Huỳnh Hiếu (hay Huỳnh Háo): tay trống tiền bối trong tân nhạc Việt Nam

Trong bài viết về nghệ sỹ guitar Trung Nghĩa, có một chi tiết nhắc nhớ người yêu nhạc về “Anh Hai” Huỳnh Háo (để phân biệt với “Anh Ba” là nhạc sỹ Huỳnh Anh). Hôm nay Dòng Nhạc Xưa xin được giới thiệu rõ hơn về nghệ sỹ Huỳnh Hiếu (1929 – 1994), tức Huỳnh Háo của chúng ta.

Nhạc sĩ Huỳnh Hiếu độc tấu trống tại vũ trường Đại Nam, Sài Gòn Ảnh: Tư liệu gia đình nghệ sĩ Huỳnh Thủ Hiếu

Huỳnh Hiếu: Tay trống số 1 Đông Dương

(Nguồn: bài viết của tác giả Phạm Công Luận đăng trên tuoitre.vn ngày 2016-10-13)

Giới ca nhạc Sài Gòn thuật lại rằng trước năm 1975 có hai nhạc sĩ cùng họ Huỳnh được bạn bè trong nghề yêu mến gọi là anh Hai và anh Ba. Anh Ba là nhạc sĩ Huỳnh Anh, còn anh Hai là nhạc sĩ Huỳnh Háo.

Huỳnh Háo là tên gọi thân mật của nhạc sĩ Huỳnh Thủ Hiếu, gọi tắt là Huỳnh Hiếu. Sau khi sinh ra Huỳnh Hiếu năm 1929 tại Cần Thơ, nghệ sĩ Kim Thoa sinh liên tiếp vài người con nữa nhưng chỉ sau ba tháng mười ngày, như lời kể lại trong gia đình, những đứa em của Huỳnh Hiếu đều mất. Ông bà Tư Chơi – Kim Thoa tìm mọi cách để giữ con.

Đệ nhất danh kèn Huỳnh Hoa

Tiếp nối loạt bài về các nhạc công đã có nhiều dấu nhất trong dòng nhạc Việt, Dòng Nhạc Xưa xin mượn một bài viết của anh Hà Đình Nguyên đăng trên tờ Thanh Niên năm 2004 để giới thiệu “đệ nhất danh kèn” Huỳnh Hoa (1935 – 2008).

Nghệ sĩ kèn saxophone Huỳnh Hoa: “Một cây kèn, một đời người”

(Nguồn: bài viết của tác giả Hà Đình Nguyên đăng trên Thanh Niên ngày 2004-07-19)

Nghệ dỹ Tòng Sơn (trái) và Huỳnh Hoa (phải). Ảnh: cand.com.vn

Hằng đêm, nếu bạn có dịp ghé vào sân khấu ca nhạc Trống Đồng (góc đường Cách Mạng Tháng Tám – Nguyễn Du, Q.1, TP Hồ Chí Minh) bạn sẽ được nghe tiếng kèn saxo “thần sầu” của một “lão nghệ sĩ” đã hơn 70 tuổi. Ở vào lớp tuổi “gió heo may đã về” mà tiếng kèn của ông vẫn còn đầy mê hoặc thì chắc chắn ở vào thời điểm sung sức nhất, “hoàng kim” nhất của lão nghệ sĩ này hẳn có rất nhiều điều thú vị. Nào, chúng ta hãy cùng “ngược thời gian” với “đệ nhất danh kèn”: Huỳnh Hoa.

Người Em Văn Khoa (Châu Kỳ)

Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng) từ lâu đã đi vào thơ nhạc. Bao nhiêu con tim của biết bao thế hệ, dù không còn ngồi ở giảng đường Văn Khoa nhưng với họ, mỗi lần ghé thăm, mỗi khi nhớ về, hay đơn giản chỉ bất chợt nghe một câu hát của ngày xưa cũ là cũng đủ làm con tim bồi hồi xao xuyến. Trong niềm cảm xúc ấy, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bản “Người em Văn Khoa” của nhạc sỹ Châu Kỳ và một bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương.

