Để người yêu nhạc hiểu rõ hơn về góc độ kỹ thuật cũng như lịch sử hình thành và phát triển của băng cassette, DòngNhạcXưa xin giới thiệu một bài viết với nhiều thông tin hữu ích trên trang tinhte.vn.
Bạn có nhớ lần cuối mình nghe một bài nhạc được phát từ băng Cassette là khi nào không? Mình dám cá là những đứa trẻ chừng 10 tuổi chắc là chẳng có ấn tượng gì về nó nữa cả. Mà thậm chí nếu không nhắc lại thì chắc hẳn nhiều bạn cũng đã
không còn nhớ đến sự tồn tại của những chiếc băng Cassette, khởi đầu cho những tâm hồn yêu thích âm nhạc từ 20-30 năm về trước. Còn một điều khác nữa là chắc không nhiều người biết rằng, băng Cassette đã 50 năm tuổi.
Trong bài viết về nghệ sỹ saxophone Huỳnh Hoa, chúng ta có nói về người bạn tri kỷ và cũng là người bạn diễn nổi tiếng Tòng Sơn, đệ nhất harmonica Việt Nam. DòngNhạcXưa hân hạnh giới thiệu về người nghệ sỹ đặc biệt này qua một bài viết của anh Hà Đình Nguyên.
“Quái kiệt” Tòng Sơn Một mùa Xuân vui đợi cuối đường
“Quái kiệt” Tòng Sơn Một mùa Xuân vui đợi cuối đường
Mùa Xuân này, nghệ sĩ kèn harmonica Tòng Sơn bước sang tuổi 88. Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông đã trải qua bao biến chuyển thăng trầm, đủ vinh quang, tủi nhục… Tuy vậy, dù đã gần 90 tuổi, bao lần phải nhập viện cấp cứu, nhưng vừa gượng dậy là người nghệ sĩ già lại xuất hiện trên sân khấu, chỉ vì một lý do: kiếm tiền mưu sinh…
Tiếp nối loạt bài về các nhạc công đã có nhiều dấu nhất trong dòng nhạc Việt, DòngNhạcXưa xin mượn một bài viết của anh Hà Đình Nguyên đăng trên tờ Thanh Niên năm 2004 để giới thiệu “đệ nhất danh kèn” Huỳnh Hoa (1935 – 2008).
Nghệ sĩ kèn saxophone Huỳnh Hoa: “Một cây kèn, một đời người”
Nghệ dỹ Tòng Sơn (trái) và Huỳnh Hoa (phải). Ảnh: cand.com.vn
Hằng đêm, nếu bạn có dịp ghé vào sân khấu ca nhạc Trống Đồng (góc đường Cách Mạng Tháng Tám – Nguyễn Du, Q.1, TP Hồ Chí Minh) bạn sẽ được nghe tiếng kèn saxo “thần sầu” của một “lão nghệ sĩ” đã hơn 70 tuổi. Ở vào lớp tuổi “gió heo may đã về” mà tiếng kèn của ông vẫn còn đầy mê hoặc thì chắc chắn ở vào thời điểm sung sức nhất, “hoàng kim” nhất của lão nghệ sĩ này hẳn có rất nhiều điều thú vị. Nào, chúng ta hãy cùng “ngược thời gian” với “đệ nhất danh kèn”: Huỳnh Hoa.
DòngNhạcXưa xin mời người yêu nhạc dạo ghé thăm xứ Chuột Túi để tìm hiểu thú chơi đĩa nhựa nhạc xưa của bà con Úc Châu qua một bài viết của tác giả Ngọc Hải từ Sydney.
Nhiều người cứ bảo mua đĩa ở Úc sướng lắm, đặc biệt là đĩa nhựa nhưng chẳng phải thế. Đã bắt đầu qua thời của những đĩa nhựa giá rẻ mà bạn có thể dễ dàng tìm gặp trong các cửa hàng âm nhạc, đĩa nhựa bây giờ bắt đầu tỏ rõ lại giá trị của mình.
