Ngôi sao ban chiều (Đinh Tiến Hậu)

Sau hiệp định Geneva 1954, đất nước chúng ta bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc với hai thể chế chính trị khác nhau. Có thể nói mà không sợ bị cho là quá lời là trong suốt 75 năm hình thành và phát triển của nền tân nhạc Việt Nam thì giai đoạn 20 năm từ 1954 – 1975 là thời kỳ cực thịnh của dòng nhạc Việt, xét về số lượng nhạc sỹ, ca sỹ cũng như số lượng và chất lượng của các tác phẩm, mà đại đa số là xuất phát từ miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, bên cạnh cảnh ‘trăm hoa đua nở’ ở miền Nam ngày đó, chúng ta vẫn tìm được nhiều ‘bông hoa đẹp’ trong vườn hoa âm nhạc ở miền Bắc trong giai đoạn này.

Hôm nay [dongnhacxua.com] xin trân trọng giới thiệu một trong số đó: bản ‘Ngôi sao ban chiều’ của nhạc sỹ Đinh Tiến Hậu.

 

Ngôi sao ban chiều (Đinh Tiến Hậu). Ảnh: NgoiSaoBanChieu.blogspot.com
Ngôi sao ban chiều (Đinh Tiến Hậu). Ảnh: NgoiSaoBanChieu.blogspot.com

NGÔI SAO BAN CHIỀU: SỰ THẬT VỀ MỘT BÀI HÁT NGA
(Nguồn: tác giả Trần Can đăng trên DotChuoiNon.com ngày 21/10/2011 )

Thuở đất nước thống nhất (1975), người dân hai miền Nam Bắc háo hức tìm hiểu về nhau sao bao năm chia cắt. Tìm hiểu về âm nhạc cũng là một cách để hiểu biết văn hóa. Người sống ở miền Nam như mình thuở đó nghe những bài “Cô gái vót chông”, “Tiếng đàn Ta Lư” thấy rất… kinh ngạc vì lối hát cao vút và véo von nghe chẳng khác gì tiếng…Tàu :D

Thậm chí lúc đầu mình còn không nghe được lời hát nhưng nghe mãi thì cũng…quen tai, nhạc miền Bắc chủ yếu phục vụ chiến tranh nên giai điệu rất hào hùng (mà sau này ta hay gọi là Nhạc Đỏ).

Nhạc miền Nam bị xếp vào loại Nhạc Vàng và bị cấm hát vì tình cảm… ủy mị, làm người nghe mê muội, mất …ý chí phấn đấu :D

Vậy mà mình nhớ năm đó khoảng 1977, lúc chơi ở nhà cô bạn thì gặp hai anh bộ đội, hai anh chàng chơi Guitar và hát một bài hát được giới thiệu là Nhạc Nga: “Ngôi sao ban chiều”. Bài hát có giai điệu đẹp, êm đềm và lời hát cũng khá tình cảm, tha thiết.

“Màn chiều dần buông xuống, gió ngàn vi vu
Lấp ló đầu hiên, ngôi sao ban chiều
Gợi lòng ta thương nhớ, tới người yêu ở phương trời xa
Em thân yêu nơi nao có nhớ tới chăng, đôi ta năm xưa, chung lời nguyện ước
Bây lâu con tim ta vẫn nhớ tới em, như ngôi sao hôm, đêm ngày không mờ
vì lòng ta mãi mãi vẫn còn khắc ghi, bóng hình dáng em…”

Sau đó mình cũng nghe nhiều người hát bài này và đều được giới thiệu là nhạc Nga.

Nhưng thật bát ngờ, tác giả bài hát này lại là một người…Việt, dân Hà Nội chính hiệu con nai vàng :D

Nhạc sĩ Đinh Tiến Hậu sinh năm 1944 tại Hải Phòng, yêu âm nhạc nhưng không thể thi vào trường Âm Nhạc Việt Nam chỉ vì lý lích của ông bị phê: Có người nhà di cư vào Nam. Sáng tác bài hát “Ngôi sao ban chiều” năm 1964, ông đã phải giả vờ cho bài hát của mình là…nhạc Nga, chấp nhận là một nhạc sĩ vô danh để thanh niên miền Bắc thuở ấy  có nhạc trữ tình hát lên mà không bị cấm đoán hay ..kiểm điểm.

Ông hiện vẫn còn sống ở Phố Bạch Đằng, Hà Nội. Mình có số điện thoại, bạn nào cần gọi để kiểm chứng, xin hãy liên hệ nhé.

Bổ sung của Vũ Ngọc Tiến (ngày 30/10/2011) cho bài viết của Trần Can:

Cảm ơn anh Trần Can đã cho biết thông tin rất thú vị về tác giả bài hát. Do ở Hà Nội nên lần theo thông tin đó, ngày 29/10 vừa qua chúng tôi đã ghé thăm người nhạc sĩ Đinh Tiến Hậu tại nhà riêng của ông ở ngõ 738 Bạch Đằng. Người nhạc sĩ nhỏ bé gày gò nhưng cởi mở, hồn hậu và tràn đầy năng lượng. Đây là lời hát tôi gõ lại từ bản nhạc do chính người nhạc sĩ đáng kính ký tặng (ông bảo lời có nhiều dị bản quá!).

Màn chiều dần buông xuống, gió ngàn vi vu, lấp ló đầu hiên ngôi sao ban chiều.
Gợi lòng ta xao xuyến nhớ người yêu nơi phương trời xa.
Em thân yêu nơi đâu, có nhớ tới chăng, đôi ta năm xưa chung lời hẹn ước?
Bấy lâu con tim ta vẫn nhớ tới em, như ngôi sao hôm bao ngày không mờ.
Vì lòng ta mãi mãi vẫn còn yêu em không bao giờ phai.

Người mà tôi yêu mãi, nay ở chốn nao, tháng năm dần trôi, tôi vẫn mong chờ.
Giờ này em ở đâu, hỡi người yêu, ta mong chờ em.
Ôi không gian bao la, hãy nói cho ta, em yêu phương xa có còn chờ nữa?
Nơi xa xôi nghe chăng, tiếng hát nhắn em, không gian mang theo bao lời ân tình.
Vì lòng ta mãi mãi vẫn còn yêu em không bao giờ phai.

Ảnh chụp nhạc sĩ Đinh Tiến Hậu tại nhà riêng, 29/10/2011. Ảnh: Vũ Ngọc Tiến
Ảnh chụp nhạc sĩ Đinh Tiến Hậu tại nhà riêng, 29/10/2011. Ảnh: Vũ Ngọc Tiến

SAU NỬA THẾ KỶ TÌM ĐƯỢC TÁC GIẢ CA KHÚC ‘NGÔI SAO BAN CHIỀU’
(Nguồn: nhà báo, nhạc sỹ Nguyễn Thụy Kha đăng trên báo Lao Động ngày 02/11/2013)

Ngôi sao ban chiều (Đinh Tiến Hậu). Ảnh: LaoDong.com.vn
Ngôi sao ban chiều (Đinh Tiến Hậu). Ảnh: LaoDong.com.vn

“Ngôi sao ban chiều” là một ca khúc mà tất cả các bạn trẻ thời chiến tranh chống Mỹ ở miền Bắc đều rất yêu quý.

Tôi là một trong số đó. Tôi đã từng hát “Ngôi sao ban chiều” trong những hoàng hôn trung du Phú Thọ cho người tình đầu nghe. Nàng nghe và nhìn từ góc đồi cọ chúng tôi ngồi, nhìn lên bầu trời đã lấp lánh sao Hôm. 

Nghe mãi, nàng còn đề nghị tôi phải có “Ngôi sao ban chiều” của tôi tặng nàng. Và tôi đã viết ca khúc “Chiều về” với những lời ca: “Mắt em là bầu trời – đọng ánh sao đẹp tuyệt vời – sưởi ấm trong lòng tôi – mãi khi chiều xuống lay động sáng ngời”. Khi vào Quảng Trị, mùa hè 1972, tôi đã hát “Ngôi sao ban chiều” cho những người đồng đội nghe để vơi đi những tiếng gầm rú máy bay, tiếng bom nổ, tiếng pháo bầy. Lúc ấy, tôi cứ ngỡ “Ngôi sao ban chiều” là một ca khúc Nga. Nhưng tôi đã lầm. Sau chiến tranh, nhiều người nói qua tôi rằng, “Ngôi sao ban chiều” là của một tác giả Việt Nam.

Nhạc sỹ Đinh Tiến Hậu. Ảnh: LaoDong.com.vn
Nhạc sỹ Đinh Tiến Hậu. Ảnh: LaoDong.com.vn

Gần đây, nhạc sĩ Nguyễn Văn Bằng – cũng là lính Quảng Trị như tôi – báo tin: “Em đã gặp tác giả “Ngôi sao ban chiều” rồi. Anh ấy cũng muốn gặp anh”. Rồi một chiều, Bằng gọi: “Anh đến quán này ngay, tác giả “Ngôi sao ban chiều” đang chờ anh”. Tôi mừng quá, tới ngay. Đến quán, trước mặt tôi là một người nhỏ thó chừng “thất thập cổ lai hy”. Tôi đưa tay bắt “Chào anh. Nửa thế kỷ mới gặp tác giả ca khúc mà tôi yêu thích”. Người đàn ông bắt tay tôi và cười: “Tôi là Đinh Tiến Hậu. Tác giả “Ngôi sao ban chiều” đây. Rất vui được gặp anh”. Và Đinh Tiến Hậu kể, câu chuyện lùi về nửa thế kỷ trước, những ngày kề chiến tranh.

Đinh Tiến Hậu là người ở ngoại ô Hà Nội. Do hoàn cảnh gia đình, phải xuống Hải Phòng ở cùng họ hàng thời cắp sách. Anh học trường Hoàng Văn Thụ (vốn là trường Trí Tri do bố tôi xây dựng nên thời Hải Phòng bị tạm chiếm). Ở trường vào tuổi thanh xuân, Đinh Tiến Hậu đã thầm yêu một người bạn học. “Ngôi sao ban chiều” được viết ra để dành tặng cô ấy. Có tác phẩm của người yêu viết tặng, cô gái đã nhờ một thầy guitar Hải Phòng tập cho mình hát.

Người thầy chắc cũng có cảm tình với cô gái nên chép lại “Ngôi sao ban chiều” cho cô, còn thì cầm bản gốc. Người chị của cô gái cũng thích ca khúc, bèn chép lại, mang lên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nơi mình đang học. Từ đấy, “Ngôi sao ban chiều” bắt đầu được phổ biến trong sinh viên, học sinh Hà Nội. Song, do lưu truyền một ca khúc trữ tình lúc ấy rất khó, mọi người đều ghi vào đó là một ca khúc Nga, như trường hợp “Đêm chia tay” của Hải Thoại, hay “Giã từ” – một đoạn trong ca khúc của Hoàng Trọng ở miền Nam lan truyền ra. 

Với Đinh Tiến Hậu, anh đã dùng tác phẩm của mình gửi để dự thi vào Nhạc viện Hà Nội. Anh được chọn qua giấy báo trúng tuyển cùng các anh Minh Khang, Thanh Phúc… Nhưng giấy báo yêu cầu phải có chứng nhận của địa phương về nhân thân. Anh mang giấy báo về quê thì được phê rằng “Có người nhà ở miền Nam”. Lúc ấy, với lời phê này tức là không được nhận học. Đó là mùa thu 1964. Vậy là ước mơ học Nhạc viện Hà Nội của Đinh Tiến Hậu tan thành mây khói. Từ đó, anh bước vào một cuộc dấn thân khác. 

Trên bước đường dấn thân, đã bao lần anh được nghe những người khác thể hiện “Ngôi sao ban chiều” dưới ”mũ” ca khúc Nga. Anh nghe mà tự hào về mình, nhưng không thổ lộ với ai. Vì sao “Ngôi sao ban chiều” lại lan truyền trong thanh niên, sinh viên thời ấy, vì đó là một ca khúc tình yêu hay. Nhưng sao họ lại tin đó là ca khúc Nga, vì nó ảnh hưởng giai điệu Nga khá rõ. Thời ấy, chuyện một ca khúc Việt Nam ảnh hưởng Nga hay Châu Âu là chuyện bình thường. Ảnh hưởng đó còn dư âm đến bây giờ. 

Ngay ca khúc “Chiều về” của tôi tặng người yêu, cũng là ảnh hưởng nặng nề “Mặt trời của tôi” của Ý. “Ngôi sao ban chiều” được thực hiện bằng tiết nhịp boston (3/4). Nó được viết bằng điệu thức la thứ hòa thanh (điệu khúc la thứ có nốt sol thăng). 

Nó được mở đầu bằng chùm nốt nằm trong điệu thức la thứ, rồi nối tiếp tiết nhịp qua rê thứ, mi thứ ở câu đầu: Màn chiều dần buông xuống/ Gió ngàn vi vu/ Lấp ló đầu hiên/ Ngôi sao ban chiều.

Câu thứ hai là một mô phỏng lùi và kết ở chủ âm: Gợi lòng ta xao xuyến/ Nhớ người yêu/ Nơi phương trời xa.

Ở đoạn sau là cuộc di dịch của những nốt mí đồng âm, sau đó là rê đồng âm để rồi lại trôi lên nốt mí: Em thân yêu nơi đâu/ Có nhớ tới chăng/ Đôi ta năm xưa/ Chung lời hẹn ước.

Cuộc di dịch được nhắc lại: Bấy lâu con tim ta/ Vẫn nhớ tới em/ Như ngôi sao Hôm/ Đêm ngày mong chờ.

Câu sau của đoạn đầu đã được dùng để kết bài: Vì lòng ta mãi mãi/ Vẫn còn nhớ em/ Không bao giờ phai.

Cứ thế “Ngôi sao ban chiều” được lan truyền trong đời sống chiến tranh cả đến những nơi ác liệt nhất là mặt trận Quảng Trị mùa hè 1972. Trong cuốn sách viết về những người lính sinh viên của Đại học Bách khoa thời ấy, những người biên soạn đã trân trọng đưa “Ngôi sao ban chiều” vào trong phần những ca khúc ấn tượng nhất đời lính ngày ấy cùng một ca khúc Nga thật sự là “Bài ca tuổi trẻ sôi nổi”.

Suốt nửa thế kỷ qua, bao người cứ đi tìm tác giả “Ngôi sao ban chiều”, còn tác giả thì lại đi tìm cô gái – người mà mình dành tặng ca khúc đầu đời – ca khúc mối tình đầu. Có lúc Đinh Tiến Hậu đã thổ lộ với các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Nguyễn Lưu. Và Nguyễn Lưu đã từng viết về “Ngôi sao ban chiều” ở tờ Đầu Tư. Song có lẽ sự lan tỏa văn nghệ ở một tờ báo như tờ Đầu Tư không mấy mạnh mẽ, nên vẫn ít người biết “Ngôi sao ban chiều” là sáng tác của Đinh Tiến Hậu. Còn Đinh Tiến Hậu thì lại cứ mải miết đi tìm cô gái ngày xưa. 

Cuối cùng, qua bao nhiêu tình cờ, Đinh Tiến Hậu đã có thể nói chuyện qua điện thoại. Kỳ lạ nhất là sau nửa thế kỷ, hai người đều ở Hà Nội. Nhưng nói qua điện thoại mà nhờ sự kết nối của người chồng thì nói được là bao, mặc dù người chồng cũng nhận thấy đây là một câu chuyện hay. Người ấy – giờ đã là người đàn bà có tuổi – nói: “Lúc ấy, anh quá nhát”. Cái sự nhát ấy đã chỉ còn để lại âm hưởng trong một ca khúc tình yêu tuyệt vời mà chẳng mang lại được gì trong đời sống thực. Vậy là chẳng thể thành đôi. Bà hẹn sẽ có lúc gặp mặt. Nhưng lúc nào, thì chính Đinh Tiến Hậu đang còn chờ đợi khi cả “chàng” và “nàng” đã ở tuổi “thất thập”.

Cũng gần đây, trong một tuyển tập ca khúc nước ngoài do Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành – do nhạc sĩ Đào Ngọc Dung tuyển chọn, “Ngôi sao ban chiều” đã được đưa vào tuyển tập với tên tác giả là P.I.Tchaikovsky. Đinh Tiến Hậu bàng hoàng. Ca khúc của mình mà được coi là ca khúc của P.I.Tchaikovsky thì phúc cho mình quá. 

Tuy nhiên, anh vẫn tìm gặp nhạc sĩ Đào Ngọc Dung để trình bày về sáng tác của mình. Đào Ngọc Dung nghe ra và đã ghi lời xin lỗi tác giả về sự nhầm lẫn rất hay này. Song Đào Ngọc Dung không phải không có lý khi nhầm lẫn. “Ngôi sao ban chiều” đã bị ảnh hưởng vô thức bởi ca khúc “Cô gái miền đồng cỏ” của P.I.Tchaikovsky. 

