Ban nhạc Phượng Hoàng luôn xứng đáng được đặt để vào vị trí cao nhất trong dòng nhạc trẻ của Sài Gòn năm xưa vì những đóng góp mang tính nền tảng cho phong trào Việt hóa nhạc pop-rock Âu Mỹ thập niên 1967-1970. DòngNhạcXưa xin trân trọng tiếp nối chủ đề “Một thời nhạc trẻ Sài Gòn” của ký giả Lê Văn Nghĩa.
Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Phượng Hoàng, cánh chim ngược gió
Phải dành cho ban nhạc trẻ Phượng Hoàng một sự trân trọng về tài năng cũng như về sự đóng góp của họ cho phong trào nhạc trẻ Sài Gòn. Sau vài chục năm, nhạc phẩm của các nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang vẫn được yêu thích, và giọng ca chính của Phượng Hoàng vẫn xuất hiện trên sân khấu ca nhạc. …
Trong bài viết về ca sỹ Chế Linh (tức nhạc sỹ Tú Nhi), có một chi tiết rất đáng lưu ý: năm 1964, sau khi đoàn văn nghệ biệt chính Biên Hòa tan rã, Chế Linh thất chí và tìm lên núi Bửu Long quy ẩn để định hướng lại con đường nghệ thuật. Như một duyên số, tại đây anh gặp nhạc sỹ Bằng Giang và chính Bằng Giang đã khuyên nhủ Chế Linh quay về với âm nhạc và hình thành một con đường riêng, thành công đến tận ngày nay. Vậy nhạc sỹ Bằng Giang là ai và sự nghiệp sáng tác như thế nào? DòngNhạcXưa xin giới thiệu đôi nét về nhà nhạc sỹ qua một bài viết của tác giả Thy Lệ Trang.
Trước năm 1970 tôi có dịp gặp nhạc sỹ Bằng Giang vài lần, lúc đó anh còn trẻ chưa nổi tiếng trong giới âm nhạc miền Nam bấy giờ, nhưng đối với thành phố Biên Hòa thì anh cũng có tiếng tăm. Yêu văn nghệ và ưa thích hoạt động những ngày lễ lớn như Giáng Sinh, Tết anh thường có mặt tham gia trong đội văn nghệ của các trại lính ở Biên Hòa. Không biết cơ duyên nào anh Bằng Giang biết được chị Mai tôi có giọng hát truyền cảm, nên đã tìm đến nhà tôi xin phép ba mẹ tôi cho chị tôi đi hát đêm Giáng Sinh giúp vui cho trại gia binh Bạch Đằng.
Được mệnh danh là một trong “tứ trụ nhạc vàng” (cùng với Duy Khánh, Hùng Cường và Nhật Trường), Chế Linh, với chất giọng thật lạ và phong cách biểu diễn tự nhiên, đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong dòng nhạc Việt. DòngNhạcXưa xin trân trọng giới thiệu tiếng hát của người ca sỹ gốc người Chàm, qua một bài của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & đời sống” .
Chế Linh, người ca sĩ từng có một thời được coi như một hiện tượng trong dòng nhạc Boléro mà theo ngôn ngữ bình dân mộc mạc gọi là nhạc sến. Nhạc Sến ở đây phải được hiểu một cách đứng đắn là dòng nhạc mang tính cách phổ thông, được phổ biến rất lớn rộng trong quần chúng, khi thì mặn nồng nàn tình cảm với những cuộc tình đôi lứa, khi thì đậm đà tình tự quê hương với những tâm bình bình dị chân chất, như tâm hồn của những người dân Việt binh thường. Đó là thời điểm những năm 60-70, khi nền tân nhạc Việt Nam đang trong thời kỳ bộc phát mạnh mẽ.
Trong sinh hoạt nhạc trẻ trước 1975 và nhất là tại hải ngoại sau này, Công Thành đã để lại những dấu ấn khó phai mờ về khả năng ca hát cũng như MC và tổ chức biểu diễn. DòngNhạcXưa xin đăng một bài viết của cố nhạc sỹ Trường Kỳ trong chuyên mục “Nghệ sỹ & Đời sống” để giới thiệu đôi song ca và cũng là cặp vợ chồng nổi tiếng: Công Thành và Lynn.
Có một dạo vai trò MC đã lấn át vai trò chính của anh là một ca sĩ. Đó là trường hợp của Công Thành, một nam ca sĩ có một quá trình hoạt động rất lâu dài, bắt nguồn từ những năm đầu của thập niên 60, khi nhạc Rock gây một ảnh hưởng rất lớn mạnh nơi giới trẻ. Ngoài một quá trình gần gũi với ca nhạc, với lãnh vực “show business”, Công Thành còn là một tiếng hát đa dạng trong phần trình bày những nhạc phẩm Pháp, Anh và Việt Nam rất vững vàng.
Ngoài ra, anh còn là ca sĩ Việt Nam duy nhất đã có dịp trình diễn với những ban nhạc ngoại quốc tại khắp các thành phố lớn ở Úc Châu cũng như tại hầu hết những quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Chính do những chi tiết đặc biệt như vậy nên thiết tưởng việc dành cho Công Thành một bài viết đề cập đến những hoạt động của anh là một điều cần thiết.
Một trong những giọng ca lạ và để lại dấu ấn trong làng nhạc Việt Nam là tiếng hát Carol Kim. DòngNhạcXưa xin mượn một bài viết của anh Trần Chí Phúc để giới thiệu chất giọng khàn đặc trưng của người nghệ sỹ đa tài đến với quý vị.
Carol Kim trên một CD của cô ở hải ngoại.