Ảnh: http://thaolqd.blogspot.com

Văn Khoa, ngày tháng cũ

(Nguồn: bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương đăng trên lethieunhon.blogspot.com ngày 2017-0316)

Thi đậu tú tài phần thứ hai, vì học ban C, nên khi bước vào đại học, tôi không có nhiều chọn lựa như bạn bè cùng lứa. Tôi đã chọn Đại học Văn Khoa Sài Gòn chỉ vì đây là ngôi trường thân thiện với tôi từ khi còn là học sinh trung học: qua giới thiệu của các thầy giáo, kệ sách nhà tôi đã có những cuốn sách của các giáo sư nổi tiếng ở trường.

Văn Khoa trong thời chiến

Buổi học đầu tiên, tôi đứng ở hành lang dãy phòng học gần gốc cây me bây giờ, nhìn lên lầu một: thầy Nguyễn Văn Trung và thầy Lý Chánh Trung mặc sơ mi trắng, mang giày săng-đan đứng tựa vào lan-can hàn huyên với các thầy giáo trẻ. Đó là hai người thầy mà tôi ngưỡng mộ khi trích văn trong một bài báo Xuân hồi học lớp 10 ở trường Trung học Trần Quốc Tuấn và chỉ hình dung khuôn mặt qua tấm ảnh chụp những giáo sư ngồi tuyệt thực trước hành lang Hạ nghị viện để đòi chính quyền trả tự do cho các sinh viên tranh đấu.

Nhiều năm trôi qua, sau này nhớ lại những ngày tháng cũ, đôi khi những kỷ niệm êm đềm làm ta quên hết những điều chưa tốt đẹp. Thật ra, Văn Khoa hồi ấy, giữa không khí chiến tranh nóng bỏng bao trùm đời sống, còn rất nhiều thiếu thốn và bất tiện để có thể xem là một trường đại học đúng nghĩa. Tòa nhà trên đường Cường Để này vốn là nơi đóng quân của “Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống”, nhường chỗ cho nhà trường chuyển đến từ đường Gia Long, nhưng vẫn giữ một phần diện tích cho mục đích quân sự, với hàng rào kẽm gai ngăn cách. Trong sân trường xe cộ để ngổn ngang. Dãy phòng học một tầng mái thấp, nóng bức, với những chiếc ghế hàn vỉ sắt làm rách quần những sinh viên đãng trí. Muốn đến giảng đường học môn Văn minh Việt Nam, môn học thường phải đi sớm để giữ chỗ vì quá đông sinh viên nghe giảng, phải bước lên cầu thang cạnh một nhà vệ sinh luôn bốc mùi, đến nổi có lần thầy Thanh Lãng nói đùa cái mùi đó là đặc trưng của trường Văn Khoa! Cũng vì lớp đông nên sinh viên thường chỉ nghe giảng, ghi chép và đọc cours; vài lần muốn tổ chức séminaire, thầy Nguyễn Văn Trung phải đi dã ngoại với chúng tôi ra La San Mai Thôn hay rừng cao su gần Đường Sơn Quán.

Nhưng Văn Khoa để lại ấn tượng sâu đậm không phải vì cảnh quan mà vì những con người đáng quý trọng. Hồi đó, ngay trong hai năm đầu, lớp chúng tôi đã được học thầy Trần Thái Đỉnh với cách giảng bài khúc chiết, thầy Lê Tôn Nghiêm – sâu sắc, thầy Lê Thành Trị – điềm đạm, thầy Giản Chi – lão thực, thầy Bửu Dưỡng – uyên bác, thầy Nguyễn Duy Cần – nghiêm nghị… Có những lần giờ tan học qua lâu, thầy Kim Định với chiếc áo dài trắng như một đạo sĩ, vẫn còn nán lại trên hành lang giải thích thêm cho chúng tôi về triết lý an vi. Thầy Lê Xuân Khoa lịch thiệp, bận công việc ở Viện Đại học, dành những buổi tối dạy cho chúng tôi môn triết học Ấn Độ.