Dù sao, đến nay “Ngôi sao ban chiều” vẫn được nhiều thế hệ hát. May sao, quyền tác giả của Đinh Tiến Hậu lại được Trung tâm Bảo vệ bản quyền tác giả âm nhạc Việt Nam do nhạc sĩ Phó Đức Phương (người vào Nhạc viện Âm nhạc cùng năm với Đinh Tiến Hậu nhận giấy báo) xác nhận. Và tiền bản quyền “Ngôi sao ban chiều” vẫn được chuyển đều cho Đinh Tiến Hậu.

Điều mà Đinh Tiến Hậu kỳ vọng ở tôi là – qua bài viết này – “Ngôi sao ban chiều” chính thức được đời sống âm nhạc rộng rãi của Việt Nam công nhận là của anh. Một đời người làm âm nhạc, chỉ cần có được một “Ngôi sao ban chiều” thấm vào nhân gian như Đinh Tiến Hậu đã viết ra, tưởng là dễ, nhưng đâu có dễ. Bởi thế, tôi cũng như mọi người rất trân trọng anh, dù thời gian đã trôi qua nửa thế kỷ là quá muộn. Muộn nhưng còn làm được thì cũng chẳng có gì phải phiền muộn. Tôi tin là thế. Còn câu chuyện Đinh Tiến Hậu sẽ gặp “nguồn cảm hứng” cho “Ngôi sao ban chiều” của mình như thế nào, có lẽ lại là ở một bài viết khác. 

Sau khi không vào Học viện Âm nhạc được, Đinh Tiến Hậu đành vào làm việc tại Nhà máy cơ khí Hà Nội cho đến khi về hưu. Ở nhà máy, Đinh Tiến Hậu đã viết hàng chục ca khúc về nhà máy của mình. Tuy về hưu, Đinh Tiến Hậu vẫn tiếp tục niềm đam mê viết ca khúc. Ngồi nói chuyện với tôi, anh khoe một ca khúc viết về Hà Nội mang tên “Em có về Hà Nội”. Anh Hậu bảo, năm 1970 – tức là sau 6 năm viết ca khúc “Ngôi sao ban chiều” và vương vấn mãi mối tình đầu – Đinh Tiến Hậu mới xây dựng gia đình.

[footer]

Akai: Hoài niệm một thời

Tiếp nối bài viết về chiếc máy cassette, vốn dĩ cũng đã xa lạ với thế hệ 8X, 9X, hôm nay [dongnhacxua.com] xin đăng lại một bài viết về một máy nghe nhạc có lịch sử thậm chí còn xưa hơn: máy hát băng cối mà người miền Nam hay gọi là máy Akai.

Xem thêm:
“Tôi là Lâm Hào, vẫn còn sống đây!”
Cassette: Hoài niệm một thời
Mai này có còn băng cassette?
Phương Chánh Hùng: Người đam mê băng đĩa nhạc xưa
Akai & máy hát đĩa kim: thú chơi nhạc xưa tốn kém

TÍN ĐỒ AKAI
(Nguồn: bài viết của tác giả Nguyễn Đình đăng trên DoanhNhanSaigon.vn)

Máy nghe nhạc Magnetophone dùng băng magnetic (quen gọi là băng cối) có rất nhiều thương hiệu nhưng được dân chơi định danh chung là máy Akai. Akai là một dòng máy hát cổ lỗ sĩ tưởng chỉ để bán ve chai trước trào lưu các dòng máy nghe nhạc hi-end công nghệ hiện đại, nhưng vẫn được giới sưu tầm Việt Nam săn lùng và đưa về thời hoàng kim của nó.
 
 
Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn
Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn

Phải đến những năm 2000, phong trào chơi nhạc xưa, săn lùng máy Akai mới bắt đầu quay trở lại với một ít người tiên phong trong thú chơi hội đủ các độ khó và phức tạp của nghề sưu tầm. 

“Nghĩa Akai”

“Ngày nào mà không loay hoay với băng đĩa, máy hát Akai, tự nhiên thấy trong người thiếu thiếu một cái gì đó” – Nghĩa Akai tâm sự ngắn gọn về niềm đam mê bất tận của mình với thú chơi mà anh theo đuổi từ hơn 10 năm nay.

Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn
Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn

Nghĩa Akai đang sở hữu bộ sưu tập Akai đồ sộ về chủng loại, số lượng và cũng đồng thời là chủ nhân của bốn quán cà phê nghe nhạc xưa. Chính vì thế mà dân sưu tầm gán luôn biệt danh “Akai” cho Nghĩa như khẳng định niềm đam mê bất tận của anh với thú chơi này. 

Nghĩa kể: “Tôi mê nhạc xưa từ năm 1982. Khi ấy, muốn kiếm quán cà phê nghe nhạc khó khăn lắm, sau đó vướng bận chuyện học hành, đây đó khắp nơi, làm đủ nghề, về lại Sài Gòn, mãi đến năm 2003, tôi mới có đủ điều kiện tập trung sưu tầm máy Akai. Khi ấy nguồn máy còn nhiều, chợ Nhật Tảo là điểm đến quen thuộc vì nơi này hay bán máy cho các đoàn làm phim mua làm đạo cụ. Ở Lê Công Kiều cũng có bán nhưng người mua để trưng bày hơn là sử dụng. Nhìn chung, giới chơi Akai lúc đó ít lắm vì băng đĩa rất hiếm”.

 Trước khi chuyển sang sưu tầm máy Akai và nhạc xưa, Nghĩa đã từng là một tay sưu tầm có hạng các đồ xưa cũ của những năm 1960 trở về trước, cả những dòng xe cổ, từ hai bánh đến bốn bánh. Khi bắt đầu tập trung cho Akai, mọi đam mê khác dần nhường chỗ cho thú vui này. Từ Huế vào Nam, hễ nghe nơi nào có máy Akai là Nghĩa tìm đến, đơn giản chỉ vì: “Nghe nhạc từ máy Akai nó gợi lại thời trẻ tuổi, hơn nữa khi có đĩa CD, nghe Akai tôi thấy âm thanh trung thực và liêu trai hơn, nên càng nghe càng nghiền”.

 

Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn
Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn

Có những lần gặp Nghĩa thấy hai con mắt thâm quầng, hỏi ra mới biết anh thức trắng đêm chỉ để nghe đi nghe lại một cuốn băng mới sưu tầm với những bài nhạc xưa quý hiếm.Khắp nhà Nghĩa, máy Akai xếp từ chân tường đến đụng trần. Chủ nhân suốt ngày loay hoay chỉnh sửa, rã máy này, ráp máy kia.

 Nghĩa kể: “Lúc đầu chưa kinh nghiệm, coi máy không kỹ, mua về bị máy hành đến nơi đến chốn, rồi phải tự mày mò, lục tìm thông tin trên mạng, gặp gỡ những thợ sửa Akai trước đây để học hỏi thêm. Ở Việt Nam hết máy để tìm thì lên eBay đấu giá, nhờ bạn bè, người thân ở nước ngoài xách máy về”.

Nghĩa còn có một kho nhạc đồ sộ, từ nhạc xưa của Việt Nam đến các thể loại nhạc nước ngoài. Tuy Nghĩa không dám khẳng định là đầy đủ trọn bộ, nhưng giới chơi Akai, hễ ai thiếu thứ gì, người đầu tiên họ nghĩ đến là Nghĩa, và hầu hết những yêu cầu đều được đáp ứng.

 Cả những ca sĩ của Sài Gòn xưa như Lệ Thu, Giao Linh, Phương Dung…, đến các nhạc sĩ tên tuổi ngày nay cũng tìm đến Nghĩa để xin tư liệu là các bản nhạc mà Nghĩa sưu tầm do chính họ trình bày mà không lưu giữ được. 

Chơi Akai dễ mà khó

Những người yêu thích nhạc xưa, thích sưu tầm máy Akai trước đây hầu hết ở lứa tuổi từ 35-60, bởi Akai từng là một thời kỷ niệm của họ. Những năm gần đây, người trẻ mê Akai ngày càng nhiều. 

Với khả năng nghiên cứu, tìm tư liệu trên mạng, các diễn đàn chơi Akai trong và ngoài nước, cùng trí nhớ tốt, những người trẻ đang dần làm sống lại thế giới nghe ngạc bằng máy Akai. Do nguồn tài chính hạn chế nên trong giới yêu nhạc xưa qua máy Akai đa phần tập trung sưu tầm nhạc, chưa chú trọng nhiều đến âm thanh và nguồn máy.

Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn
Ảnh: DoanhNhanSaigon.vn

Những ca sĩ của dòng nhạc hiện đại như rapper Tiến Đạt cũng là một tín đồ của Akai, sở hữu một chiếc Studer dùng để thu âm với 24 đường tiếng, là hàng độc của thị trường Akai Việt Nam. 

Giới chơi Akai riêng ở Sài Gòn nay đã có vài điểm đến quen thuộc để gặp gỡ, giao lưu và trao đổi máy móc, chia sẻ đam mê. Việc mua bán máy Akai trên thị trường cũng ngày càng dễ dàng hơn, nhất là việc chọn mua trên mạng từ các nước sản xuất dòng máy này như Nhật, Đức, Mỹ, với các thương hiệu Akai, Revox, Ampex, Studer, Teac, Sony… giá đủ cấp độ, từ đôi ba triệu cho đến năm bảy nghìn USD tùy theo giá trị và chất lượng của từng đời máy. Cái dễ của việc sưu tầm máy Akai là vậy. 

Akai hư hỏng, sửa ở đâu?

Máy Akai dễ hư nhất là đầu từ, nhưng có thể thay thế nhờ giới sưu tầm, những quán cà phê như Nhạc Xưa, Con Sóc ở đầu đường Bà Huyện Thanh Quan, Nghĩa Akai cuối đường Pasteur… Việc chỉnh sửa, thay đổi hoặc mua máy mới cũng dễ dàng, bởi ở các điểm cà phê Akai của Sài Gòn đều có anh em trong nghề chuyên cung cấp dịch vụ này, hoặc giới thiệu, trao đổi những dòng máy Akai cho người chơi.

Nhưng cái khó nhất trong thú chơi Akai, theo Nghĩa, là nguồn băng. Đây là mảng quan trọng nhất, bởi có máy xịn mà băng dở thì cũng bằng không. 

Nhạc Việt Nam những năm 1950 đa phần là đĩa cải lương, rất ít tân nhạc, đến thập niên 1960-70 thì dòng nhạc nước ngoài nhiều hơn, nguồn nhạc này cũng dễ tìm vì có thể sưu tầm từ các nước châu Âu và Mỹ, hoặc qua những Việt kiều có cùng đam mê sưu tầm đem về trao đổi. 
 
Chuyện tìm được một băng nhạc ưng ý có khi mất cả vài năm, mua đổ đống cả trăm cuốn băng may ra chỉ lựa được một hai cuốn có chất lượng tốt. Nhưng nghề chơi là vậy. Nghĩa Akai từng khẳng định: “Nếu đã đam mê rồi thì kiểu gì cuối cùng cũng tìm ra được món ưng ý để mua”.
Mỗi đời máy Akai lại mang một tính năng riêng, cho ra một âm thanh riêng biệt. Dòng máy phổ biến kiểu gia đình là dòng Akai M, với âm thanh mono, đến dòng M5- M11 là âm thanh stereo, M4-M8 được người yêu nhạc xưa chuộng bởi xài bóng đèn, đem lại âm thanh sạch, mộc, trong và tách chậm tiếng, nghe bản nhạc cùng một thời lượng nhưng có cảm giác nhả tiếng chậm hơn.

 

Bộ dạng với băng từ loằng ngoằng, hai bánh cối to đùng, nút bấm, đèn đóm, đồng hồ loạn xạ…, quả thật nhìn máy hát Akai có vẻ khó sử dụng ngay cả lúc cho băng vào máy. Nhưng khi tiếng nhạc cất lên, âm thanh mộc mạc, phô diễn chất giọng thật của ca sĩ thì những giai điệu ấy làm xốn xang lòng người, nhất là người luôn sống với thời quá vãng. Những quán cà phê của Sài Gòn thập niên 1980 như Thái Sơn – Đồng Khởi, Châu Thạnh – Lý Chính Thắng, Hương – Lê Thị Riêng… từng là một thời để nhớ của những tín đồ mê nhạc xưa phát ra từ chiếc máy Akai cũ kỹ. 

Những người chơi Akai kỳ cựu khuyên rằng, bắt đầu chơi Akai, nên chọn những dòng máy phổ thông, vừa túi tiền, sau mới phát huy dần kỹ năng và sở thích để nâng cấp các dòng máy phù hợp với nhu cầu. Băng là hàng đầu, sau đến cặp loa, amply, rồi tới máy. Chọn được bộ Akai đồng bộ là tốt nhất, nhưng với trên 100 đời máy của các nhãn hiệu và chủng loại thì công việc này không mấy đơn giản, đòi hỏi phải có lượng kiến thức đáng kể cùng việc tiêu tốn khá nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. 

Các diễn đàn về âm thanh trên mạng như VNAV, hoặc có thể tra cứu “AKAI” trên mạng cũng sẽ tìm được nhiều thông tin phong phú về các đời máy và các hội nhóm sưu tầm Akai.

Các điểm cà phê Akai cũng là nơi trao đổi băng nhạc, người chơi có thể tìm đến các địa chỉ này để tìm nghe, trao đổi, chép lại những bản nhạc xưa yêu thích.

 NGUYỄN ĐÌNH

[footer]

Văn Cao (1923-1995): Khoảng lặng đời người

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhạc sỹ Văn Cao (15/11/1923 – 10/07/1995), cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam, [dongnhacxua.com] xin được phép đăng lại một bài viết cho thấy một góc nhìn khác về những ‘khoảng lặng’ trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà nhạc sỹ. Qua bài viết này, xin được đại diện cho hàng triệu người yêu nhạc thế hệ sau, [dongnhacxua.com] kính chúc linh hồn Nhạc Sỹ vui hưởng hạnh phúc tràn đầy nơi chốn ‘Thiên Thai’, như trong một sáng tác bất hủ khác của ông!

Buồn tàn thu (Văn Cao). Ảnh: VietStamp.net
Buồn tàn thu (Văn Cao). Ảnh: VietStamp.net

buon-tan-thu--1--van-cao--vietstamp.net--dongnhacxua.com

CỐ NHẠC SỸ VĂN CAO: KHOẢNG LẶNG ĐỜI NGƯỜI
(Nguồn: XaHoi.com.vn)

Cố nhạc sĩ Văn Cao là một bậc kỳ tài trong nhiều lĩnh vực nhưng ông được biết đến nhiều nhất ở vai trò của một nhạc sĩ. Vẻ đẹp bảng lảng, thoát tục, giai điệu uyển chuyển của Buồn tàn thu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ,… đã làm say mê và cuốn hút bao người yêu nhạc. Cuộc đời nhạc sĩ Văn Cao có nhiều thăng trầm gắn liền với những biến thiên của lịch sử và sự khắc nghiệt trước cái nhìn của thời cuộc. Viết về ông, có lẽ cần cả một cuốn sách với cái nhìn thấu đáo. Bởi, đó là một cuộc đời lớn, cuộc đời của một thiên tài. Bài viết này chỉ là một nét phác họa về người nghệ sỹ tài hoa…

Chân dung Văn Cao. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.
Chân dung Văn Cao. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.

Vẻ đẹp tiên thiên trong tình ca

Đến giữa thập niên 30, nền tân nhạc Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc. Những cái tên như Lê Thương, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, Hoàng Quý,… đã tạo nên một diện mạo mới cho tân nhạc và gây ảnh hưởng lớn đến tinh thần thưởng ngoạn âm nhạc của giới trí thức lúc bấy giờ.

Trong dòng chảy đó, cuối năm 1939, Buồn tàn thu – ca khúc đầu tiên của nhạc sĩ Văn Cao ra đời. Năm đó ông vừa tròn 17 tuổi. Đầu năm 1940, Buồn tàn thu được chàng ca sĩ mê xê dịch Phạm Duy (nhạc sĩ Phạm Duy sau này) “gieo buồn đi khắp chốn” và tạo nên một hiệu ứng trong giới yêu nhạc thời ấy. Dù còn phảng phất sự ảnh hưởng của Lê Thương và Đặng Thế Phong nhưng Buồn tàn thu, với lời ca đầy chất thơ, tứ nhạc phong phú, nét nhạc thanh thoát đã hứa hẹn một tài năng. Quả vậy, sau đó ít lâu, Thiên Thai, Trương Chi, Suối mơ, Bến xuân, Thu cô liêu của Văn Cao qua tiếng hát Phạm Duy đã thổi một làn gió mát vào lòng người yêu nhạc, ngày ấy và cả bây giờ.