Đắt gấp 10 lần CD vẫn có người mua
Dân Úc giờ nghe nhạc ngày càng kén chọn, đĩa phải là vinyl, dàn hi-end, đĩa xước, trầy, vỏ quăn góc thường bị bỏ lại. Các ông chủ những shop đĩa ngày càng phải vắt mồ hôi mà tìm những nguồn đĩa tốt để phục vụ thượng đế. Sau những cơn suy thoái kinh tế, dân chơi đĩa lại bắt đầu rủng rỉnh tiền bạc và nhu cầu chơi vinyl cứ ngày càng nâng cao. Dân châu Á như lũ sinh viên chúng tôi, trước giờ vẫn khôn lỏi, chỉ vào những cửa hàng vinyl tiếng tăm lục tung cả cửa hàng để tìm ra những đĩa nhựa tốt và giá rẻ như cho (chưa tới 2 USD). Nhưng bây giờ chuyện đó khó hơn hẳn, người ta sắp xếp và định giá lại mặt hàng vinyl chứ không đổ đống như ngày xưa. Những đĩa bị “nổ” tiếng được xếp riêng, những đĩa chất lượng như mới được để trịnh trọng một gian riêng và giá của nó đa phần đều hơn 15 USD.
Cũng như mọi mặt hàng ở đây, đĩa nhạc cũng có thời điểm sale off. Ngoài những đợt khuyến mãi 5-10% rải rác suốt năm thì có 2 đợt sale mạnh nhất rơi vào dịp lễ Phục sinh và Giáng sinh. Cửa hàng sản phẩm nghe nhìn có hệ thống bán lẻ lớn nhất ở Úc là JB-Hifi cũng được xem như là cửa hàng bán đĩa brand new (đĩa mới) lớn nhất nước Úc, với hàng trăm cửa hàng nằm rải rác khắp các trung tâm mua sắm. Phong phú về thể loại, từ đại chúng như pop, rock cho đến jazz, blues, country, world music, classic…, những chiếc vinyl mới tinh (sealed – chưa bóc vỏ) nhìn cứ như những cô gái kiều diễm mời gọi. Nhưng tiền đâu, đâm đầu vào đấy có nước sạt nghiệp. Chỉ cần nhìn thôi, cũng đủ gợi nên những ước mơ.
Những tưởng thời đại CD vừa qua và nhất là công nghệ nhạc số hiện đại sẽ khai tử những chiếc đĩa nhựa cổ điển nhưng một điều thú vị là trào lưu thưởng thức đĩa nhựa vẫn tồn tại và đang có dấu hiệu khôi phục. DòngNhạcXưa xin giới thiệu bài viết của nhà báo Trí Quyền đăng trên tuoitre.vn để chúng ta hiểu hơn về trào lưu này.
Thị trường đĩa nhựa đang hồi sinh – Ảnh: TRÍ QUYỀN
TTO – Trong khi các cửa hàng bán CD đóng cửa hoặc thu hẹp mặt bằng, nhường chỗ cho nhạc số (nhạc số tải về cũng nhường chỗ cho nhạc số nghe trực tuyến) thì cũng có định dạng chứa nhạc cũ xưa lại ăn nên làm ra: đĩa nhựa.
Mới đây nhất, Sony vừa công bố sẽ mở nhà máy sản xuất, in ấn đĩa nhựa ở Nhật Bản vào đầu năm 2018.
Nghĩ đến đĩa nhựa thường là nghĩ đến dòng nhạc sang trọng hoặc acoustic giàu giai điệu, cần âm thanh chi tiết, nhưng vẫn có những ngõ ngách khá bất ngờ mà đĩa nhựa len lỏi vào.