Có thể nói Văn Khoa Sài Gòn là nơi tập hợp nhiều khuôn mặt trí thức tiêu biểu của miền Nam thời ấy. Văn Khoa cũng là nơi phát khởi những khuynh hướng học thuật mới mẻ, những phong cách độc đáo trong biên khảo, trước tác và dịch thuật. Những bộ sách về lịch sử triết học và văn học, về lý thuyết và phương pháp luận sử học, nhân học, ngữ học, phê bình văn học… của các giáo sư Đại học Văn Khoa chắc chắn sẽ được các thế hệ sau kế thừa.

Năm hòa bình đầu tiên

Mùa hè năm 1975, mọi thứ được sắp xếp lại, các thầy cô giáo dự lớp học chính trị riêng, sinh viên nghe giảng riêng, sau đó mỗi thầy được cử đến một tổ sinh viên để cùng thảo luận về “chuyên chính vô sản” và nhiệm vụ của nhà trường mới. Học chính trị xong, chúng tôi học chuyên môn với các thầy cô đến từ Hà Nội. Hầu hết thầy cô giáo Văn Khoa ở lại đều không lên lớp mà chỉ nghiên cứu thuần túy, một ít người chuyển sang dạy Hán Nôm hay ngoại ngữ. Hoàn cảnh đổi thay nhưng tình thầy trò không thay đổi: những ngày đầu tháng 5 thầy Lê Thành Trị, khoa trưởng, cùng sinh viên chuẩn bị hội trường đón tiếp đoàn giáo sư miền Bắc do ông Phạm Như Cương dẫn đầu; các thầy Lý Chánh Trung, Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh lên thăm chúng tôi trồng cây trên Chánh Phú Hòa; thầy Thanh Lãng mặc áo ký giả đến dự Hội Tết Văn Khoa năm hòa bình đầu tiên… Văn Khoa sẽ vui biết mấy nếu không khí hòa hợp đó còn mãi kéo dài.

Còn nhớ một buổi tối trong năm học chuyển tiếp đó, khi đến cư xá Thanh Quan, tôi thấy thầy Phạm Văn Diêu và thầy Nguyễn Lộc, hai người đồng hương Quảng Ngãi, đều là chuyên gia về Nguyễn Du và Truyện Kiều, lần đầu gặp nhau chuyện trò tâm đắc về nghiên cứu văn học cổ điển ở hai miền. Khoa Ngữ Văn của chúng tôi từ đó là nơi quy tụ những thầy giáo muốn tìm một chỗ bình yên để làm khoa học: Nguyễn Văn Trung, Bửu Cầm, Phạm Hữu Lai, Trần Trọng San, Lưu Khôn, Nguyễn Tri Tài, Nguyễn Khuê… Những cuốn sách có thể chịu cảnh im lìm bám bụi trong phòng đọc hạn chế, nhưng người làm khoa học thì phải vượt qua hoàn cảnh, không để mình bám bụi, và rồi những cuốn sách mới lại tiếp tục ra đời.

Từ ngày thành lập Đại học Văn Khoa Sài Gòn (01-3-1957) đến nay đã 60 năm. Những thế hệ xây dựng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày nay không quên quá khứ, vì đó là một phần lịch sử của mình. Tôi thầm nghĩ, một may mắn của đời mình là được chứng kiến gần ba phần tư thời gian lịch sử đó của ngôi trường, từ thời sinh viên đến khi sắp về hưu, gắn bó với từng phòng học, từng dãy hành lang, thư viện và những khuôn mặt lúc cởi mở lạc quan, khi đăm chiêu sầu não, nhưng luôn ấp ủ những hoài bão khoa học.

