Hiện tượng Phương Thảo – Ngọc Lễ

Những năm 1990, sau khi nhạc Việt được cởi trói khỏi những sáng tác sáo rỗng, nhiều ca khúc giá trị đã ra đời. Khi ấy xuất hiện một cặp song ca có cá tính, họ hát nhạc của chính họ sáng tác và làm say mê hàng triệu con tim yêu nhạc. Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu cặp song ca Phương Thảo – Ngọc Lễ qua một bài viết của tác giả Cung Tuy đăng trên TheThaoVanHoa.vn

Ngọc Lễ – Phương Thảo: Âm nhạc không cần hào quang

(Nguồn: bài viết của tác giả Cung Tuy đăng trên theothaovanhoa.vn ngày 2014-08-05)

Anh Ngọc: Giọng ca của một bậc tiền bối

Sinh năm 1925, có thể nói không ngoa rằng ca sỹ Anh Ngọc là giọng ca lão thành nhất tính đến thời điểm hiện tại của nền tân nhạc Việt Nam. Dòng Nhạc Xưa xin mượn một bài viết của cố ký giả – nhạc sỹ Trường Kỳ để trân trọng giới thiệu Anh Ngọc – tiếng hát vượt thời gian.

Anh Ngọc: Một đời để sống và một thời để hát

(Nguồn: bài viết đăng trên giadinhhoangtrong.wordpress.com ngày 2013-10-28)

Trường Kỳ

Với số tuổi gần 80, người ta có thể coi ông như người nam ca sĩ cuối cùng trong thành phần những ca sĩ đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam còn xuất hiện trên sân khấu những ngày gần đây. Có người còn gọi đùa ông là “The Last Samurai”, người hiệp sĩ cuối cùng trong số những hiệp sĩ tiền phong của trên nửa thế kỷ tân nhạc mà vũ khí là giọng hát từng chinh phục cảm tình của khán thính giả Việt Nam trong hai thập niên 50 và 60.

Trong lần tiếp xúc gần đây với người viết, Anh Ngọc cho biết ông có ý định giã từ sân khấu đã lâu, từ khi bước vào lớp tuổi 70. Nhưng mãi cho đến đầu năm 2004 vừa qua, ông mới thực hiện được ý định đó, sau khi xuất hiện trong hai chương trình nhạc thính phòng mang mục đích từ thiện tại San Jose và Orange County ở California mà ông “nghĩ là đó là những buổi trình diễn cuối cùng trong cuộc đời ca hát của tôi” mặc dù bạn hữu cũng như đồng nghiệp của ông cho rằng ông vẫn có thể hát được để trân trọng mời ông xuất hiện.

Sài Gòn trong tân nhạc: Đêm nhớ về Sài Gòn (Trầm Tử Thiêng)

Tiếp nối chủ đề “Những địa danh đã đi vào nhạc“, Dòng Nhạc Xưa xin mời quý vị trở về Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông qua một bài viêt của tác giả Trần Chí Phúc phân tích nét nhạc Trầm Tử Thiêng trong bản nhạc “Đêm nhớ về Sài Gòn” nổi tiếng.

 

Đêm Nhớ Về Sài Gòn – nỗi sầu nghệ thuật của Trầm Tử Thiêng

(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv ngày 2015-04-25)

1- Đêm nhớ về Sài Gòn, thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi. Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi. Đường im nghe quá khứ trong sầu. Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau. Tình lẻ loi canh thâu.

Người Em Văn Khoa (Châu Kỳ)

Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng) từ lâu đã đi vào thơ nhạc. Bao nhiêu con tim của biết bao thế hệ, dù không còn ngồi ở giảng đường Văn Khoa nhưng với họ, mỗi lần ghé thăm, mỗi khi nhớ về, hay đơn giản chỉ bất chợt nghe một câu hát của ngày xưa cũ là cũng đủ làm con tim bồi hồi xao xuyến. Trong niềm cảm xúc ấy, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu bản “Người em Văn Khoa” của nhạc sỹ Châu Kỳ và một bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương.

Ảnh: http://thaolqd.blogspot.com

Văn Khoa, ngày tháng cũ

(Nguồn: bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương đăng trên lethieunhon.blogspot.com ngày 2017-0316)

Thi đậu tú tài phần thứ hai, vì học ban C, nên khi bước vào đại học, tôi không có nhiều chọn lựa như bạn bè cùng lứa. Tôi đã chọn Đại học Văn Khoa Sài Gòn chỉ vì đây là ngôi trường thân thiện với tôi từ khi còn là học sinh trung học: qua giới thiệu của các thầy giáo, kệ sách nhà tôi đã có những cuốn sách của các giáo sư nổi tiếng ở trường.