Ngoài nhạc sỹ sáng tác và ca sỹ trình diễn, góp phần quan trọng vào nền nhạc xưa là đóng góp của các nhạc công. DòngNhạcXưa đã có bài giới thiệu ngón đàn tuyệt kỹ của Vô Thường. Hôm nay chúng tôi hân hạnh mượn một bài viết của tác giả Trần Chí Phúc để vinh danh một trong những tay guitar ghi dấu ấn sâu đậm nhất trong làng nhạc Việt: nghệ sỹ Trung Nghĩa.
Danh cầm Trung Nghĩa – kỷ niệm học đàn guitar khó quên
Trong một lần ngồi tâm tình văn nghệ, nhạc sĩ Guitar Trung Nghĩa kể rằng hồi còn bé có nhạc sĩ Đỗ Văn Ngọc thấy anh mê đàn nên tới nhà xin phép thân phụ để cho anh được học ông ta nhưng bị từ chối. Sau đó ông này có chở Trung Nghĩa đến nhà của nhạc sĩ Hùynh Háo để xin làm đệ tử. Thập niên 60 Hùynh Háo rất nổi tiếng ở Sài Gòn và được giới ca nhạc gọi là Anh Hai, trong khi đó nhạc sĩ Hùynh Anh được gọi là Anh Ba.
Tiếp nối chủ đề “Những địa danh đã đi vào nhạc“, DòngNhạcXưa xin mời quý vị trở về Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông qua một bài viêt của tác giả Trần Chí Phúc phân tích nét nhạc Trầm Tử Thiêng trong bản nhạc “Đêm nhớ về Sài Gòn” nổi tiếng.
Đêm Nhớ Về Sài Gòn – nỗi sầu nghệ thuật của Trầm Tử Thiêng
1- Đêm nhớ về Sài Gòn, thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi. Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi. Đường im nghe quá khứ trong sầu. Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau. Tình lẻ loi canh thâu.
DòngNhạcXưa xin giới thiệu một bài viết có giá trị của tác giả Tâm Triều về cái thú uống cafe lâu đời của dân Sài Gòn và qua đó chúng ta có dịp xuôi dòng thời gian gần một thế kỷ để biết thêm về sự hình thành của thú cafe Sài Thành. Ngoài ra, tác giả cũng giới thiệu các quán cafe và các phòng trà nhạc xưa của Hòn Ngọc Viễn Đông ngày nào.
Hồi xửa hồi xưa… có một Sàigòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”. Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao thì gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt….
TRỞ VỀ THẬP KỶ 50 : CÀ PHÊ VỚ
Năm một ngàn chín trăm… hồi đó người Sàigòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh… có khói này là do các xếnh xáng A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo… chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.
Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu ? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc dợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi . . .”kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu này mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.
Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng) từ lâu đã đi vào thơ nhạc. Bao nhiêu con tim của biết bao thế hệ, dù không còn ngồi ở giảng đường Văn Khoa nhưng với họ, mỗi lần ghé thăm, mỗi khi nhớ về, hay đơn giản chỉ bất chợt nghe một câu hát của ngày xưa cũ là cũng đủ làm con tim bồi hồi xao xuyến. Trong niềm cảm xúc ấy, DòngNhạcXưa xin giới thiệu bản “Người em Văn Khoa” của nhạc sỹ Châu Kỳ và một bài viết của tác giả Huỳnh Như Phương.
Thi đậu tú tài phần thứ hai, vì học ban C, nên khi bước vào đại học, tôi không có nhiều chọn lựa như bạn bè cùng lứa. Tôi đã chọn Đại học Văn Khoa Sài Gòn chỉ vì đây là ngôi trường thân thiện với tôi từ khi còn là học sinh trung học: qua giới thiệu của các thầy giáo, kệ sách nhà tôi đã có những cuốn sách của các giáo sư nổi tiếng ở trường.