Vài năm nữa ngôi trường sẽ chuyển hẳn ra ngoại thành với một cơ ngơi khang trang, bề thế; người đi xa về có thể không tìm ra nơi lưu giữ kỷ niệm học đường. Những người đã qua, những người còn lại và những người sẽ tới đâu thể nào có một lần hội ngộ cho tất cả. Qua trang viết này, chỉ mong gửi gắm một nỗi niềm chung mà từ những góc trời riêng rẽ, chúng ta có thể sẻ chia về những ngày tháng cũ.

Thú chơi tờ nhạc xưa ở thành phố biển Nha Trang

Dòng Nhạc Xưa đã giới thiệu một thú chơi tao nhã và công phu của số ít người yêu nhạc xưa: sưu tầm tờ nhạc xuất bản trước 1975. Đây là một công việc khá vất vả mà chỉ những ai có lòng đam mệ thật sự mới theo đuổi được vì nguồn tư liệu qua 50 năm hoặc là hư hỏng, hoặc là thất lạc nên gây không ít khó khăn cho công tác tìm kiếm và lưu trữ. Một niềm an ủi nho nhỏ cho những nhà sưu tập nói chung và bản thân Dòng Nhạc Xưa nói riêng là càng ngày càng có nhiều bạn trẻ quan tâm đến các tờ nhạc đầy kỷ niệm này. Trong dòng cảm xúc ấy, chúng tôi xin giới thiệu về thú vui này của bạn bè thân hữu ở thành phố biển Nha Trang.
Tái bút: qua bài viết này, nếu may mắn anh Phương Chánh Hùng hay bạn bè xa gần đọc được thì nếu được xin gởi hình ảnh bản “Nhớ Nha Trang” của nhạc sỹ Minh Kỳ cho chúng tôi để lưu trữ trên trang web cho các thế hệ sau.

Thú chơi tờ nhạc xưa

(Nguồn: bài viết của tác giả Thành Nguyễn đăng trên BaoKhanhHoa.com.vn ngày 2017-06-16)

Cùng với băng đĩa, những năm gần đây, người thích đồ xưa còn sưu tầm những tờ nhạc xưa. Những tờ nhạc được ấn hành trước năm 1975 một thời gần như bị lãng quên nay lại có một đời sống khác. Không rầm rộ như ở TP. Hồ Chí Minh nhưng ở Nha Trang vẫn có những người đang lưu giữ hàng ngàn tờ nhạc xưa…

Anh Phương Chánh Hùng với tờ nhạc Nhớ Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ – Hồ Đình Phương. Ảnh: baokhanhhoa.com.vn

Tờ nhạc đã từng có một đời sống rất mạnh mẽ. Nó không đơn thuần là một bản nhạc để người chơi đàn, ca sĩ tập hát mà còn là ấn phẩm nghệ thuật với những hình vẽ minh họa, hay và đẹp. Theo họa sĩ Lê Vũ, những năm trước giải phóng miền Nam, các nhà sách lớn ở Nha Trang bán các tờ nhạc rất nhiều. Trai gái yêu nhau thường tặng những tờ nhạc đầy tình ý. Sau năm 1975, khi nhạc xưa không còn thịnh hành, những tờ nhạc đầy tính nghệ thuật ấy không còn được xuất bản. Và theo thời gian, những tờ nhạc ấy cũng không còn được trân trọng lưu giữ; chỉ một số ít người có ý thức sưu tầm mới gìn giữ những tờ nhạc xưa. Cách đây khoảng 15 năm, những người bán sách cũ ở đường Hoàng Hoa Thám, Nha Trang vẫn thường bán những tờ nhạc xưa với giá khoảng 5.000 đồng/tờ.

Hà Thanh – Tiếng Hát Của Một Thời Đã Qua

Dòng Nhạc Xưa vừa nhận được email của người quản trị trang casihathanh.wordpress.com giới thiệu bài cảm nhận về giọng hát của cố danh ca Hà Thanh (1937 – 2014). Bài viết là của một cậu học trò lớp 9 có tên Đinh Hoàng Anh. Dòng Nhạc Xưa chưa có cơ hội tiếp xúc với tác giả nhưng xét nội dung sâu sắc của bài viết, chúng tôi mạn phép đăng tải để người yêu nhạc có dịp ôn lại những kỷ niệm về dòng nhạc xưa cũ.

