mừng đến nỗi rơi cả nước mắt” – ông bồi hồi nhớ lại.

Theo đúng quy trình, mỗi khi nhận được bài hát từ nhạc sỹ gửi đến, ban biên tập sẽ gửi đến cho ban biên tập nhạc để họ soạn tổng phổ (bản ghi các nốt nhạc đệm của tất cả các loại nhạc cụ dành cho một tác phẩm âm nhạc để các nhạc công nhìn vào đó mà đệm nhạc cho phù hợp hoặc chỉ huy nhìn vào đó để chỉ huy dàn nhạc). Sau đó, ca sỹ sẽ tập hát và ráp nhạc với ban nhạc rồi mới đi thu âm. Thế nhưng với bài hát này, ông đã được phá lệ, bỏ qua khâu soạn tổng phổ mà tập hát và ráp nhạc luôn với nhạc công. “Khi nghe tôi hát thử một vài lần, các anh trong đoàn đã gật đầu đồng ý cho phép ráp nhạc luôn với nhạc công mà không cần tổng phổ. Người đệm đàn cho tôi lúc đó là anh Hoàng Mãnh một pianist khá nổi tiếng thời bấy giờ. Và hai anh em chúng tôi thu âm bài hát này chỉ trong vòng 4 lần là hoàn thiện, sau đó thì được Đài Tiếng nói phát rộng rãi khắp miền Bắc”.

Khóc theo khán giả

Sau khi bài hát được phát sóng rộng rãi trên khắp miền Bắc, Ban biên tập đã nhận được rất nhiều lời yêu cầu phát lại trong chương trình “Hộp thư yêu cầu” của Đài. Nhiều lá thư gửi về cám ơn nhạc sỹ, ca sỹ đã mang lại cho họ một ca khúc thật ý nghĩa, khiến ông vui mừng khôn tả. Trong số những lá thư của khán giả gửi về, ông đã được ban biên tập cho xem bức thư đầy cảm động của một cô gái miền Nam tập kết ra Bắc mà cho đến bây giờ ông vẫn còn nhớ được mấy dòng: “Khi nghe bài hát này, mấy chị em chúng tôi đã ôm nhau khóc nức nở. Càng khóc bao nhiêu, nỗi căm thù giặc Mỹ lại dâng tràn bấy nhiêu. Từng lời ca ngọt ngào, ấm áp mà thiết tha của ca sỹ như đưa chúng tôi trở về với những kỷ niệm của những ngày còn sống trên đất quê hương. Nỗi nhớ quê hương làm cả mấy chị em ngẹn ngào không nói được lời nào… Thay mặt mấy anh chị em người miền Nam đang tập kết ra Bắc cám ơn Đài tiếng nói, cám ơn ca sĩ đã mang đến cho chúng tôi những lời ca tuyệt vời đến thế…”. Vì đây là bài hát mang âm điệu buồn mà lúc bấy giờ chiến trường lại cần những bài mang âm hưởng hào hùng, mạnh mẽ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân nên ông đã không được phép hát bài này trong mỗi lần biểu diễn ở chiến trường.

Ông còn nhớ lần đầu tiên ông biểu diễn bài hát này ở vườn hoa Chí Linh (Hà Nội), lúc ông đang hát lời 2 thì thấy ở phía dưới sân khấu rất nhiều chị em khóc. Ông càng hát, họ lại càng khóc nhiều hơn. Nhìn chị em khóc, ông đã không thể cầm lòng và định không hát nữa, thế nhưng nhìn những người khác đang say sưa nghe ông hát thì ông không thể dừng lại được. Và không hiểu sao những giọt nước mắt cứ lăn dài trên má ông cho đến khi ông hát xong bài hát. Lạ thay, khi nhìn thấy nước mắt của ông, nhiều chị em đã không còn khóc nữa mà hướng ánh nhìn ngưỡng mộ về phía ông. Buổi biểu diễn hôm đó, khán giả đã yêu cầu ông hát đi hát lại bài hát này đến 3 lần. Sau mỗi lần ông hát xong là hàng tràng pháo tay ròn rã cất lên, kéo dài hàng chục phút không ngớt. Ông tâm sự: “Đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất mà một người ca sỹ như tôi lúc đó có được. Tối hôm đó, tôi đã không ngủ được vì quá vui sướng”.

Sau này, mỗi lần đi biểu diễn ở các tỉnh, cứ hễ lên sân khấu là khán giả lại yêu cầu ông hát bài “Câu hò bên bờ Hiền Lương”. Và đã một thời, cái tên Văn Hanh nổi lên như một “hiện tượng âm nhạc đặc biệt” mà trong suốt cuộc đời ca hát của mình, ông không bao giờ quên.

 

* Xin ghi DongNhacXua.com và các nguồn có liên quan khi trích dẫn.