Carol Kim vẫn còn làn hơi sung mãn khàn ấm áp
(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv ngày 2015-10-26)
DòngNhạcXưa đã có một bài viết giới thiệu ca nhạc sỹ Thu Hồ. Hôm nay chúng tôi trân trọng giới thiệu ca sỹ Mỹ Huyền, là cô con gái rượu của nhà nhạc sỹ, qua một bài viết của tác giả Trần Chí Phúc.
Ca sĩ Mỹ Huyền – cái bạt tai nhớ đời
(Nguồn: bài viết của tác giả Trần Chí Phúc đăng trên sbtn.tv ngày 2014-09-12)
Ca sĩ Mỹ Huyền có tên thật là Hồ Thị Mỹ Huyền, ái nữ của nhạc sĩ Thu Hồ. Tác giả của bài hát Quê Mẹ nổi tiếng ( Đêm khuya trăng mơ mắt trông về trong cõi xa mờ…), Khúc Ca Đồng Tháp, Tím Cả Rừng Chiều; là một trong những nhạc sĩ tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam. Cô nhắc đến tên ông với sự yêu thương của đứa con dành cho người cha và cùng với sự kính trọng tài năng của một nhạc sĩ.
Trong bài viết giới thiệu bản “Chuyện trình Lan và Điệp 3”, DòngNhạcXưa có giới thiệu bản ghi âm trước 1975 do ca sỹ Trúc Mai thể hiện. Theo thiển ý của chúng tôi, cô là người đầu tiên đem nhạc phẩm đến công chúng và cũng là người hát đạt nhất cho đến lúc này. Để người yêu nhạc xưa có thêm thông tin về bà, DòngNhạcXưa xin trân trọng đăng bài viết của ký giả Hồ Trường An trong tập sách “Theo chân những tiếng hát”.
Vào ba năm chót của thập niên 50, phòng trà Hòa Bình gần Bùng Binh Sài Gòn có những ca sĩ nồng cốt là Bạch Yến, Bích Chiêu, Thùy Nhiên và Thái Xuân, Yến Hương, Trúc Mai. Sau khi Yến Hương và Thái Xuân lần lượt rời khỏi phòng trà này thì đã có Ngân Hà và Bạch Quyên thay thế. Hát nổi đình nổi đám nhất là Bạch Yến và Bích Chiêu. Có giọng kim quyến rũ nhất là Thùy Nhiên và hiền lành nhất là Bạch Quyên. Mảnh mai kiều nhược nhất là Ngân Hà. Nhưng còn đẹp nhất phải nói là Trúc Mai.
Đối với tôi, thuở đó Trúc Mai là một giọng hát mới ra nghề, vì tôi chưa hề nghe cô hát trên làn sóng điện lẫn trong đĩa nhựa và chưa được nghe báo chí nhắc tới cô. Giờ đây, trên 40 năm qua, nhắc tới Trúc Mai trong một cuộc điện đàm, nữ ca sĩ Quỳnh Giao có cho tôi biết: “ Theo Quỳnh Giao, Trúc Mai hát khá hơn một cô ca sĩ sinh viên đã từng nổi tiếng từ 1962 trở về sau. Chị ấy hát trước sau bằng giọng thật, không bẻ qua giọng mái. Giọng Trúc Mai ấm áp. Ngặt một nỗi chị ấy cứ hát các ca khúc theo thể điệu bolero hoài nên khán thính giả sành điệu không biết được cái đẹp của giọng hát chị ấy ”. …
DòngNhạcXưa giới thiệu tiếp phần 3 và cũng là phần cuối trong chuỗi ca khúc “Truyện tình Lan và Điệp” mà nhóm Lê Minh Bằng đã cảm tác từ tác phẩm văn học “Tắt lửa lòng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Truyện tình Lan và Điệp, phần 3. Ảnh: VietStamp.net
Tắt lửa lòng là một tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, giới thiệu lần đầu tiên năm 1933. Tác phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến, và rất nhiều người chuyển thể thành vở kịch, bản nhạc khác nhau.
Soạn giả Trần Hữu Trang đã biên kịch lại và chuyển thể lại thành vở cải lương “Lan và Điệp” năm 1936. Và cái tên “Lan và Điệp” trở thành huyền thoại từ đó, thậm chí nó còn nổi tiếng hơn cả tên tác phẩm Tắt lửa lòng.
Một trong những giọng ca thuộc thế hệ đầu của nền tân nhạc Việt Nam là nghệ sỹ “Tài tử” Ngọc Bảo. DòngNhạcXưa xin giới thiệu bài viết sưu tầm trên Vietnamnet để giới yêu nhạc hiểu thêm về người nghệ sỹ tài hoa.
Tài tử Ngọc Bảo: Nghìn người tình cũng không bằng vợ
Tài tử Ngọc Bảo thú nhận, không thể tránh khỏi những phút xao lòng khi bị nhiều giai nhân theo đuổi nhưng: “Làm sao phụ bạc được người phụ nữ như vậy cho được”.
Những năm 1990, sau khi nhạc Việt được cởi trói khỏi những sáng tác sáo rỗng, nhiều ca khúc giá trị đã ra đời. Khi ấy xuất hiện một cặp song ca có cá tính, họ hát nhạc của chính họ sáng tác và làm say mê hàng triệu con tim yêu nhạc. DòngNhạcXưa xin giới thiệu cặp song ca Phương Thảo – Ngọc Lễ qua một bài viết của tác giả Cung Tuy đăng trên TheThaoVanHoa.vn
Ngọc Lễ – Phương Thảo: Âm nhạc không cần hào quang