Ca sỹ Hà Thanh. Ảnh: CaSiHaThanh.wordpress.com

Tiếng hát của một thời đã qua

(Nguồn: bài viết của Đinh Hoàng Anh – Cảm nhận âm nhạc của một học sinh lớp 9 – đăng trên casihathanh.wordpress.com ngày 2017-06-12)

Ảnh: https://casihathanh.wordpress.com

Đã gần một thế kỉ qua,kể từ khi tân nhạc bắt đầu xuất hiên để rồi sinh ra bao nhạc sĩ tài danh: Văn Cao,Phạm Duy,Hoàng Giác,Lê Thương…cùng với đó là những bản tiền chiến lãng mạn (mang trình độ thưởng thức sâu rộng cao,phong phú hơn) để phân biệt với nhạc vàng(bolero) sau này tại miền Nam Việt Nam. Nói đến những ca sĩ của dòng nhạc này chúng ta không thể không nhắc tới nữ danh ca Hà Thanh _ giọng ca vàng trong nền tân nhạc trước 1975 ,tiếng hát của miền sông Hương núi Ngự.

Nói tới cô Hà Thanh là nhớ tới Huế bởi âm sắc địa phương trong giọng hát của nữ ca sĩ tài danh.Không phải ngẫu nhiên Hà Thanh được mệnh danh là «Con chim Hoạ Mi xứ thần kinh» miền thùy dương mặc dù cũng có nhiều ca sĩ xuất thân từ Huế như Thanh Thúy, Lệ Thanh. Và không phải bài hát nào cô Hà cũng hát giọng Huế mà phần lớn các ca khúc của cô hát giọng Bắc (tiếng chuẩn). Một số bài về Huế cô vẫn hát tiếng Bắc như Khúc tình ca xứ Huế, Thương về xứ Huế…Nhưng trong tiếng hát ấy vẫn mang âm thanh dịu ngọt vang lộng tha thiết,trìu mến mang hơi hướng sắc thái thơ mộng,trữ tình.Bởi một số phụ âm,ngữ điệu,cách nhả chữ khi cô Hà hát có sự luyến láy vần điệu riêng như s,r,tr…đặc biệt trong nhạc phẩm Ai ra xứ Huế (nước sông Hương còn thương chưa cạn, chim núi Ngự tìm bạn bay về…) thì có lẽ chỉ có người gốc Huế như cô mới có thể truyền tải tự nhiên đến như vậy.

Vĩnh biệt nữ sỹ Minh Đức Hoài Trinh (1930 – 2017)

Dòng Nhạc Xưa vừa được biết tin về sự ra đi mãi mãi của nữ sỹ Minh Đức Hoài Trinh, tác giả của hai bài thơ nổi tiếng mà nhạc sỹ Phạm Duy đã phổ nhạc “Kiếp nào có yêu nhau” và “Đừng bỏ em một mình”. Chúng tôi xin thay mặt nhiều thế hệ yêu thơ nhạc xưa cầu mong linh hồn bà an nghỉ nơi hạnh phúc vĩnh hằng!

Minh Đức Hoài Trinh lúc trẻ. Ảnh: minhduchoaitrinh.wordpress.com

Theo nguoi-viet.com:

Nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa qua đời lúc 2 giờ 19 phút chiều Thứ Sáu, 9 Tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach, hưởng thọ 87 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang, phu quân của bà, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Chuyện tình của người trinh nữ tên Thi (Hoàng Thi Thơ)

Trong kho tàng sáng tác đồ sộ của nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ, chúng ta gặp một bản nhạc có giai điệu và ca từ khá lạ: chúng tôi muốn nói đến “Chuyện tình của người trinh nữ tên Thi”. Theo tâm sự của tác giả thì đây là một câu chuyện có thật và nguyên mẫu “người nghệ sỹ đã có gia đình” là chính nhà nhạc sỹ. Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu một bài viết của nhạc sỹ Tuấn Khanh để người yêu nhạc hiểu thêm về Hoàng Thi Thơ và nhạc phẩm bất hủ này.