Nhạc sĩ Văn Cao tại nhà, tháng 7/1992. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha
Nhạc sĩ Văn Cao tại nhà, tháng 7/1992. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha

Ngay từ thời còn đi học, tài năng âm nhạc của Văn Cao đã sớm được bộc lộ. Văn Cao họ Nguyễn, bạn bè vẫn thường gọi ông bằng cái tên thân thuộc – anh Văn. Ông cất tiếng khóc chào đời vào ngày 15/11/1923 tại bến Bính, bên dòng sông Cấm, Hải Phòng. Cha (có tài liệu ghi là anh) của ông làm cai của nhà máy bơm nước ở bờ sông đó nên suốt thời niên thiếu, ông sống cùng tiếng ồn ào của cái máy bơm rất lớn nằm chình ình giữa nhà suốt ngày đêm hút nước từ dưới sông lên. Ông học tiểu học tại trường Bonnal, trung học ở trường Saint Joseph và được học nhạc sơ lược ở đây. Về sau, ông có học thêm nhạc lý ở lớp Tạ Phước nhưng lúc mới bắt đầu soạn nhạc, ông tự học và… bắt chước nhạc ngoại quốc! Sau này, bình nhạc Văn Cao, nhiều nhà chuyên môn cho rằng ông còn vài điểm kém về nhạc lý, nhạc điệu nhưng hết thảy đều công nhận ông thực sự là một bậc kỳ tài.

Cũng cần “Phải thừa nhận rằng, nếu không có giọng hát của Phạm Duy, nhạc Văn Cao cũng khó mà phổ biến; trái lại nếu không có Văn Cao, chưa chắc Phạm Duy đã sáng tác! Cả hai hỗ trợ nhau, cùng dìu nhau đi vào bất tử!” (Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đi qua đời tôi). Cố nhạc sĩ Phạm Duy, trong các bài viết sau này cũng nhiều lần nhắc đến tài năng của nhạc sĩ Văn Cao bằng sự kính trọng hết mực. Với giá trị hiển nhiên, nhạc Văn Cao đã vượt thoát qua cửa ải được trấn giữ lâu ngày bởi những đàn anh đi trước và đặt nền móng cho những thế hệ đi sau.

Tinh hoa phát tiết

Tài hoa của Văn Cao còn phát động sang nhiều lĩnh vực khác, nói như nhà văn Vũ Bằng thì, cái gì Văn Cao cũng biết, từ đàn ca, hát xướng cho đến vẽ vời. Trong đó, bên cạnh âm nhạc thì đáng chú ý hơn hết thảy là thơ ca và hội họa. Theo họa sĩ Tạ Tỵ, Văn Cao tuy chỉ học có hai năm ở trường Mỹ thuật Đông Dương với tư cách là sinh viên dự thính, nhưng lại có một tài họa kỳ lạ, hứa hẹn rất nhiều. Bức Cuộc vũ của những người tự sát theo trường phái lập thể được ông trưng bày trong “Cuộc triển lãm độc nhất” (Salon unique) hồi 1943 cùng hai bức Cây đàn đỏ và Đường cấm trong triển lãm tự do tại Liên khu ba vào năm 1949 đến giờ vẫn được nhiều họa sĩ nhắc đến. Văn Cao còn phát hành tuyển tập nhạc do ông tự tay trình bày bìa bằng những bức tranh avant garde rất độc đáo mà lúc đó chưa ai nghĩ ra cách như vậy. Tiếc là, qua nhiều dâu bể, những tác phẩm này chỉ còn lại trong ký ức của bè bạn ông.

Văn Cao, trong ký ức của bạn bè, rất tài hoa mà cũng quá đỗi tài tử. Sinh thời, ông mê rượu và thuốc lào. Một lần, nhà thơ Phùng Quán đang ngồi quán uống trà thì thấy Văn Cao cùng một người bạn liêu xiêu từ quán rượu bước ra. Văn Cao hỏi mượn Phùng Quán năm đồng, Phùng Quán vét sạch túi đưa hết cho ông ba đồng. Lát sau thì thấy bà Băng (vợ nhạc sĩ Văn Cao) hớt hãi đi tìm ông. Thì ra, ông đã để người khách từ Hà Giang xuống nhờ vẽ cái nhãn chè với thù lao 50 đồng và 10 gói chè loại I chờ dài cổ! Hôm sau, Phùng Quán hỏi, Văn Cao lắc đầu: “Mình cần tiền nhưng cũng vô cùng chán tiền!” Con người tài hoa, trong hoàn cảnh túng thiếu, thà vay mượn để thỏa cái sở thích của mình chứ không chấp nhận đem tài năng ra bán buôn, đổi chác !

Nhạc sĩ Văn Cao (thứ 2, từ phải qua) và bè bạn. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha
Nhạc sĩ Văn Cao (thứ 2, từ phải qua) và bè bạn. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha

Năm 1944, Văn Cao gia nhập Cách mạng và được giao soạn một bài hát nhân ngày kháng Nhật. Tháng 11 năm 1944, Tiến quân ca được hoàn thành nhưng mãi đến ngày 17/8/1945, nó mới thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình. Trong buổi mít-tinh của công chức tại Nhà hát lớn Hà Nội, Tiến quân ca được Phạm Duy “cướp micro” hát lần đầu tiên trước quần chúng. Sau 19/8, tên tuổi Văn Cao nổi như cồn. Đầu năm 1946, trong kỳ họp Quốc hội khóa đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội đã quyết định chọn Tiến quân ca làm Quốc ca của nước ta. Tiếp theo Tiến quân ca, nhạc sĩ Văn Cao hầu như chỉ viết những bản nhạc hùng ca Chiến sĩ Việt Nam, Bắc Sơn, Sông Lô, Tiến về Hà Nội,… duy có Ngày mùa và Làng tôi (1947) mang đậm âm hưởng dân ca.

Theo Vũ Bằng, khi Văn Cao nổi tiếng về nhạc, người ta mới giở lại những bài thơ của Văn Cao được đăng tải trên Tiểu thuyết thứ Bảy cùng vài tờ báo khác. Đến lúc đó người ta mới thấy thơ Văn Cao hay cũng như nhạc của ông. Vậy là thơ Văn Cao được đưa ra mổ xẻ và ca ngợi ầm lên, Văn Cao thành ra một thứ “sản phẩm trác tuyệt của những năm bốn mươi”! Theo thời gian, thơ Văn Cao vẫn có chỗ đứng riêng, vì giá trị thực của nó chứ không lóe lên chỉ vì sự tung hô nhất thời với những bài thơ đậm chất thời sự như Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Ngoại ô mùa đông 46, Những người trên cửa Biển cùng nhiều bài thơ khác được in trong tập Lá, xuất bản năm 1988.

Một khoảng lặng…

Sau 1954, nhạc sĩ Văn Cao hầu như không viết nhạc nữa (hiếm hoi có Mùa xuân đầu tiên được ông viết vào năm 1976). Nguyên nhân sâu xa của việc này là do ông cảm thấy ám ảnh sau việc bắn Đỗ Đức Phin – tay mật thám của Nhật vào năm 1945 tại Hải Phòng. “Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy, thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng, và chỉ viết nhạc-không-lời.”

Khi xảy ra vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm vào năm 1958, Văn Cao cũng như nhiều văn nghệ sỹ có liên quan bị đẩy vào bóng tối. Bản Tiến quân ca, vì thế cũng chịu nhiều thăng trầm như người viết ra nó. Tuy nhiên, với giá trị tất yếu, Tiến quân ca vẫn là Quốc ca của nước ta cho đến ngày hôm nay cũng như vị trí vững chắc của nhạc sĩ Văn Cao trong lòng người yêu nhạc. Năm 1983, lần đầu tiên sau nhiều năm, những nhạc phẩm của nhạc sĩ Văn Cao được hát trở lại. Năm năm sau, cái án Nhân văn được dở bỏ. Ba mươi năm, đủ để bãi bể hóa nương dâu, đủ dằng dặc để thui chột mọi sự sáng tạo, đủ khủng khiếp để gò ép một tinh thần. Vết xước xưa khó lành nhưng ít nhất cũng có những thứ được trả về đúng với giá trị vốn có của nó.

Nhạc sĩ và người vợ tảo tần – bà Nghiêm Thúy Băng. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.
Nhạc sĩ và người vợ tảo tần – bà Nghiêm Thúy Băng. Ảnh: Nguyễn Thụy Kha.

Ngày 10/7/1995, nhạc sĩ Văn Cao ôm giấc mơ đời người về với cõi thiên thai…

Viết về ông, với cái nhìn của một người trẻ lớn lên trong sự bùng nổ của rất nhiều trào lưu âm nhạc, tôi chợt nhớ đến một câu thơ trong bài Hoàng hạc lâu của thi sĩ Thôi Hiệu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Con người ấy – với sự vĩ đại của một thiên tài, như nhà báo Nguyễn Thụy Kha nhận xét “Văn Cao là trời cho” và một nhân cách đáng trọng – cũng như một loài chim quý, ra đi không bao giờ trở lại và cũng không có sự lặp lại, mang theo bao sự vấn vương, ngưỡng mộ và đồng vọng của hậu thế.

[footer]

Cassette: Hoài niệm một thời

Tuổi thơ của chúng tôi gắn liền với chiếc máy cassette rè rè mà ba tôi cẩn thận giữ lại như một kỷ vật thời tham gia quân đội miền Nam Việt Nam. Khi ấy, đầu những năm 1980, là quãng  thời gian khó khăn về mọi mặt, từ viên kẹo, hộp sữa, ký thịt heo cho đến đời sống tinh thần. Đĩa nhựa thì không còn được sản xuất và dần thay thế bằng băng cassette. Thuở đó, giống như nhiều làng quê Việt Nam khác, mảnh đất Tuy Hòa miền Trung quê tôi đời sống vật chất  tuy thiếu thốn nhưng tình làng nghĩa xóm thì tràn đầy.

Đã hơn 30 năm nhưng chúng tôi vẫn còn nhớ như in mỗi đêm cúp điện (lúc đó buổi tối vẫn chưa có điện thường xuyên như bây giờ), ba tôi và mấy bác lớn tuổi tập trung lại, uống trà, ngắm hoa và mở cassette nghe đọc truyện Tàu như ‘Tam Quốc Chí’, ‘Thủy Hử’; còn lũ trẻ chúng tôi tụ tập xung quanh lắng nghe từng câu chữ, mê hoặc giọng đọc truyền cảm và liêu trai của xướng ngôn viên.

Rồi cũng có khi anh chị chúng tôi mượn được của bạn bè một băng cassette cũ của Duy Khánh hay Chế Linh thâu âm trước 1975, và nhất là cuốn ‘Sơn ca 7 – Khánh Lý & Trịnh Công Sơn’. Tôi còn nhớ lúc đó vừa nghe vừa phải trực trước cái máy để xem có bị rối băng hay không. Nếu có thì phải tháo ra, cẩn thận kéo cuộn băng từ để đừng làm nó đứt hay bị dập. Rồi vui nhất là đi hái lá mít để lấy mủ mà dán cho nó ‘lành lặn’ trở lại. Xong, nghe lại thấy vui ghê!

Mới đó mà đã hơn nửa đời người! Qua bài viết này [dongnhacxua.com] xin tri ân ba mẹ, anh chị, bạn bè và cả những chiếc máy và băng cassette cổ lỗ sỉ đã làm phong phú cho tuổi thơ của cả một thế hệ chúng tôi.

Máy cassette. Ảnh: muare.vn
Máy cassette. Ảnh: muare.vn

CASSETTE 50 TUỔI
(Nguồn: tác giả N.M đăng trên báo Thể Thao & Văn Hóa)

(Thethaovanhoa.vn) – Ở thời buổi bây giờ, để giới thiệu cho một đứa trẻ lên 8 hiểu thế nào là băng cassette thì chỉ còn cách search google trên iPad. Nhưng với những thế hệ trưởng thành từ những năm 80 trở về trước, cassette luôn là một thế giới. Hôm 13/9 vừa qua, thế giới đã long trọng kỉ niệm 50 năm ngày cassette ra đời.

Gọi “long trọng” cho khí thế chứ thật ra sự kiện lớn nhất là một ngày hội mang tên Cassette store day được tổ chức không xôm tụ lắm ở Úc, còn thì vẫn chỉ là những hoài niệm trên báo, hoặc đâu đó trên Facebook. Dư chấn của nó là những tiếng thở dài. 

Ngày 13/9/1963, hãng Philips long trọng tuyên bố với thế giới rằng một sản phẩm mới tinh ra đời để thay thế cho những chiếc băng cối cồng kềnh, vừa dễ cầm, dễ mang theo và chất lượng thu thanh vẫn được đảm bảo. Họ gọi đó là cassette. 

Băng cassette. Ảnh: TheThaoVanHoa.vn
Băng cassette. Ảnh: TheThaoVanHoa.vn

Cassette là một thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu âm thanh trên 2 mặt. Cuộn băng từ trường này rộng 3,81 mm, còn độ dài của cuộn băng tùy thuộc vào thời gian có thể chạy của cả băng, như có nhiều chuẩn thông dụng C60 (30 phút âm thanh mỗi mặt), C90 (45 phút mỗi mặt)… So với một chiếc đĩa than bị khống chế nhiều về thời gian thì việc nghe được 90 phút âm nhạc từ cassette là một khác biệt lớn. Chưa kể cassette tiện lợi, nhỏ gọn và giá thành rẻ hơn. 

Từ năm 1965, những băng nhạc cassette thông dụng bắt đầu được bán ra thị trường, lúc đầu chỉ có thể phát bằng chất lượng âm thanh mono nhưng từ năm 1966 đã có băng cassette stereo. Cho đến năm 1988, riêng hãng Philips, đã bán được khoảng 3 tỷ cuộn băng cassette chưa kể những hãng sản xuất nổi tiếng khác như TDK, Maxell, hay Nakamichi…

Dale Wiggins, trưởng bộ phận nghiên cứu của hãng Philips tại Mỹ cho rằng cassette ra đời là nhu cầu thiết yếu để đơn giản hóa việc nghe nhạc, đặc biệt là từ băng cối, một công nghệ  khá cồng kềnh. “Với cassette, bạn chỉ cần đưa nó vào hộc băng và nhấn play, tất cả còn sẽ là tự động”. Sau cassette là sự ra đời của CD, DVD và bây giờ là nhạc số. 

“Nhưng âm thanh của cassette vẫn mang một màu sắc riêng, cho dù không thật sự hay bằng đĩa nhựa nhưng chất âm analog của nó vẫn hơn đứt công nghệ số ngày nay”, Patrick Butler, một tay mê cassette chính hiệu, đã “gào” lên như thế trên tờ tạp chí dành cho dân chơi âm thanh, Stereophile.

Nhưng không phải ai cũng là Butler, âm nhạc vẫn là âm nhạc dù nghe qua bất kỳ hình thức gì và số đông vẫn nghe theo cách của xu hướng tân thời. “Đúng là tôi rất buồn bã, cả một thời kỳ, nhiều thế hệ đã lớn lên bằng băng cassette và giờ đây tất cả chỉ còn là ký ức”, Scott Seward, một người phê bình âm nhạc ở Massachusetts, phát biểu. “Nhưng cassette không bị diệt vong, tôi vẫn thấy những nhóm nhạc indie phát hành cassette vì đơn giản giá thành chúng chỉ là 1 USD so với 18 USD của đĩa nhựa hay 10 USD của CD. Ở Trung Đông hay những vùng thôn quê tại châu Á những chiếc băng cassette vẫn được nghe thường xuyên. Tất nhiên thế giới vẫn phát triển nhưng cassette sẽ không bao giờ chết, giống như đĩa than vậy. Sự hoài cổ và giá thành rẻ sẽ giúp chúng tiếp tục tồn tại”, Seward nói thêm. 

Một chuyên gia của hãng Maxell khẳng định dù có nghe đi nghe lại hàng trăm lần nhưng chất lượng cassette của Maxell ngày xưa vẫn ổn định. “Tất nhiên là băng sẽ nhão nhưng nếu bạn chỉ để nghe và không thâu đi thâu lại nhiều lần thì chất lượng của chúng vẫn rất tuyệt hảo”. Độc giả của nhiều tờ báo lớn đã nói rằng họ luôn nhớ cảm giác dùng bút chì cho vào bánh răng quay để gỡ rối băng cassette là một trải nghiệm chẳng bao giờ quên.

Ở Việt Nam những chiếc băng cassette cũ sau một thời gian nằm kho, giờ cũng khá có giá trị trên thị trường, đặc biệt là những cuộn băng gốc nước ngoài hoặc những băng cassette ở miền Nam trước đây. Đi theo nó là cả một thị trường máy cassette cũng nhộn nhịp không kém.

Liệu cassette có trở lại thời hoàng kim của mình hay chỉ là một thú chơi hoài niệm? Điều này rất khó trả lời. Tờ Wftv cho rằng thay vì trả lời việc bạn cần phải làm là hãy đem chiếc máy casette vốn để quá lâu trong nhà kho ra lau thật sạch, đừng quên chùi đầu từ và chọn lại một cuồn băng ngày xưa từng rất thích ra nghe. Hãy nghe lại và rủ những người trẻ nghe cùng. Câu trả lời sẽ nằm ở quyết định sau đó của bạn.