Văn Khoa trong thời chiến
Buổi học đầu tiên, tôi đứng ở hành lang dãy phòng học gần gốc cây me bây giờ, nhìn lên lầu một: thầy Nguyễn Văn Trung và thầy Lý Chánh Trung mặc sơ mi trắng, mang giày săng-đan đứng tựa vào lan-can hàn huyên với các thầy giáo trẻ. Đó là hai người thầy mà tôi ngưỡng mộ khi trích văn trong một bài báo Xuân hồi học lớp 10 ở trường Trung học Trần Quốc Tuấn và chỉ hình dung khuôn mặt qua tấm ảnh chụp những giáo sư ngồi tuyệt thực trước hành lang Hạ nghị viện để đòi chính quyền trả tự do cho các sinh viên tranh đấu.
Nhiều năm trôi qua, sau này nhớ lại những ngày tháng cũ, đôi khi những kỷ niệm êm đềm làm ta quên hết những điều chưa tốt đẹp. Thật ra, Văn Khoa hồi ấy, giữa không khí chiến tranh nóng bỏng bao trùm đời sống, còn rất nhiều thiếu thốn và bất tiện để có thể xem là một trường đại học đúng nghĩa. Tòa nhà trên đường Cường Để này vốn là nơi đóng quân của “Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống”, nhường chỗ cho nhà trường chuyển đến từ đường Gia Long, nhưng vẫn giữ một phần diện tích cho mục đích quân sự, với hàng rào kẽm gai ngăn cách. Trong sân trường xe cộ để ngổn ngang. Dãy phòng học một tầng mái thấp, nóng bức, với những chiếc ghế hàn vỉ sắt làm rách quần những sinh viên đãng trí. Muốn đến giảng đường học môn Văn minh Việt Nam, môn học thường phải đi sớm để giữ chỗ vì quá đông sinh viên nghe giảng, phải bước lên cầu thang cạnh một nhà vệ sinh luôn bốc mùi, đến nổi có lần thầy Thanh Lãng nói đùa cái mùi đó là đặc trưng của trường Văn Khoa! Cũng vì lớp đông nên sinh viên thường chỉ nghe giảng, ghi chép và đọc cours; vài lần muốn tổ chức séminaire, thầy Nguyễn Văn Trung phải đi dã ngoại với chúng tôi ra La San Mai Thôn hay rừng cao su gần Đường Sơn Quán.
Nhưng Văn Khoa để lại ấn tượng sâu đậm không phải vì cảnh quan mà vì những con người đáng quý trọng. Hồi đó, ngay trong hai năm đầu, lớp chúng tôi đã được học thầy Trần Thái Đỉnh với cách giảng bài khúc chiết, thầy Lê Tôn Nghiêm – sâu sắc, thầy Lê Thành Trị – điềm đạm, thầy Giản Chi – lão thực, thầy Bửu Dưỡng – uyên bác, thầy Nguyễn Duy Cần – nghiêm nghị… Có những lần giờ tan học qua lâu, thầy Kim Định với chiếc áo dài trắng như một đạo sĩ, vẫn còn nán lại trên hành lang giải thích thêm cho chúng tôi về triết lý an vi. Thầy Lê Xuân Khoa lịch thiệp, bận công việc ở Viện Đại học, dành những buổi tối dạy cho chúng tôi môn triết học Ấn Độ.
Có thể nói Văn Khoa Sài Gòn là nơi tập hợp nhiều khuôn mặt trí thức tiêu biểu của miền Nam thời ấy. Văn Khoa cũng là nơi phát khởi những khuynh hướng học thuật mới mẻ, những phong cách độc đáo trong biên khảo, trước tác và dịch thuật. Những bộ sách về lịch sử triết học và văn học, về lý thuyết và phương pháp luận sử học, nhân học, ngữ học, phê bình văn học… của các giáo sư Đại học Văn Khoa chắc chắn sẽ được các thế hệ sau kế thừa.