 

Nhớ nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

(Nguồn: bài viết của tác giả Tuấn Khanh đăng trên tuoitre.vn ngày 2013-03-22)

Ðêm nhạc Hoàng Thi Thơ sắp tới là dịp để khán giả được nghe lại và hoài niệm về một tài năng lớn, người đã tạo ra một con đường âm nhạc riêng tràn ngập những hình ảnh, câu chuyện và giai điệu Việt Nam đáng để ngưỡng mộ.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cùng vợ là Thúy Nga – nghệ sĩ phong cầm – Ảnh tư liệu

Tùng Giang (1940-2009): Một Nghệ Sỹ Đa tài

Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu vài thông tin sưu tầm được để chúng ta thấy ngoài Tùng Giang nhạc sỹ, ông còn là một tay trống có hạng, ca sỹ nhạc trẻ, nhà tổ chức và sản xuất âm nhạc.

Tùng Giang và Bạn Hữu: “Họp Mặt Hoàng Hôn”

(Nguồn: bài viết của nhạc sỹ Nam Lộc đăng trên trungtamasia.com ngày 2009-05-22)

Kỳ Phát đang trao tấm plaque cho Tùng Giang. Bên cạnh là Nam Lộc, Giáng Ngọc, Derek Phạm và Cung Mi. Ảnh: TrungTamAsia.com

Thuyền Viễn Xứ (Phạm Duy – Huyền Chi)

Theo quan điểm của Dòng Nhạc Xưa, “Thuyền viễn xứ” mà nhạc sỹ Phạm Duy viết theo ý thơ của Huyền Chi là một trong những nhạc phẩm tiên biểu nhất cho sự ngăn cách hai miền Bắc – Nam sau hiệp định Geneve 1954. Chúng tôi xin gởi bài viết này để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin thú vị xung quanh bản nhạc bất hủ này.

 

Thuyền viễn xứ (Phạm Duy – Huyền Chi). Ảnh: amnhacmiennam.blogspot.com

Huyền Chi – tác giả bí ẩn của ca từ Thuyền viễn xứ

(Nguồn: bài viết của tác giả Phạm Công Luận đăng trên tuoitre.vn ngày 2017-01-08)

TTO – Trong một tập sách in những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, ông có đưa vào một câu dưới bài Thuyền viễn xứ: “Huyền Chi, cô ở đâu?”. Đó cũng là câu hỏi của tôi khi nghe lại ca khúc đầy ắp cảm xúc này.

Huyền Chi và chồng – Ảnh: tư liệu gia đình

Bài ca không quên (Phạm Minh Tuấn)

Cũng viết về đề tài chiến tranh, người lính, quê hương, thân phận,… nhưng hầu hết những sáng tác của nhạc sỹ Phạm Minh Tuấn đều mang hơi thở yêu thương, hòa bình và khát vọng cho một Việt Nam thống nhất. Chúng ta không thấy (hoặc rất hiếm) những lời ca ngợi sáo rỗng hay khoét sâu vào lòng thù hận. Ông sáng tác từ trước 1975 nhưng những ca khúc ông viết sau này mới thật sự là những tác phẩm để đời, mang đậm dấu ấn Phạm Minh Tuấn. Hôm nay Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bản “Bài ca không quên”, bài hát ông sáng tác vào những năm 1981-1982 cho bộ phim điện ảnh cùng tên.

Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn nơi vườn rau nhà mình. Ảnh: cand.com.vn

Lời bài hát ‘Bài ca không quên’

(Nguồn: tkaraoke.com)