N.M 
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

[footer]

Quỳnh Hương & Chuyện Đóa Quỳnh Hương (Trịnh Công Sơn)

Trong gia tài sáng tác đồ sộ của Trịnh Công Sơn, nhà nhạc sỹ đã ưu ái có đến hai bản nói về hoa quỳnh: Quỳnh Hương (1974) và Chuyện Đóa Quỳnh Hương (1982). Theo thiển ý của [dongnhacxua.com], quỳnh hương hay quỳnh hoa là một loài hoa đặc biệt. Hoa đâm ra từ lá chứ không phải từ thân cây như nhiều loài hoa khác. Quỳnh chỉ nở về đêm, khoảng 8h-9h tối và tàn lúc 11h-12h đêm. Mùi hương rất dễ chịu, làm ngất ngây nhưng không quá nồng nàn như hoa sữa. Rất lâu mới nở một lần nhưng rồi lại tàn nhanh. Khi tàn, nhìn cánh hoa buồn và đầy tâm trạng, như chất chứa một điều gì đó còn vương vấn, giống một sắc đẹp tận hiến cho đời rồi lặng lẽ tàn phai. Dù lòng rộn rã như “Quỳnh Hương” hay sâu lắng trong “Chuyện Đóa Quỳnh Hương”, cầu chúc bạn có được những phút giây thật sự thanh thản để cảm nghiệm món quà đơn giản nhưng nhiều giá trị mà Trời Đất ưu ái ban tặng cho chúng ta!

Hoa quỳnh. Ảnh: HoaSaigon.com.vn
Hoa quỳnh. Ảnh: HoaSaigon.com.vn

QUỲNH HƯƠNG
(Nguồn: tcs-home.org)

Quỳnh hương (Trịnh Công Sơn). Ảnh: tcs-home.org
Quỳnh hương (Trịnh Công Sơn). Ảnh: tcs-home.org

quynh-huong--2--trinh-cong-son--tcs-home.org--dongnhacxua.com

Theo lời kể của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn: “Lúc viết bản này mình không đặt tên là Quỳnh hoa hay Hoa quỳnh chẳng hạn, vì nó … không hay, cho nên có nảy ý Quỳnh hương, không ngờ có người con gái cũng có tên Quỳnh Hương, và khi nàng nghe bản này, nàng phải lòng rồi tìm tới làm quen và làm thân… Một hôm, trước khi ra đi, nàng đến từ giã, cắm một lá quỳnh trong bồn balcon cạnh phòng, và đêm nay là lần đầu tiên Quỳnh nở…”

CHUYỆN ĐÓA QUỲNH HƯƠNG
(Nguồn: tcs-home.org)

“Đêm nay” mà Trịnh Công Sơn tâm sự trên đây là một đêm của năm 1982, khi Trịnh Công Sơn đàm đạo cùng vài người bạn văn nghệ. Cũng có thể từ cảm hứng này mà nhà nhạc sỹ viết “Chuyện đóa quỳnh hương” chăng?

Chuyện đóa quỳnh hương (Trịnh Công Sơn). Ảnh: tcs-home.org
Chuyện đóa quỳnh hương (Trịnh Công Sơn). Ảnh: tcs-home.org

chuyen-doa-quynh-huong--2--trinh-cong-son--tcs-home.org--dongnhacxua.com

[footer]

Có phải em, mùa thu Hà Nội (Trần Quang Lộc – Tô Như Châu)

Đầu những năm 1990, [dongnhacxua.com] đã nghe qua ‘Có phải em, mùa thu Hà Nội’ qua giọng hát Thu Phương và Hồng Nhung. Ngày đó, cùng với ‘Hà Nội, đêm trở gió’  hay ‘Hà Nội mùa vắng những cơn mưa’ … đã làm nên một làn sóng mới thật trẻ trung và đậm chất nghệ thuật về dòng nhạc trẻ nói chung và dòng nhạc về Hà Nội nói riêng. Thế nhưng xung quanh bản ‘Có phải em, mùa thu Hà Nội’ có nhiều điều thú vị mà hôm nay chúng tôi muốn giới thiệu với quý vị.

MỘT CHÚT CÓP NHẶT VỀ ‘CÓ PHẢI EM MÙA THU HÀ NỘI’
(Nguồn: tác giả Hoan Do đăng trên hoandesign.blogspot.com)

co-phai-em-mua-thu-ha-noi--dongnhacxua.com

Những điều tôi viết dưới đây thực ra cũng chẳng phải là những điều tôi thực sự viết. Hay nói cách khác, nó là một dạng đạo lại những bài viết tôi vừa tìm đọc được và bạn có thể tìm thấy chúng ở những đường dẫn ở cuối cái cập nhật trạng thái dài lê thê này.

Đầu tháng tám, thấy nhiều người nhắc lại câu hát này. Tôi cũng định vậy nhưng lại thôi vì không muốn bỗng dưng trở thành kẻ bắt chước.

“Tháng tám mùa thu, lá khởi vàng chưa nhỉ?”

Nghe ‘Có phải em mùa thu Hà Nội’ qua giọng của Hồng Nhung hay nhiều ca sĩ khác, tôi vẫn nhầm lẫn một từ rất quan trọng trong câu hát, “khởi vàng” thành “rơi vàng”. Nhà thơ Tô Như Châu khi viết bài thơ này đầu năm 1970, cũng chính vào những ngày tháng tám. Hè vừa qua, thu mới chớm. Sự thay đổi của tiết trời lúc ấy chỉ đủ khiến những chiếc lá trên những tán cây đổ sang màu vàng óng. Vì lẽ ấy, ông mới dùng chữ “khởi” – bắt đầu, chứ không phải “rơi”.

Trong bài thơ còn có câu: “Lệ mừng gặp nhau ngàn phím dương cầm”. Có lẽ chẳng phải ngẫu nhiên Tô Như Châu đưa tiếng đàn piano vào một ca khúc trữ tình mà rất đỗi hào hùng như vậy. Có giai thoại kể rằng giữa lúc bom đạn chiến tranh, thi sĩ khi ấy ở Đà Nẵng tình cờ gặp được một thiếu nữ Hà Nội xóa tóc thề bên chiếc đàn dương cầm. Rồi chính vẻ đẹp của cô gái, của tiếng đàn thánh thót đã khơi dậy những trang sử hào hùng của “hồn Trưng Vương sông Hát” hay “Quang Trung vó ngựa biên thùy”. Tôi thì vẫn ngờ ngợ về tính xác thực của giai thoại này. Nhưng cũng có thể tại tâm hồn thô kệch của tôi chẳng bao giờ nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc đến thế, và vậy nên khó mà đặt mình vào tâm hồn của một thi sĩ.

Một câu chuyện khác cũng khá đặc biệt về bài thơ sau khi nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ nhạc cho nó vào năm 1972. Bài hát đã có mặt trong một băng nhạc miền Nam nhưng phải đến đầu những năm 90 mới bắt đầu trở nên phổ biến qua giọng hát của Hồng Nhung, Thu Phương. Cũng khi ấy, Tô Như Châu bắt đầu công việc phát báo trên chiếc xe đạp cũ kĩ của mình. Bài hát được phổ thơ ông giờ được phát đi phát lại trên phố, tạo niềm cảm hứng để ông sáng tác bài thơ “Đi bỏ báo nghe thơ phổ nhạc” với những câu thơ rất thú vị:

“Có phải em Mùa thu Hà Nội
Mùa thu trong veo mùa thu tuyệt vời
Sống đẹp âm thầm và khát vọng
Bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời”

Nhưng niềm vui sướng của Tô Như Châu bỗng quay ngoắt 180 độ khi ông phát hiện ra ca khúc được Trần Quang Lộc phổ nhạc gần như không hề có thông tin tên tác giả bài thơ gốc. Trần Quang Lộc ban đầu lấp liếm, giả vờ như không biết Tô Như Châu là ai. Nhưng rồi với những bằng chứng xác đáng, cuối cùng cái tên Tô Như Châu cũng được ở vị trí xứng đáng của nó. Tuy nhiên thật buồn vì ông không được nhận nhuận bút bản quyền như đã hứa cho tới tận lúc qua đời vì bạo bệnh năm 2002.

Tuy vậy, đó vẫn chưa phải là điều bất ngờ nhất. Tô Như Châu lẫn Trần Quang Lộc, hai con người sinh ra tại mảnh đất miền Trung Đà Nẵng và Quảng Trị, lại chưa từng có dịp đặt chân tới Hà Nội khi tạo ra bài thơ và ca khúc bất hủ này, cho tới tận bây giờ.

http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=2691
http://www.anninhthudo.vn/Loi-song/La-khoi-vang-chua-nhi/412623.antd
http://quannhac.net/tan-man/thang-tam-mua-thu
Posted 7th August 2012 by Hoan Do

THÁNG TÁM MÙA THU, LÁ KHỞI VÀNG CHƯA NHỈ?
(Nguồn: nhạc sỹ Phạm Anh Dũng)

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sáng tác nhiều. Trong số đó, nổi tiếng là Về Đây Nghe Em và Có Phải Em Là Mùa Thu Hà Nội. 
Trước 1975, Trần Quang Lộc nổi tiếng với nhạc phẩm Về Đây Nghe Em bài nhạc phổ thơ Anh Khuê: 

Về đây nghe em 
Về đây nghe em 
Về đây mặc áo the đi guốc mộc 
Kể chuyện tình bằng lời ca dao 
Kể chuyện tình bằng lời ngô khoai 
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới 
Và về đây nghe lại tiếng nói thơ ấu khúc hát ban đầu… 

CD Đêm Màu Hồng của danh ca Thái Thanh do Diễm Xưa phát hành có bản Về Đây Nghe Em do Thái Thanh, Ý Lan và Quỳnh Dao (tức là Quỳnh Hương về sau này) hợp ca. CD hay, bài hát hay nhưng bìa CD có một sơ suất nhỏ, đề sai tên tác giả thành ra là Lê Quang Lộc. Và không thấy có ghi tên thi sĩ. 

Nhạc phẩm Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội (thơ Tô Như Châu, nhạc Trần Quang Lộc) thấy lưu hành sau 1975. Bài này có Hồng Nhung đã hát trong CD Chiều Phủ Tây Hồ, do trung tâm nhạc Mưa Hồng phát hành. Bìa CD có tên Trần Quang Lộc là tác giả nhưng cũng không thấy nhắc đến tên thi sĩ Tô Như Châu. 

Đoạn đầu của Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội, nhạc nằm trong âm giai Trưởng, nhạc và lời rất quyến rũ: 

Tháng tám mùa thu, lá rơi vàng chưa nhỉ 
Từ độ người đi thương nhớ âm thầm 
Có phải em là mùa thu Hà Nội 
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm 
Có phải em mùa thu xưa 

Đoạn 2, nhạc cũng gần giống hệt như đoạn đầu, ngoại trừ mấy chữ cuối: 

Có bóng mùa thu thức ta lòng son muộn 
Một ngày về xuôi chân ghé Thăng Long buồn 
Có phải em là mùa thu Hà Nội 
Ngày sang thu anh lót lá em nằm 
Bên trời xa sương tóc bay 

Câu “Ngày sang thu anh lót lá em nằm” nghe thật là giản dị nhưng đầm thắm. 

Sang đoạn thứ 3 là đoạn điệp khúc, hai câu đầu, vẫn ở hợp âm trưởng: 

Thôi thì có em đời ta hy vọng 
Thôi thì có em sương khói môi mềm 
Và sau đó, nhạc chuyển sang âm giai Thứ, buồn hơn: 
Có phải em là mùa thu Hà Nội 
Nghe đâu đây lá úa và mi xanh 
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát 

Có một điểm nhiều người cho hơi lạ là ở khi bản nhạc lên đến cực điểm cao vút: “Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát”. Họ không hiểu ở đây tác giả muốn nói gì vì Hai Bà Trưng tự vẫn ở sông Hát thuộc tỉnh Sơn Tây thì có liên hệ gì đến mùa Thu Hà Nội! 

Lý do có lẽ như sau: 
Hai Bà Trưng nhảy xuống dòng sông Hát tự vận, tại tỉnh Sơn Tây. Sông Hát là giòng nước thượng lưu của sông Hồng (sông Nhị). Hồ Hoàn Kiếm và hồ Tây tại Hà Nội ngày xưa đều có nguồn từ Hồng Hà. 

Đoạn thứ 4 là đoạn kết nhạc lại trở về âm giai trưởng giống như đoạn 1 và 2: 

Có chắc mùa Thu lá rơi vàng tiếng gọi 
Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm 
Có phải em là mùa Thu Hà Nội 
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về 
Ôi mùa Thu của ước mơ 

Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội phải nói là một bài nhạc haỵ 

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. CD Đêm Màu Hồng, Thái Thanh Hải Ngoại 3, Diểm Xưa 16 (714)540-7537 ở Hoa Kỳ. 
2. CD Chiều Phủ Tây Hồ, Mưa Hồng 342 (714)531-7692 ở Hoa Kỳ, Kim Nga 01-45-829045 ở Pháp. 

Phạm Anh Dũng 
Santa Maria, California USA

BÀI THƠ ‘CÓ PHẢI EM, MÙA THU HÀ NỘI’ CỦA TÔ NHƯ CHÂU?
(Nguồn: ThiVien.net)

Tháng 11-2000 Tô Như Châu từ Đà Nẵng có gửi tặng NK tập thơ “Có phải em mùa thu Hà Nội” nxb Đà Nẵng – 1998 gồm 36 bài. Tô Như Châu (Đặng Hữu Có) sinh 1934, quê An Hải, Sơn Trà, Đà Nẵng – cư trú ở 136 Trần Phú-TP Đà Nẵng, dt.3897798; Hội Viên Hội VHNT Đà Nẵng. Nhà anh ở bên kia Sông Hàn. Năm 2000,tuy đã tren 60 xuân Thi sĩ vẫn cưỡi chiếc Honda 67 màu Bordeaux đã cũ vù vù đi “bỏ báo” kiếm cơm”: anh con ngựa già chưa mỏi vó / vẫn thênh thang bược nhẹ quanh đời / đi tung bờm tóc gió / quẳng gánh hương xa lên tiếng gọi mời / em cầu vồng bao nhiêu sắc / tháng giêng hồng rất mỏng rất mênh mông”. 

Bài thơ”Có phải em mùa thu Hà Nội” anh viết vào tháng 8-1970,lúc Đà nẵng còn bời bời bom lửa chiến tranh,tình cờ anh gặp một cô gái Hà Nội chính gốc. Qua vài lần tiếp xúc & thưởng thức tiếng dương cầm thánh thót từ bàn tay trắng trẻo nuột nà mềm mại như thiên thần, lời nói dịu dàng như gió thoàng của Nàng, bỗng dưng đánh thức dậy trong lòng thi sĩ cả lịch sử hào khí của ông cha , của hồn Trưng Vương sông Hát Giang. Và thế là bài thơ ra đời…Bài thơ được Nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ nhạc năm 1972, sau này được các Ca sĩ Hồng Nhung, Thu Phương hát trở nên nổi tiếng. Nhạc Sĩ đươc giải thưởng, nhưng tên người sáng tác “lời”(thơ)thì bị “quên” một cách hữu ý ? Công luận (báo chí & dư luạn xã hội) đã nói về sự bội bạc của người bạn một thời bên xóm chài nhỏ ven bờ sông Hàn cùng anh ! 
 
Bài thơ nguyên tác như sau : 
 
      CÓ PHẢI EM 
      MÙA THU HÀ NỘI 
Tháng tám mùa thu 
Lá khởi vàng em nhỉ 
Từ độ người đi 
thương nhớ âm thầm 

Chiều vào thu nghe lời ru gió 
Nắng vàng lơ lửng ngoài hiên 
Mắt nai đen mùa thu Hà Nội 
Nghe lòng ấm lại tuổi phong sương 

May mà có em cho đường phố vui 
May còn chút em trang sức sông Hồng 
Một sáng vào thu bềnh bồng hương cốm 
Đường Cổ Ngư xưa bắt bước phiêu bồng 

thôi thì có em đời ta hy vọng 
Thôi thì có em sương khói môi mềm 
Có phải em mùa thu Hà Nội 
Nghe đâu đây lá ướt và mi xanh 
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông Hát 
Lững thững Hồ Tây một dáng Kiều 
Có phải em mùa thu Hà Nội 
Nghìn năm sau níu bóng quay về 

Phải nơi đây miền Thanh Nghệ Tĩnh 
Phải nơi đây Hồng Lĩnh-Ba vì 
Phải nơi đây núi Nùng sông Nhị 
Lớn đậy con người đất Tổ Hùng Vương 
Anh sẽ đi 
Cả nước Việt Nam yêu dấu 
Đẹp quê hương gặp lại tình người 
Bước nhỏ long lanh hồn nghệ sĩ 
Mơ Quang Trung vó ngựa biên thuỳ 
Ngày anh đi 
Nhất định phải có em 
đường cỏ thơm giong ruổi 
Sẽ ghé lại Thăng Long 
thăm Hoàng Thành- Văn Miếu 
chắc rêu phong đã in dấu bao ngày 

Đã nghe 
bập bùng trống trận 
Ngày chiến thắng Điện Biên 
Sáng hồn lửa thiêng 
Xuôi quân về giữ quê hương 
Hôm nay mùa thu 
Gió về là lạ 
Bỗng xôn xao con tim lời lá 
Bỗng xôn xao rơi vàng tiếng gọi 
Lệ mừng gặp nhau ngàn phím dương cầm 
Có phải em mùa thu Hà Nội 
Ngày sang thu lót lá em nằm 
Bên trời xa sương tóc bay 
Hà Nội ơi em có hay 
Quê hương thần thoại hiển linh hồn sông núi 
Nắng thu muôn màu rực rỡ trong hồn anh. 
 