Năm hòa bình đầu tiên
Mùa hè năm 1975, mọi thứ được sắp xếp lại, các thầy cô giáo dự lớp học chính trị riêng, sinh viên nghe giảng riêng, sau đó mỗi thầy được cử đến một tổ sinh viên để cùng thảo luận về “chuyên chính vô sản” và nhiệm vụ của nhà trường mới. Học chính trị xong, chúng tôi học chuyên môn với các thầy cô đến từ Hà Nội. Hầu hết thầy cô giáo Văn Khoa ở lại đều không lên lớp mà chỉ nghiên cứu thuần túy, một ít người chuyển sang dạy Hán Nôm hay ngoại ngữ. Hoàn cảnh đổi thay nhưng tình thầy trò không thay đổi: những ngày đầu tháng 5 thầy Lê Thành Trị, khoa trưởng, cùng sinh viên chuẩn bị hội trường đón tiếp đoàn giáo sư miền Bắc do ông Phạm Như Cương dẫn đầu; các thầy Lý Chánh Trung, Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh lên thăm chúng tôi trồng cây trên Chánh Phú Hòa; thầy Thanh Lãng mặc áo ký giả đến dự Hội Tết Văn Khoa năm hòa bình đầu tiên… Văn Khoa sẽ vui biết mấy nếu không khí hòa hợp đó còn mãi kéo dài.
Còn nhớ một buổi tối trong năm học chuyển tiếp đó, khi đến cư xá Thanh Quan, tôi thấy thầy Phạm Văn Diêu và thầy Nguyễn Lộc, hai người đồng hương Quảng Ngãi, đều là chuyên gia về Nguyễn Du và Truyện Kiều, lần đầu gặp nhau chuyện trò tâm đắc về nghiên cứu văn học cổ điển ở hai miền. Khoa Ngữ Văn của chúng tôi từ đó là nơi quy tụ những thầy giáo muốn tìm một chỗ bình yên để làm khoa học: Nguyễn Văn Trung, Bửu Cầm, Phạm Hữu Lai, Trần Trọng San, Lưu Khôn, Nguyễn Tri Tài, Nguyễn Khuê… Những cuốn sách có thể chịu cảnh im lìm bám bụi trong phòng đọc hạn chế, nhưng người làm khoa học thì phải vượt qua hoàn cảnh, không để mình bám bụi, và rồi những cuốn sách mới lại tiếp tục ra đời.
Từ ngày thành lập Đại học Văn Khoa Sài Gòn (01-3-1957) đến nay đã 60 năm. Những thế hệ xây dựng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày nay không quên quá khứ, vì đó là một phần lịch sử của mình. Tôi thầm nghĩ, một may mắn của đời mình là được chứng kiến gần ba phần tư thời gian lịch sử đó của ngôi trường, từ thời sinh viên đến khi sắp về hưu, gắn bó với từng phòng học, từng dãy hành lang, thư viện và những khuôn mặt lúc cởi mở lạc quan, khi đăm chiêu sầu não, nhưng luôn ấp ủ những hoài bão khoa học.
Vài năm nữa ngôi trường sẽ chuyển hẳn ra ngoại thành với một cơ ngơi khang trang, bề thế; người đi xa về có thể không tìm ra nơi lưu giữ kỷ niệm học đường. Những người đã qua, những người còn lại và những người sẽ tới đâu thể nào có một lần hội ngộ cho tất cả. Qua trang viết này, chỉ mong gửi gắm một nỗi niềm chung mà từ những góc trời riêng rẽ, chúng ta có thể sẻ chia về những ngày tháng cũ.
DòngNhạcXưa đã có nhiều bài viết về nhạc sỹ Hoàng Trọng (1922 – 1998). Tuy nhiên sẽ là một điều thiếu sót khi không nói về các bản theo thể điệu tango lả lướt mà qua đó ông được người yêu nhạc xưng tụng là “vua tango của nền tân nhạc Việt Nam”. Trong bài viết mang tính chất tổng hợp này, chúng tôi dùng tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Nếu có gì chưa hợp lý, xin quý vị gần xa cùng góp ý hay thảo luận (qua trang web này hoặc qua Facebook facebook.com/dongnhacxua) để tất cả chúng ta có được thông tin chính xác nhất về nhà nhạc sỹ tài hoa Hoàng Trọng.