Văn Khoa trong thời chiến

Buổi học đầu tiên, tôi đứng ở hành lang dãy phòng học gần gốc cây me bây giờ, nhìn lên lầu một: thầy Nguyễn Văn Trung và thầy Lý Chánh Trung mặc sơ mi trắng, mang giày săng-đan đứng tựa vào lan-can hàn huyên với các thầy giáo trẻ. Đó là hai người thầy mà tôi ngưỡng mộ khi trích văn trong một bài báo Xuân hồi học lớp 10 ở trường Trung học Trần Quốc Tuấn và chỉ hình dung khuôn mặt qua tấm ảnh chụp những giáo sư ngồi tuyệt thực trước hành lang Hạ nghị viện để đòi chính quyền trả tự do cho các sinh viên tranh đấu.

Nhiều năm trôi qua, sau này nhớ lại những ngày tháng cũ, đôi khi những kỷ niệm êm đềm làm ta quên hết những điều chưa tốt đẹp. Thật ra, Văn Khoa hồi ấy, giữa không khí chiến tranh nóng bỏng bao trùm đời sống, còn rất nhiều thiếu thốn và bất tiện để có thể xem là một trường đại học đúng nghĩa. Tòa nhà trên đường Cường Để này vốn là nơi đóng quân của “Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống”, nhường chỗ cho nhà trường chuyển đến từ đường Gia Long, nhưng vẫn giữ một phần diện tích cho mục đích quân sự, với hàng rào kẽm gai ngăn cách. Trong sân trường xe cộ để ngổn ngang. Dãy phòng học một tầng mái thấp, nóng bức, với những chiếc ghế hàn vỉ sắt làm rách quần những sinh viên đãng trí. Muốn đến giảng đường học môn Văn minh Việt Nam, môn học thường phải đi sớm để giữ chỗ vì quá đông sinh viên nghe giảng, phải bước lên cầu thang cạnh một nhà vệ sinh luôn bốc mùi, đến nổi có lần thầy Thanh Lãng nói đùa cái mùi đó là đặc trưng của trường Văn Khoa! Cũng vì lớp đông nên sinh viên thường chỉ nghe giảng, ghi chép và đọc cours; vài lần muốn tổ chức séminaire, thầy Nguyễn Văn Trung phải đi dã ngoại với chúng tôi ra La San Mai Thôn hay rừng cao su gần Đường Sơn Quán.

Nhưng Văn Khoa để lại ấn tượng sâu đậm không phải vì cảnh quan mà vì những con người đáng quý trọng. Hồi đó, ngay trong hai năm đầu, lớp chúng tôi đã được học thầy Trần Thái Đỉnh với cách giảng bài khúc chiết, thầy Lê Tôn Nghiêm – sâu sắc, thầy Lê Thành Trị – điềm đạm, thầy Giản Chi – lão thực, thầy Bửu Dưỡng – uyên bác, thầy Nguyễn Duy Cần – nghiêm nghị… Có những lần giờ tan học qua lâu, thầy Kim Định với chiếc áo dài trắng như một đạo sĩ, vẫn còn nán lại trên hành lang giải thích thêm cho chúng tôi về triết lý an vi. Thầy Lê Xuân Khoa lịch thiệp, bận công việc ở Viện Đại học, dành những buổi tối dạy cho chúng tôi môn triết học Ấn Độ.

Có thể nói Văn Khoa Sài Gòn là nơi tập hợp nhiều khuôn mặt trí thức tiêu biểu của miền Nam thời ấy. Văn Khoa cũng là nơi phát khởi những khuynh hướng học thuật mới mẻ, những phong cách độc đáo trong biên khảo, trước tác và dịch thuật. Những bộ sách về lịch sử triết học và văn học, về lý thuyết và phương pháp luận sử học, nhân học, ngữ học, phê bình văn học… của các giáo sư Đại học Văn Khoa chắc chắn sẽ được các thế hệ sau kế thừa.

Năm hòa bình đầu tiên

Mùa hè năm 1975, mọi thứ được sắp xếp lại, các thầy cô giáo dự lớp học chính trị riêng, sinh viên nghe giảng riêng, sau đó mỗi thầy được cử đến một tổ sinh viên để cùng thảo luận về “chuyên chính vô sản” và nhiệm vụ của nhà trường mới. Học chính trị xong, chúng tôi học chuyên môn với các thầy cô đến từ Hà Nội. Hầu hết thầy cô giáo Văn Khoa ở lại đều không lên lớp mà chỉ nghiên cứu thuần túy, một ít người chuyển sang dạy Hán Nôm hay ngoại ngữ. Hoàn cảnh đổi thay nhưng tình thầy trò không thay đổi: những ngày đầu tháng 5 thầy Lê Thành Trị, khoa trưởng, cùng sinh viên chuẩn bị hội trường đón tiếp đoàn giáo sư miền Bắc do ông Phạm Như Cương dẫn đầu; các thầy Lý Chánh Trung, Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh lên thăm chúng tôi trồng cây trên Chánh Phú Hòa; thầy Thanh Lãng mặc áo ký giả đến dự Hội Tết Văn Khoa năm hòa bình đầu tiên… Văn Khoa sẽ vui biết mấy nếu không khí hòa hợp đó còn mãi kéo dài.