       Đà Nẵng,tháng 8-1970.Tô Như Châu 

[footer]

Mưa đêm tỉnh nhỏ (Hà Phương – Anh Việt Thanh)

Tiếp nối dòng nhạc Hà Phương, [dongnhacxua.com] trân trọng giới thiệu bản ‘Mưa đêm tỉnh nhỏ’ mà nhạc sỹ cùng sáng tác chung với nhạc sỹ Anh Việt Thanh. Bản này, cùng với ‘Mùa mưa đi qua’ đã gắn liền tên tuổi của Hà Phương (tức Du Uyên) với những cơn mưa buồn, như chính tâm sự của ông: “Tình yêu đầu đời là những kỷ niệm sâu sắc. Đó là những đêm trên sân khấu tôi đệm đàn cho nàng hát tình khúc do tôi sáng tác. Sau đó, hai đứa dìu nhau dưới những đêm mưa buồn nơi tỉnh lẻ, ánh đèn mờ ảo, phố vắng thưa người… Ôi nhớ sao là nhớ!”.

Mưa đêm tỉnh nhỏ (Hà Phương - Anh Việt Thanh). Ảnh: QuanNhacVang.com
Mưa đêm tỉnh nhỏ (Hà Phương – Anh Việt Thanh). Ảnh: QuanNhacVang.com

mua-dem-tinh-nho--1--ha-phuong--anh-viet-thanh--quannhacvang.com--dongnhacxua.com  mua-dem-tinh-nho--2--ha-phuong--anh-viet-thanh--quannhacvang.com--dongnhacxua.com

Mưa đêm tỉnh nhỏ (Hà Phương - Anh Việt Thanh). Ảnh: QuanNhacVang.com

HÀ PHƯƠNG: NHẠC SỸ CỦA MIỆT VƯỜN NAM BỘ
(Nguồn: tác giả Trương Trọng Nghĩa đăng trên TienGiang.gov.vn)

Nhạc sỹ Hà Phương. Ảnh: TienGiang.gov.vn
Nhạc sỹ Hà Phương. Ảnh: TienGiang.gov.vn

Con hẻm ngoằn nghèo dưới chân Cầu Đỏ nằm trên Quốc lộ 60 (phường 6, thành phố Mỹ Tho) dẫn tôi vào một khu vườn nhỏ yên tĩnh, mát mẻ và trong lành. Ở đó, có một nhạc sĩ nhiều năm qua vẫn âm thầm sáng tác những ca khúc viết về quê hương, đất nước mang đậm âm hưởng dân ca Nam bộ. Đó chính là nhạc sĩ Hà Phương – tác giả của ca khúc “Bông điên điển” từng làm rung động biết bao trái tim, đặc biệt là với những người con xa xứ.

Nhạc sĩ Hà Phương tên thật là Dương Văn Lắm. Ông sinh năm 1938 tại xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang. Sinh ra trong một gia đình không có truyền thống hoạt động văn học nghệ thuật nhưng chính niềm đam mê là động lực mạnh mẽ giúp ông tìm đến với âm nhạc. Ca khúc đầu tay mang tên “Đường khuya” được nhạc sĩ Hà Phương viết năm ông 19 tuổi, bằng điệu tango nhẹ nhàng, chất chứa một nỗi buồn man mác: Đường về đêm nay buồn vắng, lạnh lùng cô đơn một bóng, nghe mưa buốt trong tâm hồn. Đường về không quen một bóng, tìm về trong hơi lửa ấm, thương ai nhớ ai vẫn còn… Chẳng rõ chàng thanh niên trẻ Dương Văn Lắm khi đó, vốn đã mang trong mình một trái tim đa sầu đa cảm hay sớm vận vào mình cái buồn của người nghệ sĩ mà đã viết lên những dòng nhạc đầy tâm trạng đến thế. Đường mưa rơi lạnh buốt, ngại ngùng chân ai nhịp bước mưa ơi thấu chăng nỗi buồn. Đường về khuya thêm lạnh giá, chuyện tình xưa chưa mờ xóa. Tâm tư gởi trao một người ấm lòng nhau tiếng cười.

Ngay từ sáng tác đầu tay, ông đã chọn cho mình bút danh Hà Phương. Cái tên ấy không gắn liền với những kỷ niệm nào đó mà là ước mơ được tung hoành rài đây mai đó, hà phương hà xứ cho thỏa chí tang bồng. Mà xem ra cuộc đời của ông cũng lắm phen sóng gió, nhiều lần phiêu bạt thật. Năm 07 tuổi, từ vùng quê nghèo khó, ông đã phải theo gia đình đến Mỹ Tho sinh sống. Và rồi ông đã trải qua thời thanh niên nơi Sài Gòn hoa lệ. Có lúc ông dạy nhạc ở Long An, đôi khi lại về Bến Tre – quê hương người bạn đời của ông, hay lang thang khắp nơi chỗ vài tháng, chỗ đôi năm để rồi hiện nay ông đã về xây nhà sống hẳn tại Mỹ Tho. Có lẽ nhờ đi nhiều nơi, gặp nhiều người nên ca khúc của ông hết sức sinh động, giàu hình ảnh và luôn phập phồng hơi thở cuộc sống.

Ông viết không nhiều nhưng khá chắc tay. Hơn 30 năm sáng tác nhạc, ông chỉ trình làng khoảng trên dưới 80 ca khúc. Phần lớn ca khúc của ông viết về đề tài tình yêu, số còn lại viết về vẻ đẹp con người và vùng đất Nam bộ.

Nhiều ca khúc trữ tình mang đậm âm hưởng dân ca của ông đã được các thế hệ thanh niên đón nhận và yêu thích như: Bông điên điển, Em về miệt thứ, Hương rừng Cà Mau… Ông tâm sự: “Từ những cánh đồng lúa mênh mông, từ dòng sông, bến nước – tôi bước chân vào đời với hành trang là tiếng ru ca dao ngọt ngào, sáu câu vọng cổ, nói thơ Bạc Liêu, điệu lý, câu hò thấm đẫm lòng tôi. Đó là những gì làm cho ca khúc quê hương trữ tình mang đậm sắc thái, âm hưởng dân ca của người đất phương Nam…” Trong ca khúc của mình, ông khéo léo đưa vào nhiều câu ca dao, nhiều câu thành ngữ khiến nó trở nên gần gũi, dễ nhớ và giàu tính biểu cảm. Cho đến nay, ông vẫn là một trong số ít những nhạc sĩ gặt hái được nhiều thành công khi khai thác mảng này.

Tình yêu trong nhạc của Hà Phương thường được ông diễn tả ở những cung bậc trong sáng, mộc mạc, đôi lúc trĩu nặng nỗi buồn nhưng không sa vào bế tắc, bi lụy. Trong bài “Con sông tình yêu” ông viết: Anh ở bên này sông nhà em bên bờ đó, hai đứa ngó mặt nhau. Bờ dừa nhớ hàng cau, lao xao chiều qua ngõ, cùng chung những chuyến đò. Ngày ngày qua sông tóc bềnh bồng theo gió, em có biết có hay anh ngất ngây say áo màu bà ba trắng rung rinh vờn hoa nắng nhẹ hôn gót chân son”. Hay như: Anh dìu em về, đường về nhà em qua phiến lá xanh xao. Con đường buồn heo hút mắt em sâu. Mưa nhạt mưa nhòa, mưa đổ mưa ngâu. (bài “Mùa mưa đi qua”).

Điều đặc biệt là có rất nhiều cơn mưa và nhiều loài hoa dân dã đã đi vào nhạc của ông, chẳng hạn như: Mùa mưa đi qua, Mưa qua phố vắng, Tình trong mưa, Mưa trên cuộc tình, Chiều mưa qua sông… và rồi: Bông lục bình, Bông điên điển, Dưới giàn hoa giấy, Hai sắc hoa tigôn, Bông mua tím,… Chính vì thế mà có người đã gọi ông là Nhạc sĩ của mưa và hoa. Rất nhiều tác phẩm đã viết về những cơn mưa nhưng đã có ai nỗi cô đơn trống vắng trong một đêm mưa gió nơi tỉnh nhỏ: Trời đổ mưa cho phố vắng mênh mông, khơi lòng cao nỗi nhớ. Trời làm mưa cho ướt áo em thơ, mưa rơi từ bao giờ .Và nơi đó những đêm trời mưa gió, thấu chăng người tỉnh nhỏ nuôi nấng trong đời mối tình thời xa ấy giờ đây đường hai lối mưa gió về buồn nào nguôi. (Mưa đêm tỉnh nhỏ). Có lần ông đã tâm sự: “Ấn tượng về tình yêu dang dở dưới cơn mưa cứ tái hiện trong tiềm thức mỗi khi tôi cầm bút và ông đàn sáng tác”. Chính những cảm xúc chân thành ấy đã mang đến cho người yêu nhạc niềm đồng cảm sâu sắc. Trong khi đó, những ca khúc viết về hoa của Hà Phương lại thường được gắn với hình ảnh những người con gái mang nhiều gian truân trắc trở trong cuộc sống. Ca khúc của ông luôn thấp thoáng bóng hình của những người phụ nữ Nam bộ dịu dàng, đằm thắm chịu thương chịu khó. Đó có thể là nỗi lòng của một cô gái Tiền Giang phải theo chồng xa xứ: Từ ngày xa đất Tiền Giang, em theo anh về xứ Cạnh Đền, muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh. Em yêu anh nên đành xa xứ, xuôi ghe chèo về miệt thứ Cà Mau… (Em về miệt thứ). Đó cũng có thể là một cô gái chèo đò mà tác giả đã gặp đâu đó trên bước đường phiêu bạt: Chiều năm xưa qua đò sang sông vắng. Nghiêng bóng dừa bờ trắng cỏ lau thưa. Áo bà ba em khua chèo vượt sóng. Má em hồng soi bóng nước Cửu Long (Chiều mưa qua sông). Đó còn là hình ảnh của bà mẹ quê tần tảo, cả một đời hy sinh cho chồng con: Tháng năm dài tóc mẹ hơi sương. Mái nhà tranh ấm lạnh tình trường. Sớm hôm đời tất tả ngược xuôi. Đổi buồn gian khổ thành vui, khi thấy con nên người. (Một thời của mẹ)

Nhạc sĩ Hà Phương được nhiều người nhớ đến với ca khúc “Bông điên điển”. Bài này được ông viết vào năm 1998 và ngay sau đó đã trở thành một bài hát được nhiều người yêu thích lúc bấy giờ. Với những ca từ gần gũi, dễ hiểu và đầy cảm xúc: Chồng gần không lấy, em lấy chồng xa. Giờ đây nhớ mẹ thương cha, còn đâu mà thong thả để về nhà thăm. Xa xăm nơi chốn bưng biền, ăn bông mà điên điển nghiêng mình nhớ đất quê, chồng xa em khó mà về, ca khúc này đã đánh động vào ký ức quê hương của mọi người và để lại những ấn tượng sâu sắc.

Ông thường phổ thơ vì thế mà hầu hết ca khúc của ông đều giàu chất thơ. Ông đã phổ thơ của rất nhiều tác giả như: Cao Vũ Huy Miên, Lê Ái Siêm, Võ Tấn Cường, Nguyễn Kim, Kim Quyên… Tôi rất thích những ca từ đầy khí khái trong bài “Hương rừng Cà Mau”được Hà Phương phổ từ thơ Sơn Nam: Từ bên này sông Tiền, qua bên kia sông Hậu. Mang theo chiếc độc huyền, điệu thơ Lục Vân Tiên. Với câu chữ: Kiến nghĩa bất vi vô dỏng giã tới Cà Mau Rạch Giá cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng.

Gần 30 năm gắn bó, nhạc sĩ Hà Phương cũng có nhiều ca khúc hay viết về vùng sông nước Tiền Giang. Ca khúc “Về Tiền Giang quê em” viết chung với Anh Việt Thanh là một trong số đó. Về Tiền Giang quê hương em nghe tiếng hò đêm trăng lộng gió. Về Gò Công thăm biển Đông, con tàu tôm cá đầy. Về Trung Lương khắp nẻo đường, thơm ngát màu xanh lúa đầy bông mùa vui đã đến. Với lưu luyến tình yêu hò lan trong gió chiều.

Năm 1996, Trung tâm Băng nhạc Vafaco đã phát hành ablum riêng của nhạc sĩ Hà Phương với tên gọi Hai sắc hoa tigôn. Album này gồm 10 tình khúc quen thuộc của ông. Như vậy, Hà Phương là một trong số ít nhạc sĩ ở Tiền Giang hiện nay đã phát hành album riêng.

Không thích phô trương, không thích chạy theo những trào lưu âm nhạc thời thượng, không thích tạo áp lực cho mình bằng số lượng tác phẩm, Hà Phương là thế, cứ lặng lẽ sống giữa cuộc đời bề bộn và âm thầm viết nhạc một cách tài tử. Ông giống như một người bộ hành không lấy gì làm vội vã, cứ thong thả dạo bước trên con đường nghệ thuật. Có thể nhạc của ông không chinh phục được số đông những bạn trẻ nghe nhạc hiện nay nhưng lại bắt mạch với những ai biết hướng tâm hồn về với quê hương, nguồn cội.

Bài và ảnh: Trương Trọng Nghĩa

[footer]

Tiếng còi trong sương đêm – Lê Trực (1928-1967)

Về với dòng nhạc xưa, chúng tôi rất vui khi mỗi ngày có thêm một phát hiện thú vị. Hôm nay, thật tình cờ, [dongnhacxua.com] biết được nhạc sỹ Lê Trực của bản ‘Tiếng còi trong sương đêm’ cũng chính là nhạc sỹ Hoàng Việt của những ‘Tình ca’ hay ‘Lên ngàn’.

Nhạc sỹ Lê Trực (hay Hoàng Việt sau này) sinh ngày 26/10/1928 tại Chợ Lớn. Ông tên thật là Lê Chí Trực. Ông là con trai út và cũng là người con trai duy nhất trong một gia đình có 6 người con. Quê cha ở Bà Rịa và quê mẹ ở Cái Bè, tỉnh Tiềng Giang. Trước khi theo Việt Minh đi kháng chiến năm 19 tuổi, ông chơi nhạc ở Sài Gòn và lấy nghệ danh Lê Trực. Và có lẽ bản ‘Tiếng còi trong sương đêm’ là bản nhạc duy nhất còn lưu truyền với bút danh Lê Trực, được nhà xuất bản An Phú phát hành cuối năm 1953 đầu năm 1954. 

Nhạc sỹ Lê Trực, tức Hoàng Việt. Ảnh: TheThaoVanHoa.vn
Nhạc sỹ Lê Trực, tức Hoàng Việt. Ảnh: TheThaoVanHoa.vn

Thời gian rồi sẽ làm xóa nhòa đi ranh giới của chính kiến và bất đồng trong nhận thức nhưng chân giá trị của những bản nhạc bất hủ còn mãi. Qua bài viết này, [dongnhacxua.com] xin gởi cầu chúc đến linh hồn của nhạc sỹ Lê Trực – Hoàng Việt được bình an nơi chốn vĩnh hằng

tieng-coi-trong-suong-dem--0--le-truc--amnhacmiennam.blogspot--dongnhacxua.com
Tiếng còi trong sương đêm (Lê Trực). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

tieng-coi-trong-suong-dem--1--le-truc--amnhacmiennam.blogspot--dongnhacxua.com

[footer]

Hàn Mặc Tử (1912-1940) – Trần Thiện Thanh (1942-2005)

[dongnhacxua.com] chúng tôi vừa có chuyến ghé thăm Phan Thiết và không khỏi bùi ngùi khi chứng kiến cảnh hoang tàn và xuống cấp của địa danh “Lầu Ông Hoàng”, nơi đón bước chân của thi sỹ Hàn Mặc Tử và cũng là nơi được lưu dấu gần 50 năm nay qua nhạc phẩm ‘Hàn Mặc Tử’ bất hủ của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh. Cũng nằm trong tâm tình ghi lại những cảm xúc về nhạc xưa, chúng tôi xin mạn phép đăng lại bài viết của tác giả Duy Khiem đăng trên diễn đàn của Trung Tâm Asia

Hàn Mặc Tử (Trần Thiện Thanh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

Hàn Mặc Tử (Trần Thiện Thanh). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

han-mac-tu--1--tran-thien-thanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com han-mac-tu--2--tran-thien-thanh--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

VIẾT VỀ CA KHÚC “HÀN MẶC TỬ” CỦA TRẦN THIỆN THANH
(Nguồn: TrungTamAsia.com)

Bài hát Hàn Mặc Tử đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác vào năm 1965. Đây là một trong những ca khúc rất thành công của ông, khi kể về cuộc đời tình ái sự nghiệp của một thiên tài trong thi ca Việt Nam, là thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940).