Còn nhớ một buổi tối trong năm học chuyển tiếp đó, khi đến cư xá Thanh Quan, tôi thấy thầy Phạm Văn Diêu và thầy Nguyễn Lộc, hai người đồng hương Quảng Ngãi, đều là chuyên gia về Nguyễn Du và Truyện Kiều, lần đầu gặp nhau chuyện trò tâm đắc về nghiên cứu văn học cổ điển ở hai miền. Khoa Ngữ Văn của chúng tôi từ đó là nơi quy tụ những thầy giáo muốn tìm một chỗ bình yên để làm khoa học: Nguyễn Văn Trung, Bửu Cầm, Phạm Hữu Lai, Trần Trọng San, Lưu Khôn, Nguyễn Tri Tài, Nguyễn Khuê… Những cuốn sách có thể chịu cảnh im lìm bám bụi trong phòng đọc hạn chế, nhưng người làm khoa học thì phải vượt qua hoàn cảnh, không để mình bám bụi, và rồi những cuốn sách mới lại tiếp tục ra đời.

Từ ngày thành lập Đại học Văn Khoa Sài Gòn (01-3-1957) đến nay đã 60 năm. Những thế hệ xây dựng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày nay không quên quá khứ, vì đó là một phần lịch sử của mình. Tôi thầm nghĩ, một may mắn của đời mình là được chứng kiến gần ba phần tư thời gian lịch sử đó của ngôi trường, từ thời sinh viên đến khi sắp về hưu, gắn bó với từng phòng học, từng dãy hành lang, thư viện và những khuôn mặt lúc cởi mở lạc quan, khi đăm chiêu sầu não, nhưng luôn ấp ủ những hoài bão khoa học.

Vài năm nữa ngôi trường sẽ chuyển hẳn ra ngoại thành với một cơ ngơi khang trang, bề thế; người đi xa về có thể không tìm ra nơi lưu giữ kỷ niệm học đường. Những người đã qua, những người còn lại và những người sẽ tới đâu thể nào có một lần hội ngộ cho tất cả. Qua trang viết này, chỉ mong gửi gắm một nỗi niềm chung mà từ những góc trời riêng rẽ, chúng ta có thể sẻ chia về những ngày tháng cũ.

Hoàng Trọng: Vua Tango

Dòng Nhạc Xưa đã có nhiều bài viết về nhạc sỹ Hoàng Trọng (1922 – 1998). Tuy nhiên sẽ là một điều thiếu sót khi không nói về các bản theo thể điệu tango lả lướt mà qua đó ông được người yêu nhạc xưng tụng là “vua tango của nền tân nhạc Việt Nam”. Trong bài viết mang tính chất tổng hợp này, chúng tôi dùng tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Nếu có gì chưa hợp lý, xin quý vị gần xa cùng góp ý hay thảo luận (qua trang web này hoặc qua Facebook facebook.com/dongnhacxua) để tất cả chúng ta có được thông tin chính xác nhất về nhà nhạc sỹ tài hoa Hoàng Trọng.

Nhạc sỹ Hoàng Trọng lúc trẻ. Ảnh: giadinhhoangtrong.wordpress.com

Nhạc sĩ Hoàng Trọng: Ông Vua Tango của nền tân nhạc Việt Nam

(Nguồn: bài viết của tác giả Cung Mi đăng trên sbtn.tv ngày 2016-07-16)

Kiếp nào có yêu nhau (Minh Đức Hoài Trinh – Phạm Duy)

Tiếp nối bài viết về sự ra đi của nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu một bài viết của tác giả Hiếu Dũng – Ngân Vi đăng trên ThanhNien.vn đầu năm 2013.

 

Kiếp nào có yêu nhau (Minh Đức Hoài Trinh – Phạm Duy). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Kỳ 6: Yêu nhau kiếp nào

(Nguồn: bài viết của tác giả Hiếu Dũng – Ngân Vi trên thanhnien.vn ngày 2013-01-01)

Mối duyên với nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh trải dài gần hết một kiếp người của nhạc sĩ Phạm Duy. Từ những chuyến rong ruổi thời trai trẻ, từ trong kháng chiến, đến mùa đông lạnh lẽo trên đất người… Giai đoạn nào cũng phảng phất bóng hình giai nhân.