Bài hát bắt đầu bằng các câu thơ của HMT, được ngâm lên cho đoạn dạo đầu (prélude):

Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò

Sau đó thì tác giả chuyển qua điệu nhạc Bolero :

Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa
LẦU ÔNG HOÀNG đó, thuở nao chân HÀN MẶC TỬ đã qua.
Ánh trăng treo nghiêng-nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng
Tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương
Lá rơi rơi đâu đây sao cứ ngỡ bước chân người
Tìm về giữa đêm buồn …

“Đường lên dốc đá, nhớ xưa hai người đã một lần đến
Tình yêu vừa chớm, xót xa cho chàng cuộc sống phế nhân
Tiếc thay cho thân trai, một nửa đời chưa qua hết
Trách thay cho tơ duyên, chưa thắm nồng đã vội tan
Hồn ngất ngư điên cuồng cho trời đất cũng tan thương
Mà khổ đau niềm riêng …”

Bài hát “Hàn Mặc Tử” này đã trở nên thật nổi tiếng ở Việt Nam kể từ lúc được ca sĩ Trúc Mai trình bày ở Đại nhạc hội tại rạp hát Thanh Bình, Sài Gòn vào năm 1965. Sau đó bài hát này được phổ biến rộng rãi khắp mọi nơi cho đến tận ngày hôm nay. Đi đâu cũng nghe người ta hát “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho…” từ nhà hàng, quán cà-phê, bến xe đò, bến phà, các xe bán hàng rong khắp hang cùng ngõ hẻm. Ca sĩ Trúc Mai đã bắt đầu đi hát từ năm 1959. Cô là một trong bốn ngôi sao của phòng trà Hòa Bình, gồm Bạch Yến, Bích Chiêu (chị của Khánh Hà), Thùy Nhiên và Trúc Mai. Giọng hát của cô rất ngọt ngào, đầm ấm. Cô diễn tả bài hát thật nhẹ nhàng, thoải mái như ru nhè nhẹ vào tai người nghe. Nhờ vậy mà Trúc Mai đã tiếp tục sự nghiệp ca hát của cô trong hơn ba mươi năm. Sau một thời gian dài vắng bóng, cô đã tái ngộ khán giả khắp nơi ở chương trình Paris By Night 78 “Đường Xưa” khi song ca với Phương Hồng Quế trong liên khúc “Giọt lệ đài trang”. Đến với chương trình Asia 50 để tưởng niệm Nhật Trường, ca sĩ Trúc Mai sẽ kể lại các kỷ niệm vui buồn của cô trong những năm trình diễn bài hát Hàn Mặc Tử này. Nhưng hôm nay cô không hát lại ca khúc này, mà để cho giọng ca trẻ Y Phụng ngợi ca Hàn Mặc Tử. Trước đây cũng có vài ca sĩ ở hải ngoại đã hát bài “Hàn Mặc Tử” này. Trong đó có cô ca sĩ mang hai dòng máu Việt-Mỹ là Thúy Hằng đã hát bài này đúng 6.41 phút trong CD “Thúy Hằng 3: Tình Thiên Thu” do Mây Productions sản xuất năm 1998.

Cuộc đời ngắn ngũi 28 năm của thi sĩ Hàn Mặc Tử đã được không biết bao nhiêu người nhắc đến. Từ những bài báo, tiểu thuyết, cải lương, thoại kịch, phim truyện và hiện nay ở các đài truyền hình bên Việt Nam cũng đang cho trình chiếu một bộ phim truyện vài chục tập về cuộc đời Hàn Mặc Tử. Ông đúng là một thiên tài bất hạnh trong làng thi ca Việt Nam.

Tên thật của ông là Nguyễn Trọng Trí, sanh tại làng Lệ Mỹ , Đồng Hới, Quảng Trị vào ngày 22 tháng 9 năm 1912, trong một gia đình theo đạo Công giáo. Vóc mình ốm yếu, tính tình ông hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Thân phụ ông làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở. Vì vậy, Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Pellerin Huế (1926). Năm 1930 thì Hàn Mặc Tử thôi học vào Qui Nhơn sống với mẫu thân và năm 1932 thì ông xin được việc làm ở sở Đạc Điền tại đó. Trong thời gian này ông có yêu một thiếu nữ tên là Hoàng Cúc ở gần nhà, nhưng mộng ước không thành. Người yêu theo chồng ra Huế sống. Buồn tình, năm 1935 HMT xin thôi việc vào Sài Gòn viết báo. Từ nhỏ Hàn Mặc Tử đã làm thơ đăng báo khắp nơi và ký các bút hiệu như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử (người ở sau tấm rèm lạnh: hàn là lạnh, mạc là bức rèm) và cuối cùng là Hàn Mặc Tử (anh chàng với bút mực: hàn là cây viết, mặc là mực) .

Rất nhiều người vẫn thắc mắc là Hàn Mặc Tử có tất cả bao nhiêu người yêu chính thức?

Có người từng nói rằng “thi nhân muôn đời luôn luôn là giống đa tình”, nên Hàn Mặc Tử cũng có rất nhiều người yêu và cũng có rất nhiều độc giả yêu thơ của chàng, viết thư làm quen. Trong số đó có Mộng Cầm (tức Huỳnh Thị Nghệ) là một thiếu nữ xinh đẹp từ Quảng Ngải vào và trọ học ở nhà người cậu nơi tỉnh Phan Thiết. Sau nhiều lần trao đổi thơ từ, thì họ cùng hẹn nhau để gặp mặt. Cuối tuần, Hàn Mặc Tử từ Sài Gòn đi Phan Thiết bằng xe lửa để tìm thăm Mộng Cầm. Họ đã dạo chơi khắp các thắng cảnh của Phan Thiết, trong đó có “Lầu Ông Hoàng”. Trần Thiện Thanh đã viết: “Lầu Ông Hoàng đó, thuở nao chân HMT đã qua“. Ai đã ở tỉnh Phan Thiết thì chắc cũng đã có lần nghe nhắc đến Lầu Ông Hoàng. Đó là một dinh thự to lớn, nguy nga tráng lệ, xung quanh có vườn tược, cây cảnh rất xinh đẹp và nằm trên một ngọn đồi nhìn ra biển xanh. Lâu đài này do một ông hoàng (công tước) người Pháp tên là De Montpensier mua khu đất này và xây cất lên vào năm 1911 để làm nơi nghỉ hè, vui chơi cho gia đình ông. Năm 1917 thì một doanh nhân Pháp mua lại để làm khách sạn cho du khách thuê. (Trong thời chiến tranh sau này, khu Lầu Ông Hoàng này đã bị bom đạn phá hũy hoàn toàn, nay chỉ còn cái nền cao mà thôi). Thuở xa xưa đó, những cặp tình nhân thường hẹn hò nhau đến khu vực này để ngắm cảnh và tâm tình với nhau nơi các băng ghế đá xung quanh vườn, nhứt là trong những đêm trăng sáng. Qua Mộng Cầm, HMT làm quen với cậu của nàng là Thi sĩ Bích Khê (1916-1946) và hai chàng thi sĩ này trở nên thân nhau như tri kỷ. Cuối tuần nào HMT cũng tới ở trọ nhà Bích Khê và hẹn gặp Mộng Cầm (Mộng Cầm ở trọ nhà một người cậu khác). Thời gian đó, không rõ vì lý do gì mà HMT bị bịnh phong cùi (leprosy), hai vành tai ửng đỏ, ngứa ngái khắp nơi. Tuy vẫn thơ từ qua lại, nhưng Mộng Cầm lãng tránh dần thi sĩ, ít khi hò hẹn với nhau. Hàn Mặc Tử âm thầm tìm thầy chạy chửa thuốc men, bịnh tình cũng thuyên giảm dần dần, và thi sĩ vẫn tiếp tục làm thơ, viết báo ở Sài Gòn.

Nhưng qua năm 1938, căn bịnh quái ác này trở nên nặng hơn, nên thi sĩ bèn quay về Qui Nhơn thuê một căn nhà nhỏ trên đồi, sống biệt lập cách xa thành phố, tuyệt giao với tất cả bạn bè. Hàng ngày có một tiểu đồng về nhà mẹ của HMT gần đó lãnh cơm nước, thuốc men đem đến cho chàng. Trần Thiện Thanh đã viết:

HÀN MẶC TỬ xuôi về quê cũ dấu thân nơi nhà hoang,
MỘNG CẦM hởi thôi đừng thương tiếc tủi cho nhau mà thôi,
Tình đã lỡ xin một câu hứa kiếp sau ta trọn đôi,
Còn gì nữa thân tàn xin để một mình mình đơn côi
.”

Từ khi phát bịnh, cơ thể đau nhức đến phát điên, nhứt là vào những đêm trăng sáng. Hàn Mặc Tử lại càng làm thơ hay hơn, như những câu thơ mà Trần Thiện Thanh đã phổ nhạc:

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò

Bao giờ đậu trạng, vinh quy đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ

Không, không, không ! Tôi chẳng bán hòn trăng
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt là anh dại quá
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang ?”

Có đêm ông nằm mơ thấy Đức Mẹ hiện về, nên ông đã viết bài “Thánh nữ Đồng Trinh” để tạ ơn:

Maria! Linh hồn con ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến…

Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước
Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn trong mạch máu
Cho vỡ lở cả muôn ngàn tinh đẩu
Cho đê mê âm nhạc và thanh hương

Sẽ ngây ngất bởi chưng thơ đầy ứ
Nguồn Thiêng liêng yêu chuộng Mẹ Sầu Bi
..”

Trong lúc cô đơn, tuyệt vọng chán chường, thi sĩ lại nhận được tin Mộng Cầm đi lấy chồng, nên HMT lại càng đau khổ hơn:

Trời hởi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẳn làm sao ăn ?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phụ phàng
?”

Trần Thiện Thanh đã viết lời ca:

Tìm vào cô đơn, đất Qui nhơn gầy đón chân chàng đến.
Người xưa nào biết chốn xưa ngập đường pháo cưới kết hoa,
Chốn hoang liêu tiêu sơ HÀN âm thầm nghe trăng vỡ
.”

Hình như cái bịnh phong cùi này thường làm cho Hàn Mặc Tử đau đớn nhiều hơn trong những đêm có trăng. Thi sĩ đã thức trọn đêm để làm thơ:

Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột
Gió làm nên tội buổi chia phôi

Có lúc thi sĩ Bích Khê ghé thăm, thấy HMT buồn, nên giới thiệu chàng làm quen với người chị của BK là Lê Thị Ngọc Sương (tức là dì ruột của Mộng Cầm) để hai người thơ từ qua lại. HMT đã làm liền một bài thơ sau khi nhìn vào tấm ảnh của Ngọc Sương:

Ta đề chữ NGỌC trên tàu chuối
SƯƠNG ở cung thiềm nhỏ chẳng thôi
Tình ta khuấy mãi không thành khối
Nư giận đòi phen cắn phải môi

Đây chỉ là một mối tình đơn phương, vì Ngọc Sương không hề yêu HMT nhưng cô cũng khiến thi sĩ sáng tác được nhiều bài thơ hay. Lúc đó lại có nữ thi sĩ Mai Đình (tên thật Lê Thị Mai) yêu HMT tha thiết, tình nguyện đến ở bên chàng săn sóc, lo thuốc men. Nhưng thi sĩ đã từ chối và chỉ tiếp chuyện với cô được vài lần. Tuy vậy HMT cũng đã làm những bài thơ trong đó có câu:

Đây MAI ĐÌNH tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt …
Nàng, ôm nàng hai tay ta ghì chặt
Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay
Ta là người uống muôn hận sầu cay
Nàng là mật của muôn tuần trăng mật
…”

Thơ từ qua lại với Mai Đình trong hai năm (1938-1939) rồi HMT tuyệt giao. Có lúc tưởng như bớt bịnh, bạn bè đến thăm, lại mang thơ độc giả ái mộ cho HMT xem (1940). Trong đó có một nữ sinh trung học tên Thương Thương đã làm cho HMT cảm động, và thi sĩ lại tìm được tình yêu trong mộng, như:

Sầu lên cho tới ngàn khơi
Ai lau ráo lệ cho lời nói ra
chiều nay tàn tạ hồn hoa
nhớ THƯƠNG THƯƠNG quá, xót xa tâm bào
…”

Gần cuối năm 1940, căn bịnh của HMT trở nên nặng hơn. Gia đình đành phải đưa ông vào nhà thương phung cùi Qui Hòa, cách Qui Nhơn 5 cây số, nơi có các dì phước người Pháp săn sóc cho bịnh nhân. Lúc này thi sĩ đã bớt điên loạn và dần dần chấp nhận cái chết gần kề. Ông đã mơ ước:

Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương, anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm
!”

Ông luôn luôn nhớ đến Phan Thiết, nhớ đến Mộng Cầm và những kỷ niệm thời hoa bướm ngày xưa. Thi sĩ đã viết những câu thơ dưới đây như những lời trăn trối sau cùng trong đớn đau tuyệt vọng:
‘…
Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu Ông-Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương tha thiết

Ôi ! Trời ơi ! là Phan Thiết ! Phan Thiết !
Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi
Ta đến nơi : nàng ấy vắng lâu rồi !
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ !

Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

Ta vãi tung thơ lên tận cung Hằng
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết.
Hỡi Phan Thiết ! Phan Thiết !
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư !”

Rời túp lều hoang không đầy hai tháng, thì Hàn Mặc Tử yếu dần và tạ thế tại nhà thương Qui Hòa, ngày 11 tháng 11 năm 1940. Được tin ông mất, các tờ báo trên khắp nước đã viết bài, đăng tin, ra số đặc biệt tưởng niệm thi sĩ tài hoa nhưng bất hạnh này. Bạn bè, người yêu, độc giả khắp nơi đều thương tiếc, nhưng không một ai đến đưa đám tang thi sĩ HMT. Trần Thiện Thanh đã kết thúc bài hát Hàn Mặc Tử bằng:

Xót thương thân bơ vơ cho đến một buổi chiều kia
Trời đất như quay cuồng khi hồn phách vút lên cao
MẶC TỬ nay còn đâu
!

Trăng vàng ngọc trăng ân tình chưa phỉ
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng
!…”

Khi sáng tác ca khúc “Hàn Mặc Tử” này cách đây đúng 40 năm (1965-2005), có lẽ nhạc sĩ Trần Thiện Thanh không ngờ rằng sau này cuộc đời ông cũng có nhiều điểm giống như thi sĩ tài hoa bạc mệnh này. Nơi tỉnh nhà Phan Thiết, từ nhỏ Trần Thiện Thanh đã cùng bạn bè dạo chơi ở những nơi mà ngày xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm từng in dấu. Nên ông đã viết: “Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa, Lầu ông Hoàng đó, thuở nao chân HMT đã qua”.
Vào Sài Gòn lập nghiệp, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã mang theo ông những kỷ niệm này và sáng tác nên “Hàn Mặc Tử”. Trong khoảng thời gian bắt đầu ca hát và viết nhạc từ năm 1958 cho đến năm 1975, ca sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh đã cống hiến cho đời những lời ca tiếng nhạc thật tuyệt vời. Tên tuổi và danh vọng của ông đã sáng rực lên khắp mọi nơi. Đã có không biết bao nhiêu thiếu nữ, khán giả ở mọi lứa tuổi yêu nhạc và yêu thương ông tha thiết. Nhưng kể từ sau năm 1975, thì sự nghiệp của ông dần dần đi xuống, kể cả khi ra hải ngoại, những sáng tác mới của ông cũng không còn xuất sắc được như ngày xưa. Cuối cùng thì ông lại mắc phải một chứng bịnh nan y là ung thư phổi. Những tháng ngày cuối cùng của ông thật là cô đơn, hiu quạnh. Đâu còn thấy lại “ánh đèn sân khấu”, đâu còn thấy lại những khán giả thân thương, những bạn bè xưa, người yêu cũ. Ngay cả bà mẹ già 82 tuổi và cô em gái Như Thủy trong ban Tứ ca Nhật Trường ngày xưa, những đứa con, đứa cháu của ông vẫn còn ở bên Việt Nam nghìn trùng xa cách. Những tuần lễ sau cùng, khi đã tuyệt vọng, ông không chịu nằm trong bịnh viện mà muốn trở về nằm nghỉ nơi nhà riêng. Bên cạnh ông trong giờ hấp hối chỉ có người vợ sau là ca sĩ Mỹ Lan và đứa con trai út mới vừa 3 tuổi, tên là Trần Thiện Anh Chí. Ông đã ra đi trong âm thầm lặng lẽ sau mấy tháng chịu nhiều đau đớn, dày vò vì căn bịnh quái ác này. Cho đến ngày 13-5-2005 thì “trời đất như quay cuồng, khi hồn phách vút lên cao”. Trần Thiện Thanh đã thực sự vĩnh biệt chúng ta khi vừa đúng 62 tuổi đời, là cái tuổi vẫn còn rất trẻ trên đất tạm dung Hoa Kỳ.