Tiếng đàn Vô Thường

Dòng Nhạc Xưa đã có một bài giới thiệu về nghệ sỹ guitar Vô Thường. Hôm nay theo yêu cầu của nhiều quý vị yêu nhạc xưa, chúng tôi xin mạn phép trích đăng một bài viết của tác giả Việt Hải trên trang ninh-hoa.com để chúng ta hiểu thêm về một nghệ sỹ tài hoa của nền nhạc Việt.

Tiếng Đàn Vượt Thời Gian,
VÔ THƯỜNG

(Nguồn: bài viết của tác giả Việt Hải đăng trên ninh-hoa.com tháng bảy năm)

Vô thường, nếu giải thích theo Phật giáo, mang ý nghĩa là “không chắc chắn”, “thường thay đổi”, “không trường tồn”. Vô thường là một trong ba tính chất (Tam pháp ấn) của tất cả sự vật của đời sống. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại không (sinh, trụ, dị, diệt) . Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ và Vô ngã. Trong Đạo học phương Đông của người Trung Hoa thì chữ “Dịch biến” đồng nghĩa với chữ “Vô thường” trong Đạo Phật. Do đó nghĩa đối nghịch với “Thường” là” Vô thường”. Hay nói một cách khác: Vô thường nghĩa là không ở yên một trạng thái mà luôn luôn biến đổi. Trong Đạo Phật chữ Thường là chỉ cho Phật Tánh, Bản thể Chân như, tự tại, tự chủ không bị chi phối, biến đổi. Vì thế mà chữ Vô thường là không thường còn, bị biến thiên, bị mất đi. Trong kinh Đại Niết Bàn khi Phật nhập diệt Trời Phạm Thiên nói câu:

“Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp…”

Đôi nét về nghệ sỹ guitar Vô Thường (1940 – 2003)

Nhạc sỹ Vô Thường sáng tác rất ít nhưng ông đã để lại nhiều dấn ấn khó phai mờ trong nền tân nhạc Việt Nam qua ngón đàn guitar trác tuyệt. Hôm nay Dòng Nhạc Xưa xin trân trọng giới thiệu đôi nét về nghệ sỹ Vô Thường qua một bài viết của nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải.

Nhạc sỹ Vô Thường trên một album của ông sản xuất tại hải ngoại. Ảnh: otofun.net

VÔ THƯỜNG (1940 – 2003): Một hiện tượng trong làng tân nhạc Việt Nam hải ngoại

(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Quang Hải đăng trên tranquanghai.info năm 2003)

Chuyện tình của người trinh nữ tên Thi (Hoàng Thi Thơ)

Trong kho tàng sáng tác đồ sộ của nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ, chúng ta gặp một bản nhạc có giai điệu và ca từ khá lạ: chúng tôi muốn nói đến “Chuyện tình của người trinh nữ tên Thi”. Theo tâm sự của tác giả thì đây là một câu chuyện có thật và nguyên mẫu “người nghệ sỹ đã có gia đình” là chính nhà nhạc sỹ. Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu một bài viết của nhạc sỹ Tuấn Khanh để người yêu nhạc hiểu thêm về Hoàng Thi Thơ và nhạc phẩm bất hủ này.

 

Nhớ nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

(Nguồn: bài viết của tác giả Tuấn Khanh đăng trên tuoitre.vn ngày 2013-03-22)

Ðêm nhạc Hoàng Thi Thơ sắp tới là dịp để khán giả được nghe lại và hoài niệm về một tài năng lớn, người đã tạo ra một con đường âm nhạc riêng tràn ngập những hình ảnh, câu chuyện và giai điệu Việt Nam đáng để ngưỡng mộ.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cùng vợ là Thúy Nga – nghệ sĩ phong cầm – Ảnh tư liệu

Tùng Giang (1940-2009): Một Nghệ Sỹ Đa tài

Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu vài thông tin sưu tầm được để chúng ta thấy ngoài Tùng Giang nhạc sỹ, ông còn là một tay trống có hạng, ca sỹ nhạc trẻ, nhà tổ chức và sản xuất âm nhạc.

Tùng Giang và Bạn Hữu: “Họp Mặt Hoàng Hôn”

(Nguồn: bài viết của nhạc sỹ Nam Lộc đăng trên trungtamasia.com ngày 2009-05-22)

Kỳ Phát đang trao tấm plaque cho Tùng Giang. Bên cạnh là Nam Lộc, Giáng Ngọc, Derek Phạm và Cung Mi. Ảnh: TrungTamAsia.com