*Tài liệu tham khảo để viết bài này:

-Tuyển tập nhạc “Bao giờ anh quên” (25 tác phẩm TTT)
-CD nhạc Thúy Hằng 3 : “Tình Thiên Thu”, Mây Productions, USA, 1998
-Theo chân những tiếng hát, Hồ Trường An, Hoa Kỳ, 1998
-Hàn Mạc Tử (thân thế & thi văn), Trần Thanh Mại, Tân Việt, 1957
-Đôi nét về Hàn Mặc Tử, hồi ký Quách Tấn, Quê Mẹ, Paris, 1988
-Văn Thi sĩ tiền chiến, Nguyễn Vỹ, Khai Trí, Saigon, 1969
-Thơ Hàn Mặc Tử, Sở văn hóa thông tin Nghĩa Bình, 1988
-Website : http:// vietlove.com (viết về Nhật Trường).
-Website : http:// phanthiet.com (di tích, thắng cảnh)

DK (25.3.2006)

[footer]

Cô bắc kỳ nho nhỏ (Phạm Duy – Nguyễn Tất Nhiên)

Trong một bài viết về nhạc phẩm ‘Thà Như Giọt Mưa’ của Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên, [dongnhacxua.com] có đề cập đến một nguyên mẫu của ‘Duyên’ ngoài đời là cô Bùi Thị Duyên, cựu học sinh Ngô Quyền, Biên Hòa ngày xưa. Hôm nay chúng tôi lại có cái ‘duyên’ được thêm thông tin về năm tháng Nguyễn Tất Nhiên còn đi học và nhất là biết được ai là “Cô bắc kỳ nho nhỏ”, một sáng tác khác mà Phạm Duy cũng phổ thơ của Nguyễn Tất Nhiên.

 

 

Cô bắc kỳ nho nhỏ. Phạm Duy - Nguyễn Tất Nhiên. Ảnh: QuanNhacVang.com
Cô bắc kỳ nho nhỏ. Phạm Duy – Nguyễn Tất Nhiên. Ảnh: QuanNhacVang.com

co-bac-ky-nho-nho--2--pham-duy--nguyen-tat-nhien--quannhacvang--dongnhacxua.com

MỘT CÁI NHÌN KHÁM PHÁ MỚI VỀ NGUYỄN TẤT NHIÊN
(Nguồn: tác giả Người Xứ Bưởi đăng trên Ngo-Quyen.org)

Thi sỹ Nguyễn Tất Nhiên. Ảnh: ngo-quyen.org
Thi sỹ Nguyễn Tất Nhiên. Ảnh: ngo-quyen.org

 

Biên Hòa có gì ”đặc biệt” không … ?

Nhớ lại mùa hè cách nay đúng 36 năm, giới trẻ sinh viên học sinh VN có làm Đại Hội Thể Thao Âu Châu ngay tại thành phố Stuttgart / xứ Đức. Đêm về khuya, một nhóm nhỏ gốc Hướng Đạo có sáng kiến làm lửa trại “bỏ túi” để sinh hoạt làm quen với nhau. Tới màn tự giới thiệu, người viết vừa mới nói là dân Biên Hòa, thế là bị cắt lời ngay bằng lao nhao những lời “hỏi thăm“:

Học trường Ngô Quyền phải không ?

Bưởi Biên Hòa ngon lắm đó!

Nhà Thương Điên cũng “hết xẩy” luôn!

Một cô khá “mi nhon” liền tự nhiên đứng lên hát một đoạn bản nhạc Thà Như Giọt Mưa và sau đó “lên mặt” hỏi trỏng có quen biết Nguyễn Tất Nhiên không và “dung nhan” của Cô Bắc kỳ nho nhỏ tên Duyên ra sao? Lúc đó trước mặt bạn bè làm sao tôi dám “can đảm tiết lộ” đã học cùng khóa 8 với Nguyễn Tất Nhiên tại trường Ngô Quyền, học cùng thời bậc tiểu học với Duyên và nhứt là trước năm 1975, gia đình ba má tôi & ba má Duyên là láng giềng ở cách nhau một căn nhà trong một “xóm Bắc kỳ nho nhỏ” tại cuối đường dốc tòa án Lê Văn Duyệt (sau đổi là Bùi Văn Hòa). Tại trong bụng sợ mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ” nên đành nín khe chịu thua luôn.

Câu chuyện tình cờ này cho thấy thơ Nguyễn Tất Nhiên được giới trẻ lúc đó biết rất nhiều và đôi khi đã biến thành biểu tượng đặc biệt cho tỉnh Biên Hòa & trường Ngô Quyền. Bởi nổi tiếng như vậy nên đã có nhiều huyền thoại không phù hợp sự thực được đưa ra. Trong văn học tại các quốc gia tiền tiến Tây Phương thì họ giải quyết rốt ráo không chấp nhận những chi tiết huyền thoại sai sự thực trong tiểu sử tác giả liên hệ. Cho nên hồi năm 2007, người viết có đề nghị trang web trường Ngô Quyền mở rộng & thêm mục Thư Quán Nguyễn Tất Nhiên để lưu trữ toàn bộ di sản văn học liên hệ và làm sáng tỏ những chi tiết không đúng sự thực có liên quan đến nhà thơ nổi tiếng này. Từ đó trang web trường Ngô Quyền có thêm mục Thư Quán Nguyễn Tất Nhiên và được phụ trách bởi nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thủy (cũng là người bạn đời hôn phối duy nhứt của Nguyễn Tất Nhiên). Nhờ vậy, trong đó đã xuất phát những cải chính cấp thời bảo vệ hữu hiệu danh dự cho Nguyễn Tất Nhiên, khi nhà thơ Du Tư Lê vào năm 2010 đã viết báo nói xấu & mạo nhận là người nghĩ ra giùm bút hiệu cho Nguyễn Tất Nhiên.

Trong khuôn khổ giới hạn, bài viết ở đây bàn đến vài điểm trong Một cái nhìn khám phá  mới về Nguyễn Tất Nhiên.

1) Ai mới chính đích thực là “Cô Bắc kỳ nho nhỏ” của Nguyễn Tất Nhiên?

Xứ bưởi Biên Hòa nổi tiếng là cái nôi thơ văn miền Nam. Được biết nhiều nhứt trong giới làm thơ tại đây từ trước đến nay chính là người học trò Nguyễn Tất Nhiên với “Cô Bắc kỳ nho nhỏ“:

Đôi mắt tròn, đen, như búp bế

Cô đã nhìn anh rất… Bắc kỳ

Anh vái trời cho cô dễ dạy

Để anh đừng uổng mớ tình si

 …..

Anh chắc rằng cô sinh trong Nam

Cảnh tượng di cư chắc lạ lùng

 

Thuở còn học ở Ngô Quyền, đám học trò chúng tôi may mắn được nhiều Thầy Cô thiệt giỏi như Thầy Đoàn Viết Biên, Cô Đặng Thị Trí, Cô Vương Chân Phương, Cô Đinh Thị Hòa…  “truyền nghề” cho môn Quốc Văn. Trong đó có phương pháp tổng hợp để tìm thấy những sự thực liên quan đến tác giả qua:

a) phân tích kỹ mọi dữ kiện chứa đựng trong các tác phẩm.

b) sưu tầm tin tức qua những cá nhân thân cận & quen biết với tác giả.

c) nghiên cứu về hoàn cảnh của tác giả, sẽ thấy tác phẩm ra đời với hậu ý gì?

Trong lãnh vực nghiên cứu văn học, đôi khi một vài dữ kiện tuy nhỏ nhoi trong tác phẩm lại dẫn đến khám phá sự thực bất ngờ. Điển hình là trong dự án chuyển dịch bộ Luật Hồng Đức (tên chính thức là  Quốc Triều Hình Luật) của Đại học Harvard vào năm 1984 quy tụ nhiều học giả Việt Mỹ đã tình cờ khám phá ra tác giả đích thực soạn ra bộ luật nổi tiếng này chính là thiên tài Nguyễn Trãi (cũng là tác giả của Bình Ngô Đại Cáo). Trong đó, học giả Nguyễn Ngọc Huy đã có sáng kiến nghiên cứu kỹ vấn đề kỵ húy (kiêng kỵ tên húy của vua) để phát giác ra bản văn bộ Luật Hồng Đức chắc chắn được soạn trước thời vua Lê Thánh Tôn (Hồng Đức) lúc mà thiên tài Nguyễn Trãi còn sống chịu trách nhiệm điều hành.

Áp dụng vào trường hợp Nguyễn Tất Nhiên, chúng tôi đã phát hiện thấy là phần lớn các bài viết và dư luận đã… lầm và sai, khi cho rằng nhân vật “Cô Bắc kỳ nho nhỏ ” chính là cô bạn học cùng lớp tên Duyên (Bùi Thị Duyên). Bởi lẽ, họ không nắm vững những chi tiết liên hệ:

a) Nguyễn Hoàng Hải (tên thật của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên) và Duyên học cùng lớp cùng sinh năm Nhâm Thìn 1952, mà cuộc di cư xảy vào năm 1954. Như vậy quá rõ ràng Nguyễn Tất Nhiên muốn ám chỉ vào một người con gái khác trẻ tuổi hơn nhiều (sinh sau năm di cư 1954!) và khi muốn bắt chuyện làm quen vào năm 1973 bèn đong đưa với câu “Anh chắc rằng cô sinh trong Nam. Cảnh tượng di cư chắc lạ lùng“. Điều này không gì lạ, vì thi sĩ vốn nòi đa tình, nên trong tác phẩm Nguyễn Tất Nhiên xuất hiện nhiều bóng hồng khác nữa chớ không phải chỉ có “một người mang tên Duyên“.

b) Trong bài phỏng vấn tuần báo Tuổi Ngọc số 141 vào ngày 5.8.1974, Nguyễn Tất Nhiên đã trả lời gián tiếp xác nhận chuyện này:

Tuổi Ngọc: Cuối cùng, Nguyễn Tất Nhiên, bạn còn muốn nói thêm gì chăng?

Nguyễn Tất Nhiên: Có lẽ, nên thôi. Bởi tôi sắp sửa đề cập tới nàng con gái khác, trong bài “Hai năm tình lận đận” . Nàng con gái khác nữa, trong bài “Cô Bắc kỳ nho nhỏ”.

c) Nguyễn Tất Nhiên đã tả điểm đặc biệt về Cô Bắc kỳ nho nhỏ như sau: 

Cô Bắc kỳ nho nhỏ

tóc “demi-garcon”

cười ngây thơ hết nụ

…..

mắt như trời bao dung

Kiểu tóc “demi-garcon” đặc biệt này không thể tìm thấy ở hình ảnh thuở xưa ở các nhân vật nữ mà Nguyễn Tất Nhiên từng theo đuổi làm thơ gửi tặng như chs-NQ Bùi Thị Duyên (tóc xõa đến bờ vai), nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thủy (tóc thắt bím)… (xem hình ảnh phía dưới

Tố Hoa & Bùi Thị Duyên. Ảnh: ngo-quyen.org
Tố Hoa & Bùi Thị Duyên. Ảnh: ngo-quyen.org

 

Ngọc Dung và Minh Thủy (1972). Ảnh: ngo-quyen.org
Ngọc Dung và Minh Thủy (1972). Ảnh: ngo-quyen.org

Phân tích trên đã được đăng tải trên Tuyển Tập Ngô Quyền năm 2006 và lúc đó thực sự chúng tôi không biết rõ tên tuổi đích thực của Cô Bắc kỳ nho nhỏ, bởi lẽ chúng tôi tiếp tục qua Âu Châu du học từ năm 1971, nên không rõ nhiều về “diễn tiến” tại Biên Hòa.

Dĩ nhiên đã gợi trong lòng “tò mò” vô cùng khi thấy Nguyễn Tất Nhiên vào năm 1972 làm bài thơ Duyên Của Tình Ta Con Gái Bắc với những lời lẽ “nặng nề” chê gái Bắc “nhớ duyên dáng ngây thơ… mà xảo quyệt” . Rồi thật bất ngờ chỉ một năm sau 1973, Nguyễn Tất Nhiên lại gặp một nàng con gái bắc khác nhỏ tuổi hơn nhiều, để sáng tác được bài thơ độc đáo Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ . Vậy, nhân vật nữ “đặc biệt” này là ai đã có sức mạnh ghê gớm khiến Nguyễn Tất Nhiên chạy theo “mê tình” đến nổi gạt bỏ mọi thành kiến xấu “gái bắc” trước đó một năm.

Để giải đáp được ẩn số này, chúng tôi đành sưu tầm tin tức qua những cá nhân thân cận & quen biết với tác giả. Trong đó có nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thủy, nhà thơ Tưởng Dung (bạn học thân thiết nhứt của Minh Thủy), Cô giáo Ma Thị Ngọc Huệ và một số bạn bè thân ở trong & ngoài nước. Rất ngạc nhiên là phần lớn họ đều biết rõ chuyện nội bộ này và xác nhận cho biết Cô Bắc kỳ nho nhỏ với tóc “demi-garcon” chính là một nữ sinh trường Ngô Quyền tên là Hoàng Thị Kim Oanh. Nên nhớ Nguyễn Tất Nhiên cũng từng sáng tác một bài thơ có tựa đề “Oanh“, mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài Hãy Yêu Chàng:

 Oanh

 Hãy yêu chàng, yêu chàng như yêu dòng sông

Ngậm ánh trăng non bàng bạc đêm rằm

…..

Chơi giỡn tung tăng hai vạt áo dài

Gió đưa mây về, trời mưa, bong bóng vỡ

Từ Biên Hòa, bạn bè lại cho biết rõ thêm chi tiết về chs-NQ Hoàng Thị Kim Oanh, sinh năm 1955 (học khóa 12 trường Ngô Quyền / Biên Hòa, sống khép kín, hiền lành, ít giao tiếp và rất xinh), có người chị tên là Hoàng Thị Thúy Liễu (Ngô Quyền khóa 8) và người chị khác nổi tiếng hơn tên là Hoàng Thị Lý (Ngô Quyền khóa 5, còn được gọi là Chị Lý Ca Dao vì có quán cà phê Ca Dao tại Ngã Ba Vườn Mít và là nơi tụ tập giới học sinh NQ trong đó có cả Nguyễn Tất Nhiên). Hiện nay, họ vẫn còn cư ngụ ở địa chỉ cũ tại Biên Hòa. Kim Oanh nhỏ hơn Nguyễn Tất Nhiên đến 3 tuổi, chính vì thế thân mẫu của nhà thơ mới nhận xét là “còn nhỏ dại“.  Sự thực này mới giải thích thỏa đáng toàn bộ bài thơ tâm sự sau đây của Nguyễn Tất Nhiên:

 Chỗ tôi

 tôi có chỉ cho gia đình

người tôi yêu

là một nàng con gái bắc

mẹ tôi hai lần nhìn

dáng em đi

và nói nó còn nhỏ dại

không hiểu nó thương mày chỗ nào

tôi trả lời chỗ con làm thi sĩ

tuy nhiên tôi vừa đau nhói trái tim

vì hiểu rằng

muôn đời

em vẫn ngó tôi nửa mắt

có gì đâu

thiên hạ lâu nay cứ nhạo báng tôi khùng!

Có lẽ đây là bài thơ “duy nhứt” của Nguyễn Tất Nhiên đã “lột trần” mặc cảm tâm lý: rất muốn “yêu” con gái Bắc dù trong lòng biết rõ chỉ “đơn phương” mà thôi và chỉ được họ “ngó nửa con mắt“. Kể cả Cô Bắc kỳ nho nhỏ mang tên Kim Oanh!.

2) Nguyễn Tất Nhiên có thực sự bị bịnh điên hay không ?

Một số dư luận cho rằng Nguyễn Tất Nhiên là một nhà thơ điên.

a) Về phía Nhạc sĩ Phạm Duy có cho biết:

“Đi qua đời tôi có khá nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ, đa số đều như tôi, đều khá hồn nhiên, nghĩa là có tí máu điên. Nhưng trong làng thơ Việt Nam, có ba nhà thơ hồn nhiên nhất, đó là Nguyễn Ngu Ý, Bùi Giáng, và Nguyễn Tất Nhiên… cả  ba vị đều đã  từng là thượng khách của Dưỡng trí Viện Biên Hòa, nơi tôi đã có lần đến thăm một trong ba vị đó..”

b) Còn về phía Giáo sư Nguyễn văn Lục trong bài viết Hãy Để Thi Ca Và Âm Nhạc Cùng Cất Cánh Bay Lên đưa ra nhận xét :

“Số phận dành cho thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên cũng là số phận dành cho nhiều nhà thơ nổi tiếng khác. Hình như bệnh tật đi đôi với tài năng, ngay cả trường hợp đối với những người mất trí. Theo những thí nghiệm bệnh lý học, người bệnh trí nhìn vũ trụ như tan vỡ và bị tán vụn. Chính vì thân thể của họ không còn là một thân thể tri giác bình thường.”

Trên thực tế là Nguyễn Ngu Ý, Bùi Giáng có điều trị… thiệt ở nhà thương điên Biên Hòa. Lời thơ của Bùi Giáng quả là… không bình thường. Còn Nguyễn Tất Nhiên thì hoàn toàn khác: chưa bao giờ bị điều trị ở Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Nhiều người ở Biên Hòa (trong đó có nhà thơ Tưởng Dung được biết trực tiếp) hiểu rõ vì muốn được hoãn dịch, Nguyễn Tất Nhiên phải đóng kịch… giả điên tại Trung Tâm 3 Quang Trung. Trong một truyện ngắn, Nguyễn Tất Nhiên tiết lộ về lý do hoãn dịch là sau đó có được giấy chứng nhận của bác sĩ về bịnh “tâm thần” để khỏi đi lính. Được biết, mánh lới hoãn dịch này đã được dùng tới khá nhiều trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt lúc đó. Khách quan mà nói Nguyễn Tất Nhiên không bị bịnh điên, mà trái lại đã tỏ ra rất tỉnh táo & khôn ngoan dám hăm dọa kiện và lấy được tiền bồi thường trong vụ án tranh chấp bản quyền có liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy. Những người điên thật như Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Ý… làm gì có cái khôn ngoan đó để kiện lấy được tiền bản quyền.

Chi tiết do Phạm Duy đưa ra hoàn toàn phóng đại, sai và có thể gây lầm lẫn tai hại lớn cho những nhận định văn học sau này về Nguyễn Tất Nhiên. Sự thực những dòng thơ tình học trò độc đáo của Nguyễn Tất Nhiên không “có tí máu điên ” nào cả và chính như vậy mới xứng đáng được ca ngợi & quý mến của biết bao nhiêu người hâm mộ.

Nhưng chắc chắn Nguyễn Tất Nhiên có máu “lập dị“, đôi khi cũng hơi… “tửng tửng” khác thường. Cho nên mới bị bạn bè chọc ghẹo với biệt hiệu là “ngáo” là “khùng“. Bởi vậy, ngay trong giờ Việt Văn của Cô Vương Chân Phương tại trường Ngô Quyền, Nguyễn Tất Nhiên mới 15 tuổi đã dám phê bình… chê thơ Nguyễn Du (tâm lý ngựa non háo đá!). Nhưng xét cho cùng, nếu phải làm loại thơ tình học trò chắc gì thi hào Nguyễn Du thắng nổi Nguyễn Tất Nhiên, bởi lẽ Nguyễn Tất Nhiên có đặc điểm nổi bật “viết dễ dàng giống như nói chuyện “.

3) Ai đã tạo ra 2 huyền thoại kể trên?

Thông thường huyền thoại được cố ý tạo dựng ra với chủ đích đằng sau. Xét kỹ ra cả hai huyền thoại kể trên được nhạc sĩ Phạm Duy chủ động qua những tiết lộ từ chính bản thân như sau:

“Saigon 1972. Ðây là lúc những khổ đau của Tết Mậu Thân chưa kịp phai mờ trong đời sống của mọi người thì xẩy ra những nhức nhối của mùa hè đỏ lửa… Tôi hết chạy trốn vào đạo ca thì lại nhào ra với chiến ca, hết hạ mình xuống với vỉa hè ca, tục ca thì lại vươn lên với nữ ca, bé ca, bình ca… Tôi thèm thuồng được soạn tình ca, nhưng phải là tình ca không rầu rĩ cơ… Thế rồi tôi gặp Nguyễn Tất Nhiên. Trong bầu không khí thơ ở miền Nam hơi nặng nề vào lúc đó, đầy rẫy những bài thơ chủ đề về chiến tranh, hòa bình… thì thơ của chàng thư sinh mới 17 tuổi này là thơ phi chính trị. Thơ rất hồn nhiên, rất ngộ nghĩnh, theo tôi, nếu đem phổ nhạc thì sẽ cũng sẽ rất hợp với giọng hát trẻ trung (Duy Quang) trong ban nhạc gia đình là ban THE DREAMERS mà tôi đang cần ”lăng xê ”. Sau khi tôi phổ bài Thà Như Giọt Mưa Rớt Trên Tượng Ðá, Nguyễn Tất Nhiên cung cấp cho tôi thêm nhiều bài thơ để tôi biến thành những ca khúc trẻ trung của thời đại như Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ, Em Hiền Như Ma Soeur, Anh Vái Trời hay là Anh Nam Kỳ Dễ Thương, Hãy Yêu Chàng, Hai Năm Tình Lận Ðận… Những tên bài hát phần nhiều do tôi đặt ra…”

Những chi tiết trên cho thấy nhạc sĩ Phạm Duy lúc đó rõ ràng đã bị kẹt đề tài sáng tác nên mới tìm kiếm đến thơ Nguyễn Tất Nhiên đang trên đà nổi tiếng qua 2 bài thơ được nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đầu tiên phổ nhạc. Đó là bản Thiên Thu và bản Vì Tôi Là Linh Mục. Nhạc sĩ Phạm Duy “phù thủy” hơn nên đã cố tình sửa đổi thêm vào để quảng cáo thành công lớn về thương mại. Điển hình nhứt so sánh trong bài thơ Khúc Tình Buồn không hề có nhân vật nữ tên Duyên, nhưng trong bài hát phổ nhạc thì được Phạm Duy đặc biệt thêm vào. Nhứt là bi thảm hóa qua 2 câu hát cuối: “Khiến người trăm năm đau khổ ăn năn. Khiến người tên DUYÊN đau khổ muôn niên“.

Tương tự trong mục tiêu đó, Phạm Duy đã viết tung tin phóng đại cho rằng Nguyễn Tất Nhiên có nhiều máu điên nhất và cùng với Nguyễn Ngu Ý, Bùi Giáng điều trị tại Nhà Thương Điên Biên Hòa để tạo một huyền thoại bi thảm khác thường… mà sự thực chuyện đó không hề bao giờ có.

4) Ai đã khám phá ra tài năng và tạo cơ hội cho Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng?

Dư luận thường cho rằng chính Phạm Duy đã khám phá ra tài năng và chất thơ “rất hồn nhiên, rất ngộ nghĩnh” của Nguyễn Tất Nhiên rồi mới quyết định phổ nhạc. Nhưng trên thực tế, Nguyễn Tất Nhiên – qua lời thuật lại của nhà thơ Nguyễn Thị Minh Thủy –  đã liệt kê thứ tự các bài thơ được phổ nhạc như sau:

– Thiên thu (Nguyễn Đức Quang)

– Vì tôi là linh mục (Nguyễn Đức Quang)

– Thà Như Giọt Mưa (Phạm Duy)

– Hãy yêu chàng (Phạm Duy)

– Em hiền như ma soeur (Phạm Duy)

– Hai năm tình lận đận (Phạm Duy)

– Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ (Phạm Duy)

Bài hát Thiên Thu được phổ biến trên internet có đề là năm 1970 phát hành tại Sài Gòn. Điều này cho thấy nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã khám phá thấy ngay tài năng làm thơ của Nguyễn Tất Nhiên qua tập thơ Thiên Tai (1970) và chọn bài thơ “Thiên Thu” nằm ở trang cuối cùng trong tập thơ đó để phổ nhạc. Nhà thơ Tưởng Dung trong bài viết “Sao thiên thu không là…” cũng có cùng nhận xét về bài thơ đó: “rất thích ngay lần đầu đọc thơ anh, bấy giờ sao mà thấm thía“.  Kế đến, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ nhạc bài Vì Tôi Là Linh Mục, mà chính Nguyễn Tất Nhiên xem là bài thơ ưng ý nhứt. Chính những dòng thơ được phổ nhạc đầu tiên này đã dễ lan truyền trong giới hâm mộ thơ nhạc và khiến các nhạc sĩ nổi tiếng nhứt thời đó như Phạm Duy, Anh Bằng… phải tò mò chú ý và đến nổi “động lòng” đua nhau tiếp tay phổ nhạc các bài tình ca khác dễ “ăn khách” hơn.

Như vậy, khách quan mà nói trong thời gian ”còn lận đận” chưa ai biết đến, Nguyễn Tất Nhiên gặp được một tri kỹ khám phá & tận tình phổ nhạc mà không có hậu ý thương mại nào. Đó là nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944 – 2010), một nhân tài VN sống phục vụ lý tưởng Hướng Đạo cho đến tận cuối đời. Còn về phía nhạc sĩ Phạm Duy mãi đến 2 năm sau mới nhìn thấy chân tài của Nguyễn Tất Nhiên và “phải” phổ nhạc những vần thơ đó chỉ vì mục đích tư lợi như từng thố lộ ở phần  trên. Qua đó cũng bộc lộ rõ bản chất ích kỷ suốt đời sống bất chấp đạo đức & dư luận của Phạm Duy, mà chúng ta ai cũng đã từng chứng kiến trong quá khứ.

Ngẫm nghĩ lại, Chúa Jesus há chẳng từng nói “Của Ceasar hãy trả lại cho Ceasar” với hàm ý rằng không ai có thể che lấp mãi về sự thực, rồi thì cũng có lúc sự thực sẽ lộ dạng. Cho nên hãy cùng nhau góp phần nhanh chóng trả lại Sự Thực cho Nguyễn Tất Nhiên để giúp linh hồn của nhà thơ yểu mạng này được cứu rỗi & mãn nguyện bên kia thế giới.

5 ) Tại sao thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã lôi cuốn được tuổi trẻ?

Thơ của Nguyễn Tất Nhiên lôi cuốn tuổi trẻ… mới lớn vì thể hiện tâm tình và vần điệu rất học trò. Những dòng thơ quá si tình đánh đúng vào “tim đen” của đại đa số đã từng một thời đơn phương ôm ấp một hình ảnh vượt quá tầm tay và đến nỗi:

Thà như giọt mưa

Khô trên tượng đá

Có còn hơn không

Thơ  Nguyễn Tất Nhiên thể hiện rất… nhân bản. Lúc mê thích thì vội vã ca tụng, để rồi lúc tỉnh mộng “uổng mớ tình si” thấy sự thực vào năm 1972 thì đâm ra “bôi lọ”:

Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền

Nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang

Nhớ duyên dáng ngây thơ… mà xảo quyệt

Nhưng chỉ thời gian ngắn sau đó… hối hận sáng tác bài thơ “Tạ lỗi cùng người ” thú nhận “lỗi lầm” của mình:

Năm năm trời … có một người tên Duyên

Ta ca tụng rồi chính ta bôi nhọ

Tình ta đẹp nhưng tính ta còn nít nhỏ

Nên lỗi lầm đã đục màu sông

Đốt… đuốc đi tìm trong làng văn thơ VN và cả thế giới nữa, chắc khó tìm thấy được một thi sĩ quá… thành thực dám “bôi lọ” thần tượng, dám công khai hối hận và dám “tạ lỗi” như cỡ Nguyễn Tất Nhiên. Đó là điểm dễ thương đặc biệt nhất của nhà thơ yểu mệnh này. Nhìn lại lịch sử nhân loại, đôi khi cho thấy chính hoàn cảnh cực đoan xảy cho bản thân là nguồn cảm hứng thúc đẩy cho nhiều người bất ngờ để lại cho hậu thế những sáng tác và công trình bất hủ. Giả sử, nếu Tư Mã Thiên không bị “nhục hình” (đến nỗi uất ức đóng cửa để chuyên tâm viết sách!) thì chắc gì tác phẩm Sử Ký lừng danh đã ra đời được. Hoặc nhạc sĩ Đặng Thế Phong bị bịnh nan y hết thuốc chữa, thấy tử thần lởn vởn bên cạnh mới gảy ra được điệu nhạc não nùng “Con Thuyền Không Bến“. Cũng như đệ nhứt thi hào Nguyễn Du được nguồn thi hứng ghê lắm khi tìm ra tri âm qua cuộc đời người kỹ nữ Thúy Kiều để sáng tác ra tác phẩm độc nhứt vô nhị Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều).  Xét cho cùng, Nguyễn Tất Nhiên hưởng được nguồn thi hứng tuyệt vời trong “5 năm si tình” từ 1967 đến 1972 với cuộc “tình si” cùng cô bạn học Bắc kỳ tên Duyên. Giả sử vào lứa tuổi 15 không gặp gỡ được một nhân vật nữ có cá tính “đặc biệt” như vậy, có lẽ Nguyễn Tất Nhiên cũng chỉ làm thơ hay cỡ như các bạn học đồng môn Hà Thu Thủy, Đinh Thiên Phương, Nguyễn Thị Hiền, Tưởng Dung, Nguyễn Thị Minh Thủy… và không chắc gì đã được chọn phổ nhạc tình học trò, để từ đó vang danh khắp nơi.

Lời kết

Nhưng câu hỏi cuối cùng được đặt ra: từ đâu Nguyễn Tất Nhiên lại có tánh lãng mạn đa tình quá vậy để dễ dàng “phóng bút” sáng tác thơ tình cho nhiều nhân vật nữ?.

Xét cho cùng, ngoài cá tính sẵn có, Nguyễn Tất Nhiên có 2 cơ hội “thuận tiện“:

a) tại trường trung học Ngô Quyền, nhờ Thầy Hiệu Trưởng Phạm Đức Bảo và ban Giám Đốc từng có những quyết định… táo bạo, dễ thương là mang “nhét ” một số nữ sinh vào lớp nam sinh (hoặc ngược lại!). Qua đó vào lúc 15 tuổi, Nguyễn Tất Nhiên và Duyên có cơ hội học chung với nhau trong lớp đệ Tứ vào niên khóa 1967/1968 để khởi đầu làm quen cho “5 năm si tình “. Nên nhớ, cũng nhờ quyết định cho nam nữ học chung lớp đã khiến nhiều cặp NQ quen nhau, rồi thương nhau để có khi thành bạn đời… mãi mãi. Như vậy, thực sự công lao của ban giám đốc NQ không phải… nhỏ đâu. Không có trường NQ với các nữ sinh “đặc biệt” như Bùi Thị Duyên, Hoàng Thị Kim Oanh, Nguyễn Thị Minh Thủy … thì khó lòng mà có những dòng thơ học trò Nguyễn Tất Nhiên và những cuộc tình học trò lãng mạn hơn “ba mươi năm chờ đợi“.

b) tại trường tiểu học Nguyễn Du năm 1957, lúc Nguyễn Tất Nhiên chỉ mới 5 tuổi đã được Cô giáo Hạnh đặc cách cho phép vào học lớp 1, mà người dì út (tên là Minh Nguyệt) đang theo học. Nguyễn Tất Nhiên sớm va chạm sinh hoạt nam nữ ngay từ đó (xem hình ảnh phía dưới). Biết đâu đúng như khoa học và nhà tâm lý học lừng danh Sigmund Freud (1856 – 1939) từng phân tích chứng minh rằng trong tiềm thức, con người đã bị ngoại cảnh chung quanh ảnh hưởng liên tục từ ngay lúc còn nằm trong bụng mẹ.

Chính vì vậy, cuối cùng vẫn là lời… cám ơn trường tiểu học Nguyễn Du và trường trung học Ngô Quyền của xứ bưởi Biên Hòa đã tạo nên môi trường thuận tiện để nảy nở được những vần thơ học trò vô cùng lãng mạn như Nguyễn Tất Nhiên từng sáng tác.

Người Xứ Bưởi / 2012

Học lớp 1 tại trường Nguyễn Du năm 1957. Nguyễn Tất Nhiên đứng thứ 2 (từ bên trái) của hàng thứ 2. Ảnh: ngo-quyen.org
Học lớp 1 tại trường Nguyễn Du năm 1957. Nguyễn Tất Nhiên đứng thứ 2 (từ bên trái) của hàng thứ 2. Ảnh: ngo-quyen.org

